Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Thai nguyên, cung mệnh và quý nhân bù chỗ thiếu của lá số

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc01/10/202612 phút đọc2 lượt đọc
Thai nguyên, cung mệnh và quý nhân bù chỗ thiếu của lá số

Một cụ già không nhớ mình sinh năm nào, chỉ biết tuổi Hổ và hơn năm mươi. Chỉ cần một bàn tay và vài phép đếm nhảy cách là tìm lại được năm sinh. Từ chỗ đó người xưa còn tìm ra cả tháng mẹ bắt đầu mang thai và một ngôi miếu cho thần của mỗi người, đủ để bù khi lá số trống bóng quý nhân...


Hai cung mà Tứ trụ không nên bỏ

Ngày xưa lấy cung có nhiều cách: cung mệnh, thai nguyên, tử tức, biến pháp, thông pháp, tiểu hạn. Nhưng khi ứng dụng, giá trị của phần lớn không lớn, nên có thể xem như những phương pháp truyền thống để giữ lại mà thôi. Tam Mệnh Thông Hội cũng chỉ bàn hai cung là cung mệnh và thai nguyên. Thầy Thiệu Vĩ Hoa rút từ thực tiễn ra: khi dự đoán nhất thiết phải có hai cung ấy. Ví như sao mã chủ về động; Tứ trụ không có sao mã nhưng nếu địa chi của cung mệnh xung với một chi nào đó của Tứ trụ, cung mệnh bị xung thì cả đời phải đi nhiều. Có người Tứ trụ không có quý nhân, nhưng địa chi của thai nguyên gặp quý nhân, thì chẳng những bù được chỗ thiếu trong Tứ trụ mà thai nguyên gặp quý nhân còn có âm phúc. Tóm lại cung mệnh và thai nguyên vừa có vai trò riêng vừa bổ sung được cho Tứ trụ.

Thai nguyên: tháng bắt đầu mang thai

Thai là tháng bắt đầu mang thai. Cách lấy: lấy thiên can của tháng liền sau tháng sinh, tức tháng thứ hai, phối với địa chi của tháng thứ ba sau tháng sinh. Ví dụ sinh tháng Canh Tý năm 1991: sau Canh là Tân, địa chi của tháng thứ ba là tháng hai năm 1992, tức Mão, nên thai nguyên là Tân Mão.

Người xưa xem thai nguyên là mầm rễ của Tứ trụ. Tháng thai không bị phạm, hoặc gặp đất vượng tướng lộc mã thì phúc tốt lại nhiều. Nếu ngày giờ gặp ngôi tốt nhưng thai nguyên bị phạm thì tốt cũng như không. Thai nguyên sinh cho mệnh là tốt, khắc mệnh thì không lợi. Ví dụ sinh tháng Canh Tý năm Tân Mùi, được thai nguyên Tân Mão; Tân Mão nạp âm mộc, Tân Mùi nạp âm thổ, mộc khắc thổ thì không lợi cho mệnh. Nếu sinh tháng Dần năm Bính Tý, thai nguyên là Tân Tị; Bính Tý là mệnh thủy, Tân Tị là kim, kim sinh thủy nên lợi cho mệnh. Nếu muốn sinh con tốt thì đây chính là một trong những phương pháp ưu sinh.

Thai nguyên gặp quý nhân là được âm phúc. Thai nguyên bị hình, xung, khắc, hại thì cuộc đời gian khổ. Xưa có câu: trong thai nguyên có lộc là sinh vào nhà giàu sang; nếu gặp tuần không, vong thì rơi vào nhà đói khổ. Can chi thai nguyên và nạp âm của giờ sinh tương sinh nhau thì chủ sống lâu; nếu hình khắc nhau thì đoán thọ ngắn. Thai nguyên gặp đế vượng tất sẽ thọ lâu.

Cung mệnh: cái miếu của người

Cung mệnh có thể gọi là sự thu nhỏ của mệnh. Cách lấy: lấy Tý làm tháng giêng, Hợi tháng hai, Tuất tháng ba, đếm ngược đến Sửu là tháng mười hai. Rồi đặt giờ sinh vào chi của tháng sinh, đếm thuận cho đến giờ Mão; chi nơi giờ Mão rơi vào là cung mệnh. Thiên can của cung mệnh lấy theo cách tìm can của tháng ứng với can năm sinh.

Ví dụ sinh giờ Mùi, ngày 21 tháng mười một năm 1991. Lấy Tý là tháng giêng đếm ngược đến tháng mười một là Dần. Đặt giờ Mùi vào ngôi Dần, Mão là giờ Thân, đếm thuận cho đến khi tới giờ Mão thì ở ngôi Tuất; vậy chi của cung mệnh là Tuất. Năm Tân thuộc nhóm Bính Tân, theo cách lấy can tháng thì can của Tuất là Mậu, nên cung mệnh là Mậu Tuất.

Người xưa bàn rất nhiều về ý nghĩa của cung mệnh. Có câu: thần không có miếu thì không có chỗ về, người không có nhà thì như không có chỗ bám víu; không có cung mệnh là không có chủ. Điều ấy nói lên vai trò của cung mệnh trong Tứ trụ đối với vận mệnh. Cho nên khi đoán phải xem quan hệ hình, xung, khắc, hại của cung mệnh với Tứ trụ. Cung mệnh nên sinh vượng, không nên suy bại; nên tương sinh tương hợp với năm mệnh, không nên hình xung khắc hại lẫn nhau. Tương sinh tương hợp thì tốt, hình xung khắc hại thì xấu. Nó là hỉ thần, dụng thần thì tốt, là kỵ thần thì xấu. Người có cát thần trong thần sát thì tốt, có hung sát thì xấu.

Ngoài việc kết hợp với Tứ trụ, mỗi cung mệnh còn có khuynh hướng riêng. Cung Tý có sao Thiên Quý: chí khí khác thường, giàu có thanh bạch. Cung Sửu sao Thiên Ách: trước khó sau tốt, vất vả xa quê, tốt về sau. Cung Dần sao Thiên Quyền: thông minh sắc sảo, trung niên có quyền bính. Cung Mão sao Thiên Xích: khẳng khái hào phóng, khi có quyền nên khiêm tốn thì hơn. Cung Thìn sao Thiên Như: việc nhiều chồng chất, cơ mưu tháo vát. Cung Tị sao Thiên Văn: văn chương phát đạt, nữ gặp chồng tốt. Cung Ngọ sao Thiên Phúc: vinh hoa, mệnh tốt. Cung Mùi sao Thiên Trạch: đời vất vả, xa quê mới an nghiệp. Cung Thân sao Thiên Cô: không nên kết hôn sớm, nữ thì cản trở chồng. Cung Dậu sao Thiên Bí: tính cương trực, có lúc thị phi. Cung Tuất sao Thiên Ất: tâm tính ôn hòa, nghệ thuật nổi tiếng. Cung Hợi sao Thiên Thọ: hiền lành, sáng suốt, biết kìm nén mình, hay giúp người.

Khi người già chỉ nhớ năm con gì

Trong khi đoán thường gặp người, nhất là người lớn tuổi, không nhớ sinh năm nào, chỉ nhớ tuổi con gì, thậm chí cũng quên cả tuổi con gì, nên không thể sắp Tứ trụ. Khi ấy phải tính ra năm sinh cho họ bằng bàn tay.

Thí dụ một người nói mình tuổi Hổ, năm nay hơn năm mươi, nhưng không biết bao nhiêu tuổi. Năm 1991 lưu niên là Tân Mùi. Trên bàn tay lấy Mùi là một tuổi, cứ nhảy cách ra: Dậu là mười một tuổi, Hợi là hai mươi mốt, Sửu là ba mươi mốt, Mão là bốn mươi mốt, Tị là năm mươi mốt. Vì người ấy tuổi Hổ và trên năm mươi nên lấy đến năm mươi mốt tuổi ở ngôi Tị. Sau đó đếm ngược: Thìn là năm mươi hai, Mão năm mươi ba, Dần năm mươi bốn. Dần là Hổ, vậy là năm Mậu Dần, tức 1938; đến 1991 vừa đúng năm mươi bốn tuổi.

Thí dụ khác: người nói bảy mươi bảy tuổi mà không biết sinh năm nào, thuộc con gì, hoặc nói sinh năm 1915 mà không biết con gì. Bắt đầu từ lưu niên năm Mùi tính một tuổi, nhảy cách theo chiều thuận đến Dậu mười một tuổi, Hợi hai mươi mốt, Sửu ba mươi mốt, Mão bốn mươi mốt, Tị năm mươi mốt, Mùi sáu mươi mốt, Dậu bảy mươi mốt. Rồi đếm ngược lên: Thân là bảy mươi hai, Mùi bảy mươi ba, Ngọ bảy mươi bốn, Tị bảy mươi lăm, Thìn bảy mươi sáu, Mão bảy mươi bảy. Vậy người ấy tuổi Thỏ, sinh năm 1915.

Thiên Ất quý nhân: người giúp lúc hoạn nạn

Cách lấy thiên can của thiên Ất quý nhân mỗi nơi nói một khác; có nơi cho Giáp, Mậu, Canh cùng đi với trâu, dê, và Lục Tân đi với hổ, ngựa. Ông dùng theo bài ca trong Uyên Hải Tử Bình, vì quyển ấy bàn sâu về mặt Tứ trụ mệnh lý, thực tế cũng được thừa nhận rộng rãi, ứng dụng đã chứng minh. Vì sao các cách lấy khác nhau, đến nay chưa rõ, ngoài Tam Mệnh Thông Hội có giải thích thì cần nghiên cứu thêm. Nên khi ứng dụng không ép phải thống nhất; mỗi người có thể theo kinh nghiệm và thói quen mà chọn cho thích hợp. Thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất để kiểm nghiệm chân lý.

Cách lấy thời gian của thiên Ất quý nhân cũng có hai: có nơi lấy can năm làm quý nhân, có nơi lấy can ngày sinh. Ông lấy cả hai, và thực tế cho thấy quý nhân của can năm lớn hơn, quý nhân của can ngày nhỏ hơn. Nếu trong Tứ trụ cả can năm và can ngày đều có thiên Ất quý nhân thì đó là một quý nhân lớn, một quý nhân nhỏ; lớn hay nhỏ đều có tác dụng của thiên Ất quý nhân.

Thiên Ất quý nhân lại chia ra quý dương và quý âm, có hai cách chia. Cách thứ nhất, sinh sau giờ Tý là quý dương, sinh sau giờ Ngọ là quý âm. Cách thứ hai, lấy Dần Thân chia âm dương: sinh sau đông chí là quý dương, sau hạ chí là quý âm. Người sinh sau lúc một dương sinh mà gặp quý dương thì thêm sức; sinh sau lúc một âm sinh mà gặp quý âm cũng thêm sức. Nên lấy hai tiết đông chí, hạ chí chia quý dương, quý âm là đúng lý.

Thiên Ất quý nhân là trong năm tháng ngày giờ sinh gặp quý nhân; quý nhân là cát tinh, là sao giải ách, sao cứu trợ. Tứ trụ có quý nhân thì gặp việc có người giúp, gặp tai ách có người cứu, gặp hung hóa thành cát. Tam Mệnh Thông Hội nói: Thiên Ất là thần trên trời, trong Tử Vi luôn ở bên ngoài cửa, xếp hàng ngang, Thái Ất làm những việc của thiên hoàng đại đế nên gọi là Thiên Ất; thần Thiên Ất rất tôn quý, mọi hung sát đều phải lánh xa. Chúc Thần Kinh nói thêm: Thiên Ất quý nhân gặp sinh vượng thì diện mạo hiên ngang, tính tình nhanh nhẹn, lý lẽ phân minh, không thích mẹo vặt mà thẳng thắn, người ôn hòa đức độ, được mọi người yêu mến khâm phục. Thái Ất mà tử tuyệt thì tính cố chấp, có Thái Ất sẽ đỡ. Thái Ất đi với kiếp sát thì có uy, đa mưu túc kế; đi với quan phù thì văn chương bay bổng, lời lẽ hùng biện; đi với kiến lộc thì văn chương thành thật, ân huệ khắp nơi, là người quân tử.

Thiên Ất quý nhân là thần tốt nhất trong mệnh. Ai có nó thì vinh hiển, công danh sớm đạt, dễ thăng quan; nếu mệnh thừa vượng khí thì có thể đạt đến danh tướng, công hầu. Đại tiểu vận hành đến năm ấy thì nhất định thăng quan. Phàm người ta đến lúc gặp Thái Ất quý nhân thường có tin vui, mọi việc thuận. Thiên Ất quý nhân gặp thiên đức, nguyệt đức thì quý vô cùng, người ấy thông minh trí tuệ. Quý nhân tọa vào can ngày thì suốt đời thanh cao. Thiên Ất quý nhân tốt nhất là được sinh vượng, được cát tinh trợ giúp; kỵ nhất là gặp hình xung khắc hại hoặc đất không, vong, tử tuyệt. Người gặp thế là họa, nguồn phúc giảm đi, suốt đời vất vả. Thìn, Tuất là chỗ cao nhất, quý nhân không tới nên hai chi Thìn, Tuất không có Thiên Ất quý nhân.

Cách tra quý nhân, và khi lá số không có quý nhân

Cách tra Thiên Ất quý nhân: lấy can năm tra bốn chi trong Tứ trụ xem có gặp quý nhân không; xong lại lấy can ngày tra bốn chi xem có gặp không. Căn cứ ví dụ xưa và ví dụ thật, chỉ cần quý nhân của hai địa chi xuất hiện trong Tứ trụ là đều có sao quý nhân.

Ví dụ: sinh giờ Mùi, ngày 18 tháng tám năm 1985, tám chữ là Tân Mùi (giờ), Giáp Tuất, Ất Dậu, Ất Sửu. Theo câu Ất Kỷ đi với chuột, khỉ, tra quý nhân của can năm: Tứ trụ không có Tý, Thân, nên can năm không có quý nhân. Tra can ngày theo câu Giáp Mậu đi với trâu, dê: chi năm và chi giờ có Sửu trâu, Mùi dê, nên can ngày có hai quý nhân. Nếu chỉ gặp Sửu hoặc chỉ gặp Mùi thì can ngày chỉ có một quý nhân.

Ví dụ khác: sinh giờ Hợi, ngày 23 tháng mười một năm 1991, tám chữ Tân Hợi, Nhâm Thân, Canh Tý, Tân Mùi. Theo câu Canh Tân gặp hổ, ngựa, tra can năm: không có Dần, Ngọ. Theo câu Nhâm Quý là thỏ, rắn, tra can ngày: không có Mão, Tị. Nên cả can năm và can ngày đều không có quý nhân. Khi Tứ trụ không có quý nhân thì xem thai nguyên và cung mệnh có quý nhân không. Ở ví dụ này thai nguyên là Tân Mão, cung mệnh là Giáp Ngọ; can năm Tân gặp Ngọ của cung mệnh là quý nhân, can ngày Nhâm gặp Mão của thai nguyên là quý nhân. Như thế gọi là thai nguyên và cung mệnh gặp quý nhân, bù được chỗ thiếu của Tứ trụ nên vẫn là có quý nhân.

Còn nếu can năm, can ngày, thai nguyên, cung mệnh đều không có quý nhân thì khi gặp việc xấu hay đại nạn sẽ khó mà vượt qua. Khi ấy phải theo can năm, can ngày của người đó, tìm những sao quý nhân gần đó để nương nhờ thì may ra đỡ được phần nào. Còn nếu vốn có quý nhân thì dù người ta có biết hay không, khi gặp khó khăn vẫn có người giúp. Người giúp ấy trong Tứ trụ gọi là quý nhân. Ví dụ bị chết đuối mà có người cứu, người cứu ấy trong Tứ trụ là Sửu, Mùi, thì ân nhân ngoài đời thường là người tuổi Sửu hoặc tuổi Mùi.

Nguồn: Thiệu Vĩ Hoa, Trần Viên, Dự đoán theo Tứ trụ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc