Bài tổng quan
Thủy Lôi Truân: mây đã kéo, sấm đã động mà mưa chưa tới
Trên trời có mây có sấm nhưng chưa một giọt mưa, mọi thứ còn rối như sợi tơ chưa vào khung cửi. Người cưỡi ngựa dùng dằng giữa đường chưa biết kẻ đến là giặc hay là người cầu thân... Gặp lúc này, tiến hay đứng lại mới là khôn?
Mục lục · 9 phần
- 01Truân là buổi đầu rối ren của vạn vật
- 02Sinh tháng Sáu là đắc cách
- 03Bức tranh chung: tiến thoái lưỡng nan, nhẫn nại là hơn cả
- 04Hào sơ cửu: dùng dằng, nhưng lợi ở giữ điều chính
- 05Hào lục nhị: cưỡi ngựa dùng dằng, chẳng phải giặc mà là người cầu thân
- 06Hào lục tam: đuổi hươu không người dẫn đường
- 07Hào lục tứ: bỏ hào năm xuống tìm hào một
- 08Hào cửu ngũ: ân huệ không ban khắp, chỉnh việc nhỏ trước
- 09Hào thượng lục: cưỡi ngựa dùng dằng, khóc ra máu
Truân là buổi đầu rối ren của vạn vật
Quẻ số ba là Thủy Lôi Truân, được xếp vào quẻ tốt, tiết khí thuộc tháng Sáu. Truân nghĩa là nan, tức khó khăn, nhưng là cái khó của buổi mở đầu, về sau vẫn có cơ hội. Chữ Truân còn mang nghĩa đầy đúc: âm dương vừa giao hòa, vạn vật mới sinh sôi nảy nở, đầy khắp mà chưa thành hình ổn định. Lúc ấy chưa có gì hanh thông cả, nên còn khốn khó, rối ren, gian truân.
Quẻ ngoại là Khảm, tượng mây, quẻ nội là Chấn, tượng sấm. Trên trời có mây có sấm nhưng chưa có mưa, tức là cơ trời đang vận động mà chưa ngã ngũ. Người thức thời biết rằng đã có mây có sấm thì sẽ có mưa, nghĩa là sẽ có cơ hội.
Người quân tử xem tượng này mà lo sửa sang việc chính trị, giống như người thợ dệt phải phân ra từng sợi tơ, sắp xếp đâu vào đấy trên khung cửi. Buổi truân nạn đòi hỏi người giỏi tổ chức, giỏi sắp xếp việc quốc gia, việc xã hội, vì thiên hạ đang mong chờ. Ai gặp quẻ này phải ý thức được sứ mệnh ấy.
Sinh tháng Sáu là đắc cách
Bảng Hoa Giáp hợp quẻ đặt quẻ Truân vào các tuổi Giáp và Nhâm, ứng với các chi Dần, Thân, Thìn, Tuất. Nếu lại sinh vào tháng Sáu thì là cách công danh phú quý, đường sự nghiệp đỡ vất vả hơn. Sinh từ tháng Hai đến tháng Tám cũng được hưởng phúc dày, tương đối thuận lợi, đời có nhiều cơ may. Sinh vào những tháng khác thì kém hơn.
Quẻ Truân đứng ngay sau hai quẻ Càn và Khôn: trời đất đã mở thì vạn vật mới sinh ra, vận trời mới dựng, mọi thứ còn hỗn mang mờ tối, nên mới gọi là Truân. Quẻ ngoại là Khảm, Khảm là hiểm. Quẻ nội là Chấn, Chấn là động. Trong lúc hiểm mà còn hành động được thì phải là người dám mạo hiểm, có chí và có tài. Nhưng ở thời Truân, tài đức vẫn chưa đủ, còn phải nhờ bạn hiền tài giúp sức.
Bức tranh chung: tiến thoái lưỡng nan, nhẫn nại là hơn cả
Quẻ Truân chỉ thời vận đang lúc khó khăn, nhiều gian nan trở ngại, tiến thoái đều khó. Nhẫn nại vượt qua là tốt hơn cả. Không có cơ hội tốt để thi thố tài năng, sự nghiệp khó thành, tìm việc mới khó, giữ việc cũ thì hơn.
Tài vận không đến, kinh doanh thua lỗ, cố giữ lấy vốn cũ. Đi xa bất lợi. Thi cử khó đỗ. Bệnh tật kéo dài, dễ ốm nặng. Kiện tụng thiệt thòi, hòa ngay từ đầu thì hơn. Tình yêu khó thành, bị nhiều lời gièm pha. Hôn nhân khó thành.
Hào sơ cửu: dùng dằng, nhưng lợi ở giữ điều chính
Dùng dằng, chưa tiến được, nên lợi ở chỗ giữ điều chính đáng, và lợi ở việc dựng nên những đơn vị nhỏ thuộc quyền đơn vị lớn (ngày xưa là các nước chư hầu). Thời buổi khó khăn, tiến thì làm việc dân việc nước, lui thì giữ phận mình.
Chữ dùng dằng ở đây là do hào dương có chí nhưng địa vị còn thấp, bị bốn hào âm phía trên chèn ép, lại chưa đủ tài, nên phải thu thập bạn bè, xây dựng đơn vị nhỏ trước. Muốn tiến lên mà chưa được, nên đứng quanh quẩn chứ không phải do dự vô cớ. Trong sử nước ta có chuyện vua Quang Trung bắt được Nguyễn Hoàng Đức, người của Gia Long, mà cho nằm ngủ cùng giường với mình: đó chính là tượng của hào một quẻ Truân.
Mệnh hợp cách: xứng đáng ngôi vị lớn, chỉ ngại không gặp thời thái bình nên hay bị kẹt vào nơi hiểm trở. Khá thành đạt; người có tài đức biết đưa mọi việc vào quy củ, tránh được nguy hiểm lúc rối ren; không có tài thì dễ rơi vào nguy. Mệnh không hợp cách: nên giữ mình làm điều chính thì cũng có uy quyền, được trọng vọng, nhưng khi giải quyết công việc thường ngờ vực, chậm chạp, thiếu quả quyết.
Vận hạn: quan chức được lựa chọn, tu nghiệp tiến bộ, có cơ hội phát triển; học trò gặp quý nhân, làm sáng tỏ nghĩa lý; người thường nên giữ phận, nghĩ kỹ, cẩn thận lời nói, đừng hành động càn mà rắc rối, bất lợi; nữ mệnh tốt, gây dựng nếp nhà hưng thịnh.
Hào lục nhị: cưỡi ngựa dùng dằng, chẳng phải giặc mà là người cầu thân
Khốn đốn lắm, khó tiến lắm, cưỡi ngựa mà dùng dằng. Kẻ đến kia không phải giặc cướp mà là người muốn kết thân (kết hôn) với mình, chính là hào một ở ngay bên dưới. Đây là hào chính trung nhưng ở giữa thời Truân nên khó xử, phải biết nương cậy. Trong tình thế này tiến lên thì sợ phiền lụy, nhưng vẫn có đường tốt để theo.
Hào hai được cả chính lẫn trung, lại có hào năm chính ứng với mình cũng chính trung, rất xứng đáng. Nhưng ngặt vì hào một dương mạnh mẽ đứng sát bên cũng cầu thân. Trong thời Truân càng khó xử, nên mới dùng dằng, tiến lui đều khó. Cần biết đó không phải giặc cướp mà là người cầu thân. Muốn thoát khỏi tình trạng ấy chỉ có cách giữ gìn chính đáng, kiên tâm chờ đợi, mười năm là đúng (con số chỉ thời gian dài). Tuy kể chuyện nam nữ, nhưng suy ra tình bạn bè, thầy trò cũng có thể như vậy.
Mệnh hợp cách: trước cô đơn, sau không; trước khốn đốn, sau không. Trong xóm làng là bậc hiền sĩ; nơi hang núi vẫn giữ được tiết nghĩa của bậc nữ lưu, của kẻ sĩ nghèo. Mệnh không hợp cách: hay quên người gần, nhớ người xa, tránh người thân, tin người sơ, có giữ được nơi tín thì cũng bị kẻ dưới nghi ngờ.
Vận hạn: quan chức được sắp xếp lên hạng, đề bạt lên chức; học trò tiến thủ gian nan; người thường chuyện hôn nhân tuy dùng dằng rồi cũng vui vẻ. Người số xấu gặp hào này thì dây dưa liên can kiện tụng, đường đời trở ngại, tiến lui truân chuyên.
Hào lục tam: đuổi hươu không người dẫn đường
Đuổi hươu mà không có người dẫn đường thì chỉ lạc vào giữa rừng. Người quân tử biết thời cơ ấy, chi bằng bỏ đi, nếu cứ tiến nữa sẽ hối hận. Đây là hào bất chính, bất trung. Lời khuyên: đừng đi liều, kẻo rước lấy khổ.
Hào ba là âm ở ngôi dương, vừa không chính vừa không trung, tính chất đã không tốt, mà ở thời Truân hào trên có chính ứng cũng là âm nên chẳng giúp được gì. Vậy mà cứ muốn làm càn thì chẳng khác nào người ham đuổi hươu mà không có thợ săn giúp, chỉ vào sâu trong rừng mà thôi. Bỏ đi thì hơn.
Mệnh hợp cách: biết thời cơ, cố thủ, liệu chiều mà xếp việc giữ yên, để tránh cơn hiểm nghèo. Mệnh không hợp cách: dễ phiêu lưu, mạo hiểm. Vận hạn: quan chức bị hạch hỏi, điều tra vì tham nhũng; học trò bị đình đốn, bôi nhọ; người thường bị tai ương, giam cầm. Giữ yên phận là hơn.
Hào lục tứ: bỏ hào năm xuống tìm hào một
Hào âm nhu ở ngôi âm, đắc chính, như người hiền mà kém tài. Cưỡi ngựa dùng dằng, vì không lên được với hào năm. Quay xuống cầu kết thân với hào một dương thì tốt, đi đến đâu cũng không gì là không lợi. Đi cầu người hiền tài để ra tay cứu buổi gian truân thì được hài lòng.
Hào bốn là âm nhu đắc chính, tính chất hiền nhưng tài kém mà gặp thời Truân nên không thể chỉ cậy sức mình tiến tới được. Tuy thân cận hào năm, nhưng hào năm đã chính ứng với hào hai rồi. Muốn nhờ cậy mà sợ hào năm không cần dùng đến, nên mới dùng dằng. Hào bốn nếu sáng trí, biết mình biết người thì chớ nên cầu hào năm mà quay xuống cầu hào một, vì hào một vừa là dương cương, tính chất hiền tài, vừa là chính ứng, tất sẽ tâm đầu ý hợp, cùng gánh vác việc đời, làm việc gì cũng không bất lợi.
Mệnh hợp cách: người hiền tài gặp thủ trưởng sáng suốt, được vinh thăng; không phải cầu cạnh ai mà người ta tìm đến mình. Mệnh nữ: chồng sang con quý. Mệnh không hợp cách: phải ly hương lập nghiệp; vì tính nhu nhược nên dù gặp quý nhân cũng chẳng làm nên công trạng gì. Vận hạn: quan chức được thăng thưởng; học trò có cơ thành đạt, dịp may tự nhiên đến; người thường khẩn thiết hợp tác, mưu việc toại ý, bạn bè kết giao giúp đỡ.
Hào cửu ngũ: ân huệ không ban khắp, chỉnh việc nhỏ trước
Thời truân, đến ân huệ cũng bị vướng, không làm nổi dù đang ở ngôi cao. Chỉnh đốn việc nhỏ thì tốt, chỉnh đốn việc lớn thì xấu. Đây là hào chính trung, ngôi chí tôn, nhưng đứng giữa thời Truân và giữa quẻ Khảm. Có đức cũng khó xem xét hết kẻ dưới, sự nghiệp không phát triển được.
Hào năm dương vừa chính vừa trung, ở địa vị chí tôn, đáng lẽ tốt, nhưng giữa thời Truân lại ở giữa quẻ ngoại Khảm là hiểm nên chỉ tốt vừa phải. Hào hai tuy ứng với nó nhưng là âm nhu, không giúp được nhiều. Thêm hào một dương ở dưới, tượng người có tài đức, uy quyền gần như lấn át hào năm, trong khi ân trạch của hào năm không ban khắp nơi được. Cho nên hào năm phải lần lần chỉnh đốn việc nhỏ trước, đừng vội làm việc lớn mà hỏng. Có tài đức, có địa vị nhưng cũng phải đợi có thế, có thời.
Đối chiếu sử nước ta, thân phận các vua Lê thời Lê Trịnh ứng với hào này. Lê Cảnh Hưng là một ông vua hiền mà phải ngồi lặng bốn mươi năm dưới áp lực của chúa Trịnh. Đến Lê Chiêu Thống muốn ức chế họ Trịnh để phục hồi nhà Lê, nhưng không gặp thời, không có thế, đến nỗi nước mất nhà tan: đó là việc lớn không xong.
Mệnh hợp cách: dù có lòng muốn ban ơn cứu giúp người cũng chỉ đạt kết quả nhỏ. Mệnh không hợp cách: chỉ thích làm lớn, lập công to, càng thêm tai họa. Vận hạn cho mọi giới: không nên nóng nảy làm liều, phải suy xét dần thì mới tránh được tai nạn.
Hào thượng lục: cưỡi ngựa dùng dằng, khóc ra máu
Cưỡi ngựa dùng dằng như khóc ra máu, nước mắt chảy đầm đìa. Tài hèn lại nhu nhược. Hào này ở trên hết quẻ Truân, phản ánh thời Truân đã đến cực điểm. Tuy có hào ba chính ứng nhưng cũng là âm nhu cả, không ứng viện cho nhau được. Ở thời Truân nạn mà không thầy không bạn, hào âm lại tài hèn nhu nhược, ở địa vị khôn cùng cực, nên lấy tượng người cưỡi ngựa không biết rẽ lối nào, khóc chảy máu mắt đầm đìa, không mong gì lâu dài nữa. Tiến lên thì chẳng biết đi đâu, lo sợ vô cùng.
Mệnh hợp cách: trước tiến sau lùi, chí chẳng kiên trì, thông kim bác cổ mà chẳng toại công danh; cuộc sống buồn bực, già khổ. Mệnh không hợp cách: thân thích bị hình thương, hôn nhân xung khắc, đang vinh liền thấy nhục. Vận hạn: quan chức phòng bị gièm pha; học trò phòng bị hạ nhục; người thường phòng tổn thiệt, xấu nữa thì tổn thọ, có tang cha mẹ.
Nguồn: Trung tâm Đào tạo Phong thủy sư, Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.
