Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Mai Hoa

Bài tổng quan

Tách cà phê nguội dần và cách tám quẻ ra đời

Bói Dịch - Mai Hoa20/10/202614 phút đọc1 lượt đọc
Tách cà phê nguội dần và cách tám quẻ ra đời

Một tách cà phê nóng đặt trên bàn, chỉ hai vạch là kể hết chuyện của nó: lúc đầu bốc khói, lúc sau nguội ngắt. Thêm một vạch nữa, cả một gia đình hiện ra, có cha, có mẹ, ba con trai và ba con gái. Từ vầng trăng, bốn mùa cho đến hộp đêm và khách sạn, mỗi quẻ đều đang nói về một thứ rất gần đời sống...

Pha một tách cà phê thật nóng rồi để đó. Lúc mới rót, nó bốc khói; một lát sau, nó chỉ còn ấm; thêm một lát nữa thì nguội ngắt. Muốn ghi lại hành trình này, người học Dịch không cần viết cả đoạn văn, mà chỉ cần vẽ hai vạch, một vạch cho lúc nóng, một vạch cho lúc nguội. Hai vạch ấy là cái hạt giống của cả hệ thống tám quẻ.

Hai vạch kể trọn một câu chuyện

Kinh Dịch dùng vạch liền và vạch đứt, xếp theo thứ tự từ dưới lên, để biểu thị Dương và Âm. Mỗi vạch ấy gọi là một hào. Hai vạch đủ để chỉ ra hai mặt đối lập của mọi tình huống: nếu gọi tối là Âm thì sáng là Dương; gọi lạnh là Âm thì nóng là Dương; cứ thế mà triển khai.

Chỉ cần điền hào Âm hào Dương vào một sự việc là có thể tóm được nó cùng các chi tiết. Lấy tách cà phê vừa nói: hào dưới chỉ lúc nóng, hào trên chỉ lúc nguội. Hào được đọc từ dưới lên trên, giống như đọc bảng chỉ đường trên xa lộ, nơi người lái xe phải biết lối nào ra trước, lối nào ra sau. Vạch liền Dương ở dưới rồi vạch đứt Âm ở trên là bức tranh của một thứ đi từ nóng sang lạnh.

Bốn tượng đi theo vầng trăng và bốn mùa

Khi hai hào chồng lên nhau, người ta có bốn tổ hợp, gọi là Tứ Tượng: Thái Âm, Thiếu Dương, Thái Dương và Thiếu Âm. Muốn thấy chúng chuyển từ cái này sang cái kia ra sao, hãy nhìn mặt trăng.

Vầng trăng nguyên vẹn giống như vòng Thái Cực. Rồi theo thời gian, hai phần Âm Dương tách ra: lúc trăng non và lúc trăng tròn trông như một Âm một Dương. Giữa chúng còn hai thời kỳ, đó là trăng mồng tám, đang từ Âm sang Dương, và trăng hăm ba, đang từ Dương sang Âm. Bốn thời kỳ ấy chính là bốn tượng: trăng non là Thái Âm, trăng mồng tám là Thiếu Dương, trăng tròn là Thái Dương, trăng hăm ba là Thiếu Âm.

Bốn mùa cũng xoay theo đúng khuôn ấy. Mùa đông là lúc lạnh nhất. Mùa xuân là đường từ lạnh sang ấm. Mùa hạ là lúc nóng nhất. Mùa thu là đường từ nóng sang lạnh. Nếu lấy hướng bắc làm Âm và hướng nam làm Dương thì các phương hướng cũng khớp vào bốn tượng một cách dễ dàng.

Cách dùng vạch hào còn đi xa hơn nữa, sang cả hình học. Đặt Dương theo một trục từ điểm gốc về phía bên phải, đặt Âm theo trục ngược lại về phía bên trái, thì từ đó hiện ra bốn khu vực, mỗi khu là một tượng. Thêm một hào thứ ba nữa thì hình trở thành khối ba chiều. Trong phép đếm nhị phân, Dương được coi là số 0 và Âm là số 1.

Đời người, nước nhà và một ngày cũng chạy theo vòng tròn ấy

Tứ Tượng không chỉ tả vầng trăng. Nó tả cả một đời người và một xã hội.

Thái Âm giống một người chưa có sự nghiệp gì, hoặc một đất nước còn mới bắt đầu vươn lên. Thiếu Dương là chàng thanh niên vừa bước vào đời, hay một quốc gia đang phấn đấu để khẳng định lực lượng và chỗ đứng. Thái Dương là nhà kinh doanh đang thành công, hay một cường quốc vững mạnh, nhưng phải luôn bỏ sức chăm lo, nếu không thì sẽ xuống dốc rất nhanh. Còn Thiếu Âm là người hay nước đã lên tới đỉnh và bắt đầu đi xuống, giống mùa thu trong năm, lúc con người phải lo tích trữ lương thực cho mùa đông sắp tới.

Từ đó có một lời khuyên thực tế. Người có chí cao không bao giờ tự nhủ rằng đời đẹp quá rồi, chẳng còn gì phải lo, kể cả khi đã thành công rực rỡ. Nói như thế thì chẳng bao lâu sẽ sa sút. Nên nói: "Tôi muốn làm khá hơn." Nhờ vậy người ấy luôn học thêm được điều mới, tự đặt mình ở điểm Thái Âm để đi lên.

Chỉ trong một ngày cũng có đủ bốn tượng. Lúc ngủ là Thái Âm. Sáng thức dậy làm việc là Thiếu Dương. Lúc dốc hết sức là Thái Dương. Chiều về nhà nghỉ, làm việc nhẹ hơn là Thiếu Âm. Rồi lại ngủ, để mở đầu một vòng mới.

Chữ cần nhớ nhất ở đây là quân bình. Có lúc ta cần Âm hơn, có lúc cần Dương hơn, và phải chọn cái này mà tránh cái kia. Dù thế, theo Dịch, Âm sinh Dương và Dương sinh Âm. Điều cần học là sự qua lại ấy, và khéo dùng nó.

Những ví dụ trên nghe đơn giản, thậm chí có người bảo trẻ con cũng hiểu. Nhưng sức hiểu của một đứa trẻ chưa chín như người lớn, và người cầu tiến sẽ thấy việc ứng dụng Dịch vào đời sống mình đem lại rất nhiều lợi ích. Một công dụng đáng kể là nuôi dưỡng cảm xúc. Nhà thơ Shelley nghe tiếng gió Tây thổi mạnh đến cùng mùa đông giá và kết bài thơ bằng câu: "Gió ơi, nếu đông đã tới thì xuân còn xa không?" Người nào hiểu quy luật Dịch cũng đọc được câu ấy như thế. Khi một biến cố mang đến buồn phiền, ta không như đứa bé mà nghĩ là hết, bởi trong biến đổi thì tình huống tệ hại đến mấy cũng không kéo dài mãi. Dịp mới sẽ lại tới, và ta phải nhanh tay nắm lấy.

Tám quẻ do một người nhìn trời, nhìn đất rồi nhìn lại mình

Những ý trên đều dựa trên nền Thái Cực đồ, nơi Thái Cực mọc ra từ Vô Cực, rồi chia thành Âm, Dương và Tứ Tượng. Muốn đọc được sáu mươi bốn quẻ kép thì phải hiểu nguồn gốc của bát quái trước.

Theo truyền thuyết, vua Phục Hy, sống khoảng từ năm 2953 đến năm 2838 trước Công nguyên, là người đặt ra bát quái. Ông ngước lên xem sự vận hành của trăng, sao và mặt trời, rồi cúi xuống xem núi sông cây cỏ, thời tiết, mùa màng, và ghi tất cả thành một thứ tự có hệ thống. Sau cùng, ông quay sang nghiên cứu chính bản thân mình. Từ đó ông tạo ra tám quẻ làm phương tiện thông cảm với thế giới tinh thần vô hình cũng như thế giới hữu hình. Nền tảng của Dịch là thành quả của một con người muốn tìm hiểu đến cùng, và người đời sau thấy nó quan trọng đến thế nào.

Từ Thái Cực đi đến tám quẻ có hai cách trình bày: một là vẽ thành hình chữ nhật, hai là vẽ thành sơ đồ phân nhánh. Thái Cực chia ra Lưỡng Nghi, Lưỡng Nghi chia ra Tứ Tượng, mỗi tượng lại được thêm một hào Âm hoặc Dương và cho ra tám tổ hợp ba vạch. Tám quẻ và tượng của chúng, theo thứ tự từ một đến tám, là: Kiền là Thiên, tức trời; Đoài là Trạch, tức ao đầm; Ly là Hỏa, tức lửa; Chấn là Lôi, tức sấm; Tốn là Phong, tức gió; Khảm là Thủy, tức nước; Cấn là Sơn, tức núi; Khôn là Địa, tức đất.

Bài vè giúp nhớ hình tám quẻ

Muốn nhớ hình thù từng quẻ, người xưa để lại một bài vè cổ, tám vế ghép thành bốn đôi:

Kiền tam liên, Khôn lục đoạn. Chấn ngưỡng vu, Cấn phúc uyển. Ly trung hư, Khảm trung mãn. Đoài thượng khuyết, Tốn hạ đoạn.

Nghĩa là: Kiền ba vạch liền; Khôn sáu nét đứt, tức ba vạch đứt; Chấn như cái chậu ngửa; Cấn như cái bát úp; Ly rỗng giữa; Khảm đầy giữa; Đoài khuyết phần trên; Tốn đứt phần dưới.

Ai quen với hệ nhị phân thì có thêm một lối khác, là đánh số tám quẻ từ 0 đến 7, dùng số 0 cho vạch Dương và số 1 cho vạch Âm, đọc từ vạch dưới lên vạch trên. Ví dụ, Đoài là hai vạch liền và một vạch đứt ở trên, đọc thành 001. Khảm là vạch đứt, vạch liền, vạch đứt, đọc thành 101.

Tiên Thiên và Hậu Thiên: hai cách xếp tám quẻ

Cách sắp xếp tám quẻ như trên được gọi là Tiên Thiên, tương truyền do Phục Hy tìm ra. Bên cạnh nó còn một cách thứ hai là Hậu Thiên, do Chu Văn Vương, người dựng nên nhà Chu, đặt ra. Cách thứ hai dựa vào một đoạn trong Thuyết quái truyện của kinh Dịch:

Đế xuất hồ Chấn, tề hồ Tốn, tương kiến hồ Ly, chí dịch hồ Khôn, duyệt ngôn hồ Đoài, chiến hồ Kiền, lao hồ Khảm, thành ngôn hồ Cấn.

Đoạn này từ xưa có nhiều cách hiểu. Có thể đọc theo thế này: đấng sáng tạo bắt đầu hiện ra ở Chấn, hướng đông, mùa xuân. Đến Tốn, đông nam, cuối xuân sang đầu hạ, mọi thứ chỉnh tề. Đến Ly, hướng nam, mùa hạ, vạn vật hiện rõ. Đến Khôn, tây nam, cuối hạ sang đầu thu, việc nuôi dưỡng đạt tới sức lực nhất. Đến Đoài, hướng tây, mùa thu, vạn vật vui vẻ. Đến Kiền, tây bắc, cuối thu sang đầu đông, có sự giao tranh. Đến Khảm, hướng bắc, mùa đông, là lúc mệt nhọc. Đến Cấn, đông bắc, cuối đông sang đầu xuân, là lúc hoàn tất một chu kỳ sinh trưởng.

Chu kỳ ấy bắt đầu từ hướng đông, mùa xuân của mỗi năm, và quay theo chiều kim đồng hồ. Đồ Hậu Thiên được dùng để giảng nguyên lý vận hành của vũ trụ, và lịch Trung Hoa được làm ra theo sự vận hành đó. Sự kết hợp giữa Tiên Thiên và Hậu Thiên rồi sẽ trở thành công cụ trong nghề dự đoán.

Ba vạch: đất, người, trời

Mỗi quẻ đơn có ba hào. Hai hào đầu là Âm và Dương, còn hào thứ ba tượng trưng cho sự sáng tạo của con người đứng giữa trời đất. Đàn ông và đàn bà sống với nhau thì sinh ra đứa con; Thiên và Địa, Âm và Dương cũng không phải những yếu tố đứng riêng mà phối hợp nhau để làm ra một cái mới, cái thứ ba. Ba yếu tố ấy gọi là Tam Tài.

Trong lược đồ Tam Tài, vòng tròn đen ở dưới cùng là địa, vòng nửa đen nửa trắng ở giữa là nhân, vòng tròn trắng ở trên là thiên. Khi nhìn quẻ kép sáu vạch, hai hào dưới chỉ đất, hai hào giữa chỉ người, hai hào trên chỉ trời.

Chỗ của hào giữa nói lên điều đáng nghĩ: con người luôn ở giữa mỗi quẻ, gắn khăng khít với Đạo. Nó cũng vẽ ra mối liên hệ trong xã hội. Xã hội đơn giản nhất là một gia đình có cha, mẹ và con cái. Kiền là cha, Khôn là mẹ, sáu quẻ còn lại là ba con trai và ba con gái.

Ba con trai ra đời khi Kiền kết hợp với Khôn và trao cho Khôn một trong ba hào Dương của mình. Hào Dương ấy nằm ở dưới thì sinh ra Chấn, trưởng nam; nằm ở giữa thì sinh ra Khảm, con trai thứ; nằm ở trên thì sinh ra Cấn, con trai út. Ba con gái thì ngược lại: Khôn kết hợp với Kiền và trao cho Kiền một trong ba hào Âm của mình. Hào Âm ở dưới sinh Tốn, trưởng nữ; ở giữa sinh Ly, con gái thứ; ở trên sinh Đoài, con gái út.

Mỗi quẻ mang một vẻ mùa, một vẻ người, một vẻ vật

Muốn gán ý nghĩa cho từng quẻ, có thể bắt đầu từ cách Hậu Thiên xếp quẻ theo mùa. Hãy xét xem trong từng mùa, điều gì thay đổi và ảnh hưởng đến đời sống cùng tâm trạng của ta, rồi lấy đó đặt nghĩa.

Kiền ứng với cuối thu đầu đông. Cây cối đã lớn suốt mùa hè, giờ lá rụng hết, nhựa rút về gốc. Nhìn cảnh ấy người ta nghĩ đến sức mạnh và sự tháo vát, nên mới gọi là Kiền. Lùi một bước tới đầu thu, nhà nông đã lo xong việc thu hoạch cả mùa hè, và niềm vui tràn đầy, khỏe khoắn dâng lên: đó là Đoài. Tiến một bước từ Kiền thì tới mùa đông, cảnh tượng thê lương chết chóc, nguy hiểm rình sẵn người thiếu chuẩn bị, như một người chạy xe máy hết xăng giữa đồng lạnh buốt, suýt chết cóng: đó là Khảm.

Những thuộc tính của tám quẻ mà người xưa gom lại được coi là có quan hệ bên trong với các bộ phận cơ thể, với bốn mùa, với giờ trong ngày. Chúng đã được kiểm chứng qua kinh nghiệm lâu đời. Đến nay, ta phải tìm ra những sự kiện hiện đại tương đương để soi sáng từng trường hợp. Chẳng hạn quẻ Khôn biểu hiện hoạt động như "làm việc", ứng với khoảng một đến năm giờ chiều. Các nhà khoa học nghiên cứu nhịp cơ thể hiện đại cũng nhận ra đó là quãng thời gian "tốt nhất để làm việc", ăn khớp với ghi nhận của Dịch.

Bảng dưới đây gom những điều cơ bản nhất của từng quẻ, gồm tượng, tính cách, loài vật, bộ phận cơ thể và thứ bậc trong gia đình.

Kiền: tượng trời; tính cứng mạnh; loài ngựa; ứng với đầu; là người cha.

Đoài: tượng ao đầm; tính vui vẻ; loài cừu; ứng với miệng; là con gái út.

Ly: tượng lửa; tính tráng lệ; loài chim trĩ; ứng với mắt; là con gái thứ.

Chấn: tượng sấm; tính kích động; loài rồng; ứng với chân; là con trai cả.

Tốn: tượng gió; tính thuận nhập; loài gà; ứng với đùi; là con gái cả.

Khảm: tượng nước; tính hãm hiểm; loài heo; ứng với tai; là con trai thứ.

Cấn: tượng núi; tính ngưng nghỉ; loài chó; ứng với cánh tay; là con trai út.

Khôn: tượng đất; tính nhu thuận; loài bò; ứng với bụng; là người mẹ.

Còn nhiều liên tưởng khác nữa. Kiền gợi vòng tròn, người cai trị, ngọc, kim loại, giá lạnh, nước đá, màu đỏ thẫm, sự nghiêm nghị, xương, xe hơi, nhà cao tầng, đồng hồ, máy móc to lớn, bánh xe răng cưa, nơi nghỉ mát. Đoài gợi nữ ca sĩ, nhân viên ngân hàng, hàng ăn uống, chim, hóa đơn, lưỡi kiếm, cà phê, nhà bếp, miệng và lưỡi, người vợ nhỏ. Ly gợi thầy giáo, nghệ sĩ, thư viện, mỹ viện, nhà thờ, truyền hình, súng, máy quay phim, hành quân, mặt trời, tia chớp, áo giáp, nón sắt, gươm giáo, rùa và cua, bụng to.

Chấn gợi màu xanh và vàng sậm, xa lộ, bạn trẻ, xướng ngôn viên, phát thanh, lá gan, điện thoại. Tốn gợi màu trắng, thứ dài, cao vút, sự tới lui, trán rộng, người đưa thư, người bán hàng, phi trường, bến cảng, máy điều hòa, quạt máy, du lịch, tóc thưa. Khảm gợi kênh rạch, dáng cúi xuống, bánh xe, đau tai, màu đỏ, mặt trăng, kẻ trộm, thủy thủ, thác nước, phòng nghỉ, quán rượu, hơi đốt, giấc ngủ, cái bút, nỗi lo buồn, chỗ hẹn. Cấn gợi đường mòn, đá nhỏ, cửa ngõ, trái cây, phu khuân vác, chuột, gia đình, khách sạn, nhà kho, tầng hai, cái cầu, thịt nói chung. Khôn gợi vải, toa xe lớn, đất đen, bà già, nông phu, làng xã, đồ xưa, đồ ăn rẻ, ấm nước lớn, chủ nhà.

Đừng bắt một quẻ giữ một nghĩa mãi

Những bảng này cần thuộc kỹ, nhưng thuộc để tự mình xem xét và phát triển thêm, chứ không phải để học vẹt. Con heo rừng, khi tấn công người, thường từ chỗ núp lao ra nhanh như chớp, nguy hiểm vô cùng, nên mang tượng Khảm. Quẻ Cấn gắn với con chó, loài vật nuôi trong nhà hàng nghìn năm nay. Có những thuộc tính thuộc về một ngành tri thức riêng mà phải nghiên cứu mới hiểu hết, như chuyện Chấn đi với gan. Phần lớn các mối liên hệ còn lại đều dựa trên sự suy xét hợp lý, tùy cách ta nhận thức. Càng học hỏi, càng chiêm nghiệm từ những hình tượng căn bản và các loại liên quan, ta càng mở rộng được hiểu biết.

Khi nghiên cứu phải sáng suốt, không bao giờ dùng một lời giải cố định cho mọi hoàn cảnh. Khách sạn hợp nghĩa với Cấn, vì đó là chỗ lữ khách ghé vào ăn, ngủ qua đêm lấy lại sức. Nhưng nếu đó là một khách sạn có hộp đêm giải trí thì lại liên quan đến Đoài, với hình tượng vui chơi thoải mái. Cùng một vật mà đổi hoàn cảnh là đổi quẻ.

Nguồn: Vưu Sủng Hoa, Mai Hoa Dịch Tân Biên.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Mai Hoa