Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Thương tật, tử vong và lao tù: những cửa ải hóa giải được

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc02/10/202616 phút đọc3 lượt đọc
Thương tật, tử vong và lao tù: những cửa ải hóa giải được

Năm 1950, một chiếc rìu từ trên cây rơi xuống đúng đầu đứa em đang chơi dưới gốc, và tám chữ của em đã báo trước điều đó từ khi sáu tuổi. Cũng bằng cách đọc ấy, người ta hiểu vì sao một vĩ nhân như Mao Trạch Đông ra đi đúng năm 1976, năm mà đại vận và lưu niên trùng nhau từng chữ...


Năm 1950, một chiếc rìu từ trên cây rơi xuống đúng đầu đứa em đang chơi dưới gốc, và tám chữ của em đã báo trước điều đó từ khi sáu tuổi. Cũng bằng cách đọc ấy, người ta hiểu vì sao một vĩ nhân như Mao Trạch Đông ra đi đúng năm 1976, năm mà đại vận và lưu niên trùng nhau từng chữ...

Tám lá số của thương tật và tàn phế

Lá số thứ nhất là của một cô gái bại liệt hai chân, người luận số gặp vào tháng 4 năm 1986 và chủ ý ghi lại: năm Tân sửu, tháng Giáp ngọ, ngày Canh ngọ, giờ Canh thìn. Năm Quý mão 1963, vì sốt cao mà cô bị bại liệt hai chân. Nguyên nhân tàn phế nằm ở chỗ trong trụ, thổ sửu và thìn tàng thương quan, năm 1963 thái tuế là Quý mão, tiểu vận gặp Quý mùi, Quý thủy thương quan gặp đất trường sinh, đế vượng, tức khi đang suy lại bị cái vượng khắc. Đúng ý: thương quan nhiều thì chân tay, gân cốt bị thương hoặc tàn phế.

Lá số thứ hai là của con gái một vị lãnh đạo, nhờ xem vào tháng 8 năm 1990: năm Kỷ dậu, tháng Ất hợi, ngày Mậu tuất, giờ mão. Căn cứ tứ trụ, người luận số đoán năm 1971 cô bị tàn phế, và quả đúng như thế. Năm 1971 ứng với ý: thương quan gặp quan thì tật bệnh, tàn phế.

Lá số thứ ba: năm Đinh tị, tháng Nhâm tý, ngày Bính ngọ, giờ Kỷ hợi. Từ chính lá số này người luận số còn đoán thêm rằng người ấy nhất định mù một mắt, và đúng thế, bởi hỏa gặp thủy khắc thì mắt mờ.

Lá số thứ tư là của một người em, anh trai là công an nhờ xem vào tháng 9 năm 1986: năm Giáp thân, tháng Đinh sửu, ngày Bính tuất, giờ Nhâm thìn. Người luận số tính vận của người em rồi nói lúc sáu tuổi, tức năm 1950, đầu bị thương nặng. Hai anh em kinh ngạc: năm 1950 cha trèo cây chặt cành, em chơi dưới gốc, chiếc rìu rơi từ trên cao xuống đúng đầu em, chém thành một vết, may không chết. Trong trụ sát, kiêu tương sinh cho nhau nên tất có tai họa bị thương. Giáp mộc là đầu; năm 1950 là năm Canh dần, trụ năm Giáp thân xung khắc với thái tuế Canh dần, Canh kim khắc Giáp mộc nên đầu bị thương. Đúng ý: Giáp mộc bị khắc thì trên đầu bị thương.

Lá số thứ năm là của một em thiếu niên bị người bán thịt chém bị thương cánh tay trong một vụ cãi nhau vào tháng 9 năm 1986: năm Canh tuất, tháng Bính tuất, ngày Ất dậu, giờ tị. Thấy cảnh ấy, người luận số nghĩ rằng nhất định giờ sinh tháng đẻ của em có dấu hiệu bị thương, và năm nay vừa đến đúng lúc. Ít người tin, nhưng cuối cùng bà mẹ nói ra ngày sinh tháng đẻ. Xếp xong tứ trụ, quả nhiên Bính là thương quan, trên trụ quan lại có quan tinh, và năm 1986 vừa đúng là năm Bính dần, thương quan. Thương gặp thương lại gặp vượng địa thì tất có cái khổ vì bị thương; thương quan gặp quan là tai họa bất ngờ.

Lá số thứ sáu là của một người phụ nữ nhờ xem vào tháng 2 năm 1987: năm Mậu tý, tháng Đinh tị, ngày Đinh tị, giờ Quý mão. Người luận số nói năm 1983 nếu không ốm nặng thì cũng gặp tai nạn. Bà xác nhận năm 1983 bà sụt xuống hầm, suýt mất mạng. Trong trụ kiêu và thương đều gặp; năm 1983 là Quý hợi, đúng năm kiêu vượng. Ứng với ý: kiêu gặp kiêu vượng thì không ốm cũng bị thương.

Lá số thứ bảy là của bà Dương ở Xinhgapo, xem vào tháng 4 năm 1991: năm Kỷ hợi, tháng Quý dậu, ngày Nhâm tý, giờ Giáp thìn. Người luận số nói năm 1990 đầu bà bị thương nặng; bà xác nhận bị xe đâm vào đầu. Trong trụ Giáp mộc là đầu, năm 1990 là Canh ngọ, Canh kim khắc Giáp mộc nên đầu bị thương. Việc xảy ra vào năm ấy vì trụ ngày Nhâm tý là kình dương xung với tuế quân ngọ hỏa, đúng ý: kình dương xung khắc tuế quân là tai nạn rất nặng.

Lá số thứ tám là của một cấp dưới người bạn dẫn tới, xem vào tháng 3 năm 1992 ở Thâm Quyến: năm Mậu tý, tháng Bính thìn, ngày Mậu dần, giờ Bính thìn. Người luận số khẳng định năm 1980 hoặc 1989 nhất định bị thương hoặc gặp tai nạn. Anh phủ nhận, cho đến khi người bạn nhắc: năm 1989 anh từ khách sạn đi ra vội vã, đập đầu làm vỡ cửa kính, đầu và chân đều bị thương. Anh nhớ ra: máu me đầy đầu, xương ống chân lòi ra, bệnh viện phải khâu mười mấy mũi. Trong trụ hai kiêu cùng gặp, lại gặp đại vận thực thần Canh thân; thân vượng, kiêu vượng, kiêu sinh tỷ kiếp nên dẫn đến tai nạn. Năm 1989 gặp tai nạn vì vận thân, lưu niên tị cộng với ngày dần tạo thành tam hình.

Cái chết trong âm dương, và cửa ải tuế vận cùng gặp

Một đời sống chỉ có một cách, còn cái chết thì có trăm đường; nhưng giữa trăm đường ấy, có một con đường được nhìn thấy sớm nhất.

Chu Dịch nói rằng bắt đầu và kết thúc là lẽ để biết về cái sống và cái chết: bắt đầu là kết quả của âm dương giao hợp, kết thúc là kết quả của âm dương phân chia. Hoàng Đế Nội Kinh chỉ rõ: dương trùng lặp thì chết, âm trùng lặp cũng chết. Người ta chỉ có một kiểu sống nhưng có hàng trăm kiểu chết, chia ra chết vì bệnh và chết vì tai nạn. Cho dù chết bệnh hay chết vì tai nạn, y học hiện đại cũng nhận ra rằng sự sinh khắc của âm dương ngũ hành giữ vai trò quyết định.

Tứ trụ là kho chứa thông tin cả đời người. Tổ hợp của nó vừa như bảng điều khiển trình tự của một chương trình máy tính, vừa như một phương trình phản ứng hóa học. Kết hợp với đại vận, tiểu vận, lưu niên, nếu phản ứng cân bằng thì cơ thể mạnh khỏe, bình yên, vận khí bình thường. Phản ứng đi đến kết quả thuận thì là điều ta cần, là tốt; nếu phản ứng gây ra mất cân bằng hoặc bùng nổ thì là không thuận, là tai họa.

Dự đoán thời điểm một người ra đi vô cùng phức tạp: về nguyên nhân, mệnh học đã có vô số loại hình. Nhưng loại thường gặp nhất, dễ nắm vững nhất là tuế vận cùng gặp. Tuế vận cùng gặp nghĩa là can chi của lưu niên và của đại vận thống nhất với nhau: khi từng đại vận mười năm đi tới Nhâm thân, đúng năm ấy lưu niên cũng là Nhâm thân, tuế và vận trùng nhau thì gọi là cùng gặp. Vì vậy có câu: tuế vận cùng gặp, không chết mình thì cũng chết người thân.

Vì sao Mao Trạch Đông ra đi năm 1976

Mao Trạch Đông là bậc vĩ nhân của một thế hệ, học vấn uyên bác, thuộc nhiều kinh điển, tinh thông Chu Dịch, nghiên cứu sâu mệnh lý. Năm 1974, khi Thủ tướng đến Trường Sa, ông đứng ở cửa mời vào và nói một câu cửa miệng của người Hồ Nam: bảy mươi ba, tám mươi tư, Diêm Vương không mời cũng tự mình đi. Đó là điều người xưa từ mệnh học tổng kết ra: người ta đến bảy mươi ba, tám mươi tư tuổi là lúc gặp cửa ải giữa sống và chết, nên trong Tứ trụ của nhiều cụ già, đến tuổi ấy là mất.

Năm 1974 ông vừa tám mươi hai tuổi, đã qua cửa ải bảy mươi ba, và biết cửa ải tám mươi tư là bất lợi nên luôn nhắc đến câu ấy. Tứ trụ của ông, sinh ngày 26 tháng 12 năm 1893, tức ngày 19 tháng 11 âm lịch cùng năm, là: năm Quý tị, tháng Giáp tý, ngày Đinh dậu; không có giờ, nhưng không ảnh hưởng đến việc tính đại vận và lưu niên. Ông bắt đầu đại vận từ bảy tuổi; từ bảy mươi bảy đến tám mươi sáu tuổi đi đại vận Bính thìn. Năm 1976 là năm Bính thìn, can chi đại vận và lưu niên giống nhau, ứng với ý: tuế vận gặp nhau, mình không chết thì người thân cũng chết. Bởi vậy ông ra đi năm 1976 vì tuế vận cùng gặp, đúng vào năm tám mươi tư tuổi.

Bốn lá số tuế vận cùng gặp: vợ mất, mẹ còn sống, con mất, người không qua khỏi

Lá số thứ nhất là của một người làng do bạn dẫn đến, tháng 6 năm 1986: năm Kỷ mão, tháng Kỷ tị, ngày Kỷ dậu, giờ Giáp tý. Người luận số xem lưu niên, tuế vận rồi nói vợ ông mất năm 1985, ông đau buồn nhận là đúng. Năm bốn mươi hai tuổi ông đi đại vận Ất sửu, lưu niên cũng là Ất sửu, đúng tuế vận cùng gặp; không chết mình thì chết người thân, mà cung vợ là dậu nhập mộ ở sửu nên vợ mất.

Lá số thứ hai là của mẹ một người bạn cũ, năm 1986 bạn đến Tây An nhờ xem tuổi thọ cho mẹ: năm Đinh tị, tháng Tân hợi, ngày Bính tý, giờ Nhâm thìn. Bà từ năm mươi ba đến sáu mươi hai tuổi đi đại vận Đinh tị, gặp năm 1977 là Đinh tị, tức tuế vận cùng gặp. Bà mất cha mẹ sớm, chỉ có một em gái, con cái đều không nguy hiểm. Vận gặp tuế, tuế vận cùng đến lại cùng cương lĩnh tháng sinh; mà cương lĩnh tháng sinh không thể bị xung, đã xung là mười phần nguy hiểm chín. Vì thế người luận số nói với bạn rằng mẹ anh mất năm 1977. Người bạn cười: đã mấy người đều nói mẹ tôi mất năm 1977, tại sao lại thế? Mẹ tôi thật sự năm 1977 bị bệnh nặng, chết đi sống lại mấy lần, nhưng bà vẫn còn khỏe. Nay xin ông xem lại.

Người luận số nghe xong cũng lấy làm lạ, nghiên cứu mãi. Khi xem đến hoa cái trong tứ trụ, ông rút ra: mẹ anh nhất định là tín đồ Phật giáo, cả đời ăn chay niệm Phật, tích thiện, làm nhiều việc tốt. Người bạn xác nhận: những người khác cũng nói thế, mẹ tôi theo đạo Phật, suốt đời thắp hương cầu nguyện. Qua nghiên cứu, ông thấy người gặp tuế vận cùng đến phần lớn nếu mình không chết thì vợ, hoặc cha mẹ, con cái chết. Có số ít trường hợp không ai chết, và nguyên nhân chung là những người ấy đều là tín đồ của một đạo nào đó, suốt đời tích âm đức.

Tuế vận cùng gặp tuy là vận hung của mệnh, nhưng chỉ cần đoán được trước thì có thể hóa giải. Có người sau khi hóa giải không những bình an mà còn chuyển hung thành cát. Như một phụ nữ năm 1987 gặp tuế vận cùng đến, sau khi được hóa giải không những không chết mà còn được chuyển hộ khẩu về thành phố, tìm được chỗ làm, lại được phân nhà. Cho nên chỉ cần nắm vững mệnh vận, cửa ải sống chết có thể vượt qua; chỉ sợ không tin mệnh vận, cũng không tin hóa giải được, nên không chịu đề phòng.

Lá số thứ ba là của người con một cụ bà ở Thâm Quyến: năm Tân sửu, tháng Canh tý, ngày Ất dậu, giờ Ất dậu. Tháng 6 năm 1990, người luận số gặp một cụ bà tinh thần hoảng loạn, khóc thút thít. Có người cho biết con cụ là công an, tháng 5 năm 1987 đi công tác phá án bị tai nạn, từ đó cụ luôn tự trách đáng lẽ không nên để con đi, và nghĩ đến là khóc. Người luận số nói cụ không nên quá đau khổ, có lẽ tuổi thọ con cụ chỉ có thế, nếu không đi công tác thì ở nhà cũng không tránh được. Cụ không tin, bèn đưa ngày tháng sinh nhờ đoán. Từ hai mươi bốn đến ba mươi ba tuổi người ấy đi đại vận Đinh dậu; trong trụ vốn đã có hai chữ dậu, năm 1987 lại gặp thái tuế Đinh mão, tứ trụ cùng đại vận tạo thành ba dậu xung khắc một mão. Đúng là ba dậu xung khắc một mão, chưa từng thấy ai không chết. Người luận số nói rõ nguyên nhân cho cụ và mọi người cùng nghe, rồi cụ mới bình tâm lại và thôi không trách cơ quan nữa.

Lá số thứ tư là của một người phụ nữ vì vận khí không tốt mà tuổi đã cao vẫn chưa lấy chồng: năm Kỷ mão, tháng Tân mùi, ngày Nhâm tý, giờ Canh tuất. Tháng 5 năm 1988 cô đến hỏi chuyện hôn nhân. Người luận số xem tám chữ, đại vận và lưu niên, thấy khó mà qua được tháng 3 năm 1989, bèn nhắc cô thận trọng và bày cách hóa giải. Cô nhận ra mức nghiêm trọng, nhưng lại đến nhờ một người khác xem; người ấy bảo tuy không tốt nhưng không đến nỗi chết, nên cô về không làm theo cách đã được chỉ. Kết quả cô bị bệnh khối u, nằm viện và mất vào tháng 3 năm 1989. Từ bốn mươi tám đến năm mươi bảy tuổi cô đi đại vận Bính tý, tiểu vận Canh tý, tức kình dương lại trùng lặp với hung vận kình dương; trong trụ thân nhược, tài quan vượng, năm 1989 là Kỷ tị, đúng tài quan ở vượng địa khắc thân. Trong trụ tý, tuất cùng chầu hợi là lộc, gặp năm tị thì lộc bị xung phá. Tháng 3 năm 1989 là tháng Mậu thìn, kho của thủy, nên mất vào tháng ấy. Đúng ý: kình dương, kiêu gặp kình dương, kiêu; ba kình dương hội với hai kiêu thì chắc chắn chết, không còn nghi ngờ gì nữa.

Lao tù: cửa ải cũng có thể tránh, nếu chịu nghe

Có tám chữ báo trước một cánh cổng nhà giam, và có người đến tận cổng rồi vẫn quay lại được.

Có người trong Tứ trụ mang dấu hiệu lao tù. Điều đó thực ra không đáng sợ. Điều đáng sợ là sau khi dự đoán ra mà vẫn không nghe lời khuyên, cứ tiếp tục làm bậy, không sợ phạm pháp, nên khó tránh khỏi tai họa. Một khi đã đoán được họa lao tù, cũng như bệnh tật, nếu tìm cách hóa giải, đề phòng thì có thể vượt qua.

Lá số thứ nhất là của con trai ông Lưu, xem vào tháng giêng năm 1984: năm Bính ngọ, tháng Mậu tuất, ngày Nhâm tý, giờ Kỷ dậu. Người luận số nhắc rằng năm nay người con có họa tù ngục, nửa năm đầu phải tăng cường quản lý, giáo dục. Ông Lưu không tin: con tôi rất thật thà, chắc chắn không làm điều xấu. Người luận số nói trong tứ trụ của cháu có việc đó, chỉ là thời gian chưa đến, năm nay bại vận đến rất có thể xảy ra. Kết quả năm 1984 người con vì cướp giật mà bị tù. Năm mười bảy tuổi cậu đi đại vận Canh tý, vốn đã là kiêu thần gặp kình dương; năm 1984 là Giáp tý, thực thần gặp kình dương, ba kình dương tụ hội lại, còn thêm kiêu thần đoạt thực thần. Ứng với ý: kình dương gặp tuế quân thì họa sẽ ập đến, kiêu gặp thực thì không ốm cũng tai họa.

Lá số thứ hai là của em trai bà Đỗ, một giáo sư đại học, xem vào tháng 12 năm 1986: năm Mậu dần, tháng Ất sửu, ngày Kỷ mùi, giờ Giáp tuất. Người luận số xem tám chữ và tuế vận rồi nói năm 1984 người em có chuyện, năm 1985 vì chuyện tiền bạc mà bị giam. Bà Đỗ chưa đợi nói hết đã đứng dậy kêu đúng. Trong trụ quan sát hỗn tạp lại đi vận thương quan nên có họa lao tù.

Lá số thứ ba là của con trai bà Liễu, xem vào tháng 5 năm 1988: năm Mậu thân, tháng Quý hợi, ngày Nhâm thìn, giờ Giáp thìn. Người luận số nói năm nay con bà có họa lao tù, có thể bây giờ đang làm chuyện phạm pháp, cần quản lý chặt, nếu không dừng ngay thì tháng 9 năm nay sẽ bị bắt. Bà kể gần đây hành vi con rất khác thường, hỏi thì chỉ ậm ừ, vì không yên tâm mới đi xem. Người luận số dặn nhất định bắt cậu không được làm gì phạm pháp, bà cứ theo cách hóa giải đã chỉ, dù có đau một chút cũng còn hơn tai họa. Rất may cậu nghe lời mẹ, tháng nguy hiểm lại được quản lý chặt nên dần trở lại bình thường, tuy có bị đau nhẹ nhưng tránh được việc bị giam.

Lá số thứ tư là của ông Đài ở Miến Điện, nhờ xem tại Thái Lan vào tháng 5 năm 1991: năm Tân tị, tháng Canh dần, ngày Canh tý, giờ Canh thìn. Người luận số nói ông là người trải qua nhiều gập ghềnh, năm 1988 vì tiền bạc mà bị giam. Ông xác nhận: vì hối lộ mà bị tù. Từ bốn mươi sáu đến năm mươi lăm tuổi ông đi tài vận Ất dậu. Trong trụ tỷ kiếp nhiều, nên tỷ kiếp gặp tài thì tất có tai họa. Tám năm ngồi tù là vì nhật nguyên tý thủy nhập mộ hai lần.

Lá số thứ năm là của một người đến nhờ xem tại Thâm Quyến vào tháng 3 năm 1992: năm Bính tuất, tháng Đinh dậu, ngày Mậu tuất, giờ Bính thìn. Người luận số nói năm 1980 của anh rất gay go, vừa gặp tai họa vì chức vụ vừa bị ốm nặng, suýt mất chức. Vợ anh xác nhận đúng: vì việc của cha mà anh phải đi kiện khắp nơi, lại còn bị viêm ruột thừa nằm viện mổ, suýt nữa mất chức. Trong trụ hai kiêu như hai con hổ, từ hai mươi lăm đến ba mươi lăm tuổi anh đi đại vận thực thần Canh tý, năm 1980 lại là Canh thân gặp đất thực. Đúng ý: kiêu thần đoạt thực thì không ốm cũng tai họa.

Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc