Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Mai Hoa

Bài tổng quan

Sáu vạch của một quẻ: từ gót chân lên đến đỉnh đầu

Bói Dịch - Mai Hoa20/10/202614 phút đọc1 lượt đọc
Sáu vạch của một quẻ: từ gót chân lên đến đỉnh đầu

Hai người cùng làm một việc ba năm, một người thất bại hoàn toàn, một người thành công, và cả hai đều có lý khi nói về ba năm đã qua. Cũng sáu vạch của một quẻ, chỗ thì là các tầng lớp trong xã hội, chỗ thì là thân người từ gót lên đầu. Vì sao Dịch chọn đúng con số sáu...

Đếm từ dưới lên: vạch đầu tiên là người dân thường, vạch thứ hai là kẻ sĩ, vạch thứ năm là bậc thiên tử, còn vạch cao nhất lại là người hiền đứng ngoài ngai vàng. Cũng sáu vạch ấy, đặt lên thân người thì chạy từ gót chân đến đỉnh đầu, đặt lên gương mặt thì chạy từ cằm lên trán. Một quẻ Dịch không chỉ là hình vẽ, mà là một cái thang mà cả xã hội, cả thân thể và cả thời gian cùng leo lên.

Bốn bậc hiền nhân dựng nên một bộ kinh

Cấu trúc của kinh Dịch được tạo thành bởi bốn người, qua hàng nghìn năm. Người đầu tiên là Phục Hy, đặt ra quẻ kép. Văn Vương, vị vua mở đầu nhà Chu, giải thích nghĩa từng quẻ trong sáu mươi bốn quẻ bằng một đoạn ngắn, súc tích và chính xác, gọi là Thoán từ. Con trai ông là Chu Công viết thêm lời giải cho từng hào của mỗi quẻ, gọi là Hào từ. Sau cùng Khổng Tử nghiên cứu lâu dài rồi viết những lời bình tổng quát về triết lý và đặc điểm của các quẻ; phần ấy đời sau gọi là Truyện, hay Thập Dực, tức mười cánh.

Mỗi quẻ vì thế có ba lớp: tên quẻ cùng hình quẻ do Phục Hy đặt, Thoán từ của Văn Vương, và Hào từ của Chu Công, rồi còn có Truyện giải thích thêm. Lấy quẻ đầu tiên làm mẫu. Quẻ ấy tên là Bát Thuần Kiền, hình sáu vạch liền. Thoán từ chỉ có bốn chữ:

Kiền: nguyên, hanh, lợi, trinh.

Sáu hào từ và thêm một lời "dụng cửu" riêng của quẻ này đi như sau:

Sơ cửu: Tiềm long vật dụng.

Cửu nhị: Hiện long tại điền, lợi kiến đại nhân.

Cửu tam: Quân tử chung nhật kiền kiền, tịch dịch nhược, lệ, vô cữu.

Cửu tứ: Hoặc dược tại uyên, vô cữu.

Cửu ngũ: Phi long tại thiên, lợi kiến đại nhân.

Thượng cửu: Kháng long hữu hối.

Dụng cửu: Kiến quần long vô thủ, cát.

Người thầy của người học Dịch là đời sống

Trong lúc học, thầy của ta là cuộc sống và thiên nhiên. Người hiểu Dịch đến nơi thì không cần đến sách vở nữa. Mạnh Tử, người đệ tử xứng đáng bậc nhất của Khổng môn, chưa bao giờ bàn về kinh Dịch, nhưng hầu như toàn bộ tư tưởng triết học của ông đều lớn lên từ đó. Nhà thơ Shelley chưa từng học Dịch mà vẫn chạm được đến tinh thần của nó. Cả hai đều là những người hiểu Dịch thật.

Nếu ta biết cách bát quái và sáu mươi bốn quẻ nảy ra từ Thái Cực đồ, ta sẽ thấy ý nghĩa của quẻ đơn lẫn quẻ kép rõ ràng hơn. Ta đã thấy Tứ Tượng chạy qua các giai đoạn của vầng trăng và đời người. Mỗi tượng đứng riêng đã có sức giải thích, nhưng khi đặt vào một chu kỳ tuần hoàn thì phong phú gấp bội. Và ta đã thấy hai yếu tố Âm Dương sinh ra Tứ Tượng rồi Bát Quái, xòe ra như cành cây, như những sợi gân trên phiến lá. Cứ theo cách ấy mà đi tiếp, ta sẽ đến sáu mươi bốn quẻ.

Âm cộng Dương, nhân lên sáu lần

Trong toán học, có thể diễn đạt nguyên tắc ấy bằng phép nhân. Gọi Dương là b và Âm là a. Ta biết (b + a) nhân với (b + a) cho ra bốn số hạng: bb, ba, ab và aa. Bốn số hạng ấy chính là Tứ Tượng, tức bốn tổ hợp hai vạch. Có một điểm khác với đại số thông thường: trong đại số, ab và ba bằng nhau, nhưng với vạch Âm vạch Dương thì ab và ba là hai thứ khác nhau và phải để riêng, vì hào dưới cùng luôn là yếu tố đầu tiên.

Nhân bốn tượng ấy với (Âm + Dương) một lần nữa thì được tám tổ hợp, đó chính là bát quái. Nhân thêm nữa, đến lũy thừa sáu, thì được sáu mươi bốn quẻ. Phép khai triển cho thấy có bao nhiêu quẻ theo từng tỷ lệ Âm Dương giữa sáu hào: một quẻ toàn Âm, sáu quẻ năm Âm một Dương, mười lăm quẻ bốn Âm hai Dương, hai mươi quẻ ba Âm ba Dương, mười lăm quẻ hai Âm bốn Dương, sáu quẻ một Âm năm Dương, và một quẻ toàn Dương.

Nếu coi sáu mươi bốn quẻ là biểu tượng cho mọi sự vật trên đời thì ta thấy hai mươi phần trong sáu mươi bốn phần có tỷ lệ cân bằng ba Âm ba Dương. Cộng thêm những quẻ lệch nhẹ, hai Âm bốn Dương hoặc bốn Âm hai Dương, thì cả thảy năm mươi trên sáu mươi bốn phần gần với thế cân bằng. Những quẻ chênh lệch cực đoan chỉ chiếm một số rất ít.

Điều ấy giống hệt cuộc đời. Những lúc cực kỳ sung sướng hay cực kỳ đau khổ thì hiếm. Ta thấy cả sung sướng lẫn đau khổ đều không bao giờ trọn vẹn; gần như cả đời ta sống trong trạng thái quân bình, những cảm xúc phần nhiều chỉ vừa phải. Chính vì thế mà những tình cảm phức tạp, phong phú càng có ý nghĩa khi dâng lên cao độ hay rơi xuống thật thấp. Người làm thống kê sẽ nhận ra các quẻ phân bố theo một đường cong chuẩn, giống đường cong dùng để thống kê các loại biến động.

Sáu mươi bốn quẻ xếp thành nhóm chứ không xếp ngẫu nhiên

Biểu đồ phân bố cho thấy sáu mươi bốn quẻ rải thành từng nhóm. Thứ tự cổ truyền của chúng không chỉ là quẻ này nối đuôi quẻ kia, mà là sự phát triển dần từ quẻ trước sang quẻ sau. Một nhà thống kê sẽ tìm thấy những mối tương quan trong lược đồ đó và học thêm được nhiều điều. Còn người dùng Dịch trong đời sống hằng ngày thì dễ dàng phán đoán sự việc hơn.

Có thể thử một cách luyện nhỏ: một ngày tinh thần minh mẫn thì ghi vạch Âm, một ngày sức lực dồi dào thì ghi vạch Dương. Sáu ngày liền sẽ thành một quẻ, và cứ đọc quẻ ấy như sáu ngày của một tuần. Người ta cho rằng làm như vậy chưa đầy một năm thì trí thông minh đã rõ rệt, và tính hoạt bát cũng lên theo.

Vì sao quẻ cần đúng sáu vạch

Sáu mươi bốn quẻ kép là phần nòng cốt của kinh Dịch, và quẻ nào cũng có sáu hào. Người ta thường hỏi: quẻ đơn có ba hào, sao không dùng bốn, năm hay bảy hào mà lại dùng sáu? Câu hỏi này từng gây tranh cãi từ xưa, tốn bao công sức, chẳng khác những cuộc bàn luận thời Trung cổ xem có bao nhiêu thiên thần nhảy múa được trên đầu một mũi kim.

Muốn hiểu, hãy hỏi những câu tương tự. Vì sao một foot có mười hai inch? Vì sao một mét có một trăm centimét? Vì sao một giờ có sáu mươi phút? Vì sao một tuần lễ có bảy ngày mà không phải chín ngày? Câu trả lời duy nhất là kinh nghiệm cho thấy đó là cách tiện lợi nhất để đo lường trong đời sống. Kinh Dịch dùng sáu hào cũng vì lẽ ấy: sáu hào đủ giải quyết phần lớn việc hằng ngày, và ta được tự do dùng phương tiện nào tiện cho mình.

Cái tiện của hào hiện ra khi ta quan sát tuần trăng. Âm và Dương, hai vòng tròn đen trắng hay hai vạch đứt liền, đủ để nói trăng non hay trăng tròn. Nói bốn thời kỳ thì dùng Tứ Tượng. Muốn chi tiết hơn thì dùng bát quái ba hào, rồi trùng quái sáu hào. Một vòng tròn trong tâm có thể coi là mặt trời, vòng ngoài là trái đất để nghiên cứu các mùa. Cũng cùng lối ấy ta có thể khảo sát sự nghiệp của một người hay một quốc gia. Rõ ràng còn dùng được nhiều hơn sáu vạch: có người lấy bảy hào để xem diễn tiến của một tuần lễ. Sáu hào thì đủ cho hầu như mọi việc, nhưng đôi lúc dùng ít hơn hay nhiều hơn vẫn được.

Cái vòng bánh xe của sáu mươi bốn quẻ

Một vấn đề khác là thứ tự của sáu mươi bốn quẻ. Ta đã biết Phục Hy cùng các nhà Dịch học sau này xếp tám quẻ thành một chu kỳ trọn vẹn và dùng chu kỳ ấy một cách hợp lý. Vậy sáu mươi bốn quẻ phải xếp trong một chu kỳ ra sao để có ý nghĩa? Một cách là dùng phép lũy thừa sáu của (Âm + Dương). Nhưng đời nhà Chu, đại số có lẽ chưa đủ tinh vi; người xưa thay vào đó dùng một phương pháp trực quan rất khéo.

Trước hết, họ xếp tám quẻ theo thứ tự Phục Hy thành một vòng quanh một vòng tròn trung tâm, trong đó vòng trung tâm tượng trưng cho trái đất và hào dưới cùng của mỗi quẻ nằm sát vòng ấy nhất. Rồi họ lấy từng quẻ đơn đặt ra xa tâm, vẽ một vòng tròn quanh nó, rồi đặt cả tám quẻ đơn vây quanh vòng ấy. Khi đọc quẻ kép thì đọc quẻ đơn ở giữa trước, rồi tới một quẻ đơn ở vòng ngoài; làm vậy với một quẻ đơn ở giữa thì được tám quẻ kép. Làm tiếp với tám quẻ đơn kế tiếp thì được cả sáu mươi bốn. Các quẻ kép ấy sau đó được xếp lại thành hình bánh xe.

Từ mô hình này người xưa tìm ra một cách khai triển rất có thứ tự. Xét kỹ sẽ thấy trong mỗi quẻ kép, nội quái, tức quẻ đơn nằm dưới, luôn giống quẻ đơn ở hàng ngang của nó, còn ngoại quái, tức quẻ đơn nằm trên, luôn giống quẻ đơn ở hàng dọc. Bọc hình bánh xe ngoài bảng ô vuông ấy thì có một mô hình gọi là Phương Viên Đồ. Nhìn vào đó thấy nó dày đặc dữ liệu như bảng báo giờ tàu ở một nhà ga. Mỗi quẻ kép liền với nhiều quẻ khác nên chứa một lượng thông tin rất lớn.

Từ một khái niệm đơn giản như Vô Cực, Thái Cực, Âm và Dương, chỉ vài bước đã thành những trạng thái phức tạp. Đời người cũng vậy: mọi hành động bắt đầu từ những quan hệ đơn giản giữa người này với người khác, rồi có lúc ta ngạc nhiên trước sự phong phú và phức tạp dường như không có giới hạn của xã hội loài người.

Tên gọi và thứ tự của sáu hào

Sáu hào trong quẻ kép được đọc từ dưới lên, như muôn vật đứng trên mặt đất mà vươn lên trời. Hào dưới cùng gọi là hào sơ, rồi hào nhị, hào tam, hào tứ, hào ngũ, và trên hết là hào thượng. Mỗi hào có một lời giải thích riêng gọi là hào từ.

Số lẻ chín, gọi là cửu, dùng cho tính Dương của hào, số chẵn sáu, gọi là lục, dùng cho tính Âm. Vì thế hào Dương ở vị trí đầu gọi là sơ cửu, hào Âm ở vị trí đầu gọi là sơ lục, và cứ thế lên đến thượng cửu hoặc thượng lục.

Hào sơ và hào nhị là giai đoạn khởi đầu, hay điềm báo của một sự kiện, một hiện tượng. Hào ngũ và hào thượng là chỗ kết thúc và hoàn thành. Nội quái nói về quá khứ, ngoại quái nói về tương lai, và cả hai kết hợp nói về hiện tại.

Quá khứ, hiện tại, tương lai và cách ta cảm thấy chúng

Ba khái niệm thời gian ấy rất phức tạp và bí ẩn. Trong đời thường ta không thật sự cảm thấy quá khứ hay tương lai; ta chỉ cảm thấy một hiện tại tiếp diễn không đầu không cuối. Thế nhưng thiếu quá khứ và tương lai thì ta không hòa hợp được với thế giới mình đang sống.

Dễ thấy quá khứ ảnh hưởng tương lai, còn tương lai thay đổi quá khứ thì sao? Hai người cùng làm một việc có hạn ba năm, mỗi người một nơi. Sau ba năm, một người thất bại hoàn toàn, một người thành công. Người thất bại nói: ba năm vừa rồi chỉ toi công. Người kia nói: tôi chưa bao giờ có kết quả tốt đẹp như ba năm vừa qua. Cùng một quãng thời gian mà ý nghĩa khác hẳn, vì chính tương lai quyết định ý nghĩa của quá khứ. Cũng thế, ta trải qua một việc rồi kết luận: hồi đó mình thật ngốc, hoặc hồi đó mình làm vậy hóa hay. Nhưng khi đang làm, ta chỉ có thể cố hết sức mà chưa biết việc ấy rồi sẽ mang ý nghĩa gì.

Sáu bậc người trên sáu vạch

Vị trí của một hào cũng nói lên thứ bậc và vai trò của con người trong xã hội. Hào sơ là quần chúng, tức thứ dân. Hào nhị là giới trí thức, tức kẻ sĩ; ngày nay có thể kể thêm nhà kỹ thuật, nhà khoa học, người thợ lành nghề. Hào tam là giới quan chức, tức đại phu; nay là viên chức nhà nước, chính trị gia, người cầm quyền địa phương. Hào tứ là quan chức cao cấp, tức công khanh; nay là bộ trưởng, cố vấn của tổng thống. Hào ngũ là vua, tức thiên tử; nay là chủ tịch nước, tổng thống, thủ tướng, lãnh tụ. Hào thượng là người tài đức siêu tuyệt, tức bậc hiền nhân; nay là những nhà bác học có kiến thức rộng rãi và đóng góp rất nhiều cho xã hội bằng tri thức ấy.

Cách định vị trí sáu hào như thế được cho là đã có từ trước, có lẽ ngay từ đời nhà Hạ.

Trong những thứ bậc ấy không có thần thánh, chỉ có con người. Còn một điểm đáng chú ý nữa: người cao quý nhất không phải ông vua nắm quyền lực, mà là người biết dùng tài năng để đóng góp nhiều nhất cho đời sống xã hội và văn hóa, tức bậc hiền nhân. Một người may mắn sinh ra đã có thể nối ngôi vua dù thiếu phẩm chất của con người. Một vị vua hiền đức, biết lo cho dân cho nước thì vô cùng quý báu. Trong lịch sử, con vua thường lại làm vua; nhưng lùi về thời rất xa thì "vua" hay "thiên tử" được chọn theo tiêu chuẩn tài đức. Ngay trong thời nay, tuy may mắn và gen di truyền tốt quyết định phần lớn đời sống con người, vẫn có những người tự mình dựng nên thành công nhờ tài năng và ý chí tự tu tự luyện.

Sáu hào trên thân thể và gương mặt

Đem sáu hào đặt lên thân người, ta có thể phân thế này. Hào sơ, còn gọi là hào nhất, nằm trong quãng từ gót chân đến giữa cẳng chân. Hào nhị chạy từ giữa cẳng chân lên gần bẹn. Hào tam từ bẹn đến thắt lưng. Hào tứ và hào ngũ chiếm quãng từ thắt lưng lên đến cần cổ. Hào thượng từ cổ lên đỉnh đầu.

Đặt sáu hào lên gương mặt thì hào sơ ở cằm, hào nhị trên hai gò má, hào tam trên mũi, hào tứ ở tai, hào ngũ ở đôi mắt, hào thượng ở trán.

Thật đáng ngạc nhiên khi Dịch học lại cho ra những kiến giải như vậy về thân thể và gương mặt. Chưa cần đi vào từng chi tiết cũng thấy con người và tự nhiên hòa hợp tuyệt hảo từ cái nhỏ nhất đến toàn thể. Khi nghiên cứu trật tự ấy, ta sẽ thấy được những điều cốt lõi trong sự vận hành của cơ thể và trí não. Thử tưởng tượng đầu ta ở dưới đất, chân dốc ngược lên không: ta làm được trò trống gì?

Nguồn: Vưu Sủng Hoa, Mai Hoa Dịch Tân Biên.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Mai Hoa