Bài tổng quan
Trái táo, cơn bão và đường từ Vô Cực sang Thái Cực

Một trái táo nằm trong giỏ vẫn còn nguyên, cho đến ngày một chấm nhỏ bằng đầu kim bắt đầu thâm lại rồi lan ra. Cơn bão cũng khởi đi như thế, từ những luồng gió chưa ai gọi tên. Người xưa nhìn hai chuyện nhỏ ấy mà dựng nên cả một cách hiểu về Âm, Dương và cái gọi là Thái Cực...
Một chiếc bàn gỗ, hai cái bóng của buổi chiều đổ dài trên mặt bàn, và một người ngồi nhìn xem ánh sáng rút đi từng chút một. Người ấy chưa mở sách Dịch ra, nhưng đã đứng đúng chỗ mà người xưa đứng khi dựng nên bộ sách này: nhìn thật kỹ những điều xảy ra mỗi ngày trước mắt, rồi hỏi vì sao chúng cứ thế mà lặp lại.
Bộ Dịch thoát khỏi cuộc thiêu hủy kinh điển
Kinh Dịch được xem là bộ sách cổ nhất của người Trung Hoa, và có lẽ cổ nhất của cả loài người. Muốn tìm về cội nguồn văn hóa ấy thì phải đi qua cánh cửa này, bởi lịch sử Trung Hoa dù trải qua những cơn biến động dữ dội nhất, sợi chỉ nối với bộ sách vẫn chưa đứt.
Thời Tần Thủy Hoàng, từ năm 221 đến năm 207 trước Công nguyên, nước Trung Hoa lần đầu được gom về một mối. Nhà vua áp đặt một thứ văn tự chung cho toàn cõi, đốt sách vở kinh điển để dân chúng dễ bề sai khiến, thậm chí còn cho chôn sống các nho sĩ để dập tắt tiếng nói phản đối. Giữa cuộc tàn phá ấy, một bộ sách vẫn được chừa lại vì dùng được vào việc trị nước, chữa bệnh và bói toán. Nhờ cái lý do thực dụng đó mà kinh Dịch đi nguyên vẹn qua hơn hai nghìn năm để đến tay người đời nay.
Thuở xưa từng có ba bộ Dịch lưu hành. Đời Hạ có bộ Liên Sơn Dịch, lấy quẻ Bát Thuần Đoài, hình đầm nước, đặt đứng đầu sáu mươi bốn quẻ. Đời Thương có bộ Quy Tàng Dịch, đặt quẻ Bát Thuần Khôn, hình đất, lên trước hết. Đời Chu có bộ Chu Dịch, đặt quẻ Bát Thuần Kiền, hình trời, ở ngôi đầu. Hai bộ trước chữ viết còn chưa hoàn chỉnh, lại chỉ được khắc trên mai rùa, nên đã tàn lụn từ thời Tần. Bộ ta đang đọc đây chính là Chu Dịch, và người đời quen gọi gọn là Dịch.
Chữ Dịch: mặt trời và mặt trăng thay phiên nhau
Trong chữ Hán, chữ Dịch được ghép bằng hai hình: mặt trời bên trên và mặt trăng bên dưới. Đó là biểu tượng gốc của cả nền triết lý này, và nó đứng trên một điều ai cũng thấy được bằng mắt, chứ chưa cần đến lý thuyết nào.
Điều thứ nhất là hai vật ấy thay phiên nhau trên cùng một con đường. Ban ngày mặt trời lên cao, đến trưa thì đổ dần, rồi khuất sau chân trời; mặt trăng mọc lên đỡ lấy phần việc chiếu sáng của đêm. Hết vòng này sang vòng khác, không bên nào ở lại mãi.
Điều thứ hai là hai vật ấy trái ngược nhau về tính chất. Mặt trời to lớn, nguồn năng lượng gần như vô tận, mang ánh sáng, hơi ấm và sự sống đến cho muôn loài. Mặt trăng nhỏ hơn trái đất, lại ở gần trái đất hơn, kéo nước thủy triều lên xuống và còn tác động đến tế bào của sinh vật, như giới khoa học đã chứng minh. Ánh trăng nhợt nhạt vì chỉ là ánh sáng vay mượn của mặt trời. Dù vậy, cả hai cùng là động lực chính chi phối mọi nguồn sống và mọi đổi thay trên hành tinh này.
Từ đó rút ra một cách nhìn: cái đối nghịch không phải kẻ thù của nhau mà là cái bổ túc cho nhau, cái này làm nên cái kia. Thử nghĩ đến một tấm ảnh. Bức ảnh nào cũng có chỗ sáng và chỗ tối; bỏ hết bóng tối đi thì còn lại gì, mà bịt hết ánh sáng đi thì cũng chẳng còn gì.
Học Dịch là tập xét mọi việc của mình, từ lời nghĩ, lời nói đến việc làm, bằng con mắt tìm ra mặt đối lập của chúng. Làm được vậy thì bất cứ chuyện gì xảy ra cũng thấy rõ và kể lại được. Cuộc sống của ta vốn dựng trên hiện tượng biến đổi, nhưng trong biến đổi luôn có một cái không đổi. Hãy hình dung một nguồn sáng chiếu mãi không dứt và chẳng bao giờ có bóng tối: đó là hình ảnh của cái bất biến thường tồn. Rồi hình dung sáng và tối qua lại loạn xạ, không theo lệ nào: những thay đổi ấy chẳng nói lên được điều gì. Chỉ khi ánh sáng chiếu rồi tắt, tắt rồi lại chiếu, theo một chu kỳ không bao giờ đứt, thì ta mới có khái niệm rõ ràng về sáng và tối, và từ đó hiểu được sự phong phú đủ màu của đời sống.
Cái chu kỳ lặp đi lặp lại ấy chính là chỗ dựa để con người gom kinh nghiệm mà hành động. Nó cho ta sự biến đổi, kể cả quyền tự do thay đổi của chính mình, và đồng thời làm nền bất biến cho đời sống của ta cùng vạn vật.
Phân tích chữ Dịch còn thấy ba sắc thái ý nghĩa. Một là giản dị, tức dễ và đơn giản. Hai là biến dịch, tức đổi thay liên tục. Ba là bất dịch, tức thường tồn không đổi. Chữ này đọc theo âm Hán Việt còn là "dị", nghĩa là dễ, nhưng trong tiếng Hoa phổ thông vẫn đọc như chữ "dịch" trong "kinh Dịch".
Cái đơn giản ấy được Hệ từ thượng truyện nói thành lời:
Kiền dĩ dị tri, Khôn dĩ giản năng. Dị tắc dị tri, giản tắc dị tòng. Dị tri tắc hữu thân, dị tòng tắc hữu công. Hữu thân tắc khả cửu, hữu công tắc khả đại.
Ý câu này là: Kiền biết được nhờ cái dễ, Khôn làm được nhờ cái giản dị. Dễ thì người ta dễ hiểu, giản dị thì người ta dễ theo. Dễ hiểu thì có người thân cận, dễ theo thì nên việc. Có người thân cận thì bền lâu, nên việc thì làm được nghiệp lớn.
Từ Vô Cực sang Thái Cực: trái táo, cơn bão và một đời người
Dịch có một lối mở đầu rất ngắn gọn, được ghi trong Hệ từ:
Thái Cực sinh Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng, Tứ Tượng sinh Bát Quái.
Học Dịch là đi theo đúng trình tự ấy, từ hiểu Thái Cực, đến Lưỡng Nghi, đến Tứ Tượng, rồi Bát Quái. Nếu bỏ qua mà chỉ đọc lời đoán và nhìn hình các quẻ kép thì chẳng khác gì một người muốn hiểu cả khu rừng mà không bao giờ quan sát vùng đất xung quanh. Người ấy sẽ lạc từ cây này sang cây khác, không biết trên tầng lá dày kia là một bầu trời rộng, không biết đi một hướng thì tới bìa rừng, đi hướng khác thì vào sâu rừng rậm, và cuối cùng bỏ dở với chút hiểu biết mơ hồ.
Kinh Dịch lại không ghi nguồn gốc của Thái Cực. Từ xa xưa, triết lý Trung Hoa đã bàn chuyện này và đặt tên cho cái có trước là Vô Cực, còn gọi là Tiên Thiên, nghĩa là "cái có trước khi vũ trụ thành vũ trụ". Triết lý ấy coi đời sống của sinh vật và vũ trụ cùng chung một thể tính với Đạo, tiểu vũ trụ vận hành theo đại vũ trụ.
Khái niệm xa vời này có thể nắm bằng những ví dụ nhỏ. Cứ coi biến đổi là dấu hiệu của Vô Cực đang chuyển động. Không có biến đổi thì không có gì sinh ra từ Vô Cực; còn đã có biến đổi, hay chỉ cần có khả năng biến đổi, thì Thái Cực đã bắt đầu. Cũng vì lẽ đó mà phương Tây gọi Dịch là Sách Biến Dịch, Book of Changes.
Hãy nhìn một trái táo. Khi nó còn nguyên lành, đó là Vô Cực, nó chỉ là nó. Rồi vi khuẩn len vào, bắt đầu từ một chấm nhỏ bằng đầu cây kim, lan dần ra, lớn mãi cho đến khi cả trái táo thối rữa. Lúc vi khuẩn bắt đầu đục khoét là lúc trái táo bước sang giai đoạn Thái Cực.
Một cơn bão cũng hình thành như vậy. Ban đầu chỉ là những luồng gió nhẹ chưa ai gọi là bão, ấy là Vô Cực. Gió nhanh và mạnh dần, thôi thổi vơ vẩn mà bắt đầu xoáy tròn: đó là Thái Cực của cơn bão. Gió xoáy càng rõ, cuốn cành lá từ đất lên cao, hút cả không khí quanh vùng vào luồng xoáy. Đến lúc ấy người ta mới hô lên một tiếng "bão" và chạy đi tìm chỗ nấp. Cơn bão gầm rú như hàng chục toa tàu tốc hành lao cùng một lúc, nhà cửa, cây cối, đất đá bị tung đi bốn phía. Rồi đến một mức nào đó nó yếu dần, trở lại bình thường, cuối cùng tan hết không còn dấu vết. Thái Cực lại trở thành Vô Cực.
Cứ theo cách ấy mà xét mọi sự mọi vật, kể cả chính mình. Trước khi ta có mặt trên đời, đó là Vô Cực. Khi ta sinh ra là bắt đầu giai đoạn Thái Cực: nhỏ yếu lúc ban đầu, lớn mạnh dần đến tuổi tráng niên, rồi cái chết đến, thân xác mục rữa như những luồng gió đã tan, và ta trở về Vô Cực. Khi Vô Cực lại chuyển sang Thái Cực, một nguồn sống mới, một tiến trình hai mặt mới lại bắt đầu.
Âm, Dương và luật của một cặp
Trong lúc sinh vật còn tồn tại, một phần của nó biến đổi và một phần của nó không đổi. Trái táo cũng thế: chỗ nào chưa hư thì còn ăn được. Cơn bão cũng thế: phần không khí nào bị cuốn vào thì chuyển động dữ dội, phần còn lại không bị ảnh hưởng thì cứ yên đó. Phần không đổi được đặt tên là Âm, phần biến động là Dương.
Các triết gia Trung Hoa vẽ Dương bằng vòng tròn trắng và Âm bằng vòng tròn đen. Còn trong quẻ, Âm là vạch đứt, Dương là vạch liền. Điều cốt yếu của lối nhìn hai mặt này là: ở đâu có Dương thì ở đó có Âm, và ngược lại, chẳng bao giờ có cái này mà thiếu cái kia.
Đàn ông và đàn bà là ví dụ dễ thấy nhất. Đàn ông mạnh bạo như tính của lửa bốc lên, đàn bà mềm mỏng dịu hiền như tính của nước, nên bảo đàn ông thuộc Dương, đàn bà thuộc Âm. Rồi ta áp cách phân ấy cho mọi vật. Mọi hiện tượng có hai mặt đều dính với nhau bằng cặp yếu tố này. Lão Tử nói: một Âm đứng một mình thì không sinh ra được, một Dương đứng một mình thì không lớn lên được.
Trong điện cũng vậy, có cực nóng và cực nguội. Ánh sáng và điện năng sinh ra từ hai cực Âm và Dương; chỉ có một cực thì chẳng xảy ra điều gì. Một ví dụ khác dạy thêm cách đặt tên. Chỉ có một vật thì chưa gọi tên được, vì tên chỉ có nghĩa khi đem so với một vật khác. Hai vật đẩy nhau thì cùng một loại, hai vật hút nhau thì một bên Âm một bên Dương. Gọi bên nào là Âm bên nào là Dương cũng chẳng quan trọng, miễn có tên cho bên này và tên đối lại cho bên kia. Dịch gọi mối liên hệ ấy bằng một câu:
Nhất Âm nhất Dương chi vị Đạo.
Nghĩa là một Âm với một Dương gọi là Đạo.
Thử vẽ ra thành một trình tự: Vô Cực sinh Thái Cực. Nếu trong giai đoạn Thái Cực không có vận hành gì thì Âm và Dương nằm chung với nhau, như điện chứa trong bình ắc quy. Khi có vận hành thì Âm Dương tách ra, như khi nối hai cực của bình để thắp đèn, chạy máy hay nấu ăn. Thái Cực phân ra thì Lưỡng Nghi nảy sinh, rồi các bước phát triển dần đưa đến quẻ đơn và quẻ kép.
Ba tầng của Dịch: tượng, lý, số
Triết lý Âm Dương trong kinh Dịch có ba dạng.
Tầng đầu là tượng. Đó là các biểu tượng: vòng tròn Âm Dương, đồ Thái Cực, hay vạch đứt vạch liền. Chúng phối hợp với nhau thành tứ tượng, bát quái và sáu mươi bốn quẻ kép.
Tầng thứ hai là lý, tức những phán đoán chặt chẽ: lời ghi chép, lời đoán, những hình vẽ minh họa trong kinh. Phần này là công trình của bốn bậc hiền nhân: Phục Hy, Văn Vương, Chu Công và Khổng Tử.
Tầng thứ ba là số. Số ở đây dùng để định đoán việc sắp xảy ra bằng cách xét lại những gì đã xảy ra. Ngày nay, máy điện toán chạy bằng hệ nhị phân, hai yếu tố hệt như Âm và Dương, và chỉ bằng hai biểu tượng Có và Không mà làm được công thức cho mọi ngôn ngữ, phép tính, hình ảnh. Tương tự, Dịch cho rằng Âm và Dương mô tả được toàn thể thế giới của ta.
Ba dạng ấy chỉ là ba bộ phận của một tổng thể, muốn hiểu kinh Dịch thì phải đi qua cả ba.
Bốn cánh cửa của một tòa nhà
Trong lịch sử Trung Hoa, người học Dịch chia thành nhiều phái, mỗi phái chuyên về một dạng.
Phái Lý học, còn gọi là Nghĩa Lý phái, gồm các học giả đời Hán, từ năm 206 trước Công nguyên đến năm 219 sau Công nguyên. Phái này nghiên cứu và làm theo nghĩa lý trong kinh điển của bốn bậc sáng lập kể trên.
Phái Tượng Số là của các học giả đời Tống. Họ nghiên cứu bát quái, trùng quái, và tìm mối liên quan giữa tượng, số với triết học. Từ thời ấy, quái tượng trở thành đề tài khảo cứu riêng.
Phái Đạo Gia dùng triết lý và nguyên lý của Dịch để phát triển Thái Cực Quyền và các phép tham thiền. Trong Thái Cực Quyền, nội quái của quẻ kép biểu hiện trạng thái bên trong, ngoại quái biểu hiện cảnh bên ngoài của thân xác, rồi được diễn thành một chuỗi động tác liên tục, qua lại giữa hai yếu tố Âm và Dương. Trong tham thiền, quẻ kép chỉ cách khí vận chuyển trong cơ thể. Mạch nối này còn có thể thấy ở Thái cực đồ đi vào nội đan.
Phái Chiêm Bốc, hay phái dự đoán, dùng phương pháp loại suy để biết trước việc tương lai.
Các phái không đối nghịch nhau. Họ chỉ cùng muốn hiểu Dịch theo cách riêng của mình, như trong một tòa nhà rộng lớn, mỗi phái là một cánh cửa mở ra một chiều nhìn khác. Cánh cửa nào cũng dẫn vào một khung cảnh riêng, nhưng ai bước vào cũng vẫn đang ở trong cùng một tòa nhà kinh Dịch.
Nguồn: Vưu Sủng Hoa, Mai Hoa Dịch Tân Biên.
