Bài tổng quan
An Nguy Sản Phụ, Giờ Sinh Nở, Xuất Hành, Đi Thuyền Và Bạn Đồng Hành
Ngày Ất Hợi tháng Tý, một người chồng gieo quẻ hỏi vợ sinh nở có bình an, được quẻ Phong biến Tiểu Quá. Hào Thê Tài Ngọ hỏa gặp Nguyệt phá, lại bị Nhật thần Hợi khắc, mùa đông hưu tù, không chút sinh phù. Người ấy mừng vì hào Tử Tôn Mão mộc phát động sinh hỏa, nhưng Dã Hạc lão nhân lắc đầu: Mão mộc động mà biến Quỷ, là thần linh báo cả mẹ lẫn con đều khó toàn mạng. Rời khỏi buồng sinh, Tăng San Bốc Dịch dẫn sang những nẻo đường thiên lý: hào Thế vượng thì nên đi, hào Ứng Không Vong thì nên ở, Quỷ lâm Huyền Vũ phải đề phòng giặc cướp, hai hào gián đều Không thì đi một mình lại hóa hay. Vì sao Tử Tôn sinh Dụng thần mà vẫn không cứu được mạng người?
Mục lục · 5 phần
Xem Về Sự An Nguy Của Sản Phụ: Hào Thê Tài Làm Dụng Thần
Tọa thảo lâm bồn hiềm Quỷ động; thai tiền sản hậu kỵ Huynh dao. Tài lâm Tuyệt Phá thê nan bảo; Quỷ hóa Thê Tài mệnh bất lao.
Lâm bồn sinh nở kỵ Quỷ động; mang thai sinh sản kỵ Huynh hưng. Tài gặp Tuyệt, Phá vợ khó sống; Quỷ hóa Thê Tài mệnh không dài.
Xem về sự an nguy của sản phụ, chồng hay người khác xem hộ đều lấy hào Thê Tài làm Dụng thần. Tuy kỵ Quỷ động, nhưng nếu trong quẻ có Huynh động khắc Tài, lại nên có Quỷ động để chế phục hào Huynh. Kỵ gặp Tài biến Quỷ, Quỷ biến Tài, Huynh biến Tài, Tài biến Huynh, hoặc Thê gặp Nguyệt phá, hưu tù, Mộ Tuyệt, hóa Mộ hóa Tuyệt, hoặc bị Nhật Nguyệt xung khắc, đều là điềm dữ.
Giác Tử bàn rằng: Hỏi về bào thai và hỏi về sản phụ, tuy nên chia ra để xem, nhưng thường chưa cần chia ra để xem, việc đã hiện lên trong quẻ, nên cần lưu ý.
Ví dụ: Ngày Ất Hợi tháng Tý, xem vợ thai sản có bình an không, được quẻ Phong biến Tiểu Quá:


Đoán rằng: Hào Thê Tài Ngọ hỏa gặp Nguyệt phá, lại bị Nhật thần Hợi tương khắc, Ngọ hỏa vào mùa đông hưu tù, lại bị khắc phá, hoàn toàn không được sinh phù, nên mạng sống khó giữ. Người xem hỏi: "Hào Tử Tôn Mão mộc động mà sinh hỏa, sao lại nói là không được sinh phù?" Ta đáp: "Mão mộc Tử Tôn động mà biến Quỷ, tức ý thần linh muốn nói, cả mẹ và con đều khó toàn mạng, chứ không phải là Mão mộc sinh Ngọ hỏa. Nên người đoán quẻ phải biết nắm bắt ý của thần linh." Người này lại hỏi: "Hào Tài tuy không vượng, nhưng hào Tử Tôn Mão mộc được ngày Hợi tháng Tý tương sinh, tại sao con tôi lại không sống được?" Ta đáp: "Tử Tôn đã biến Quỷ, cho dù lâm Nhật thần Nguyệt kiến, cũng là vô ích."
Quái đắc Lục xung, Tử vượng Tài cường chung thị hỷ; hào phùng Lục hợp, Tài Không Tử Phá diệc vi ưu.
Quẻ gặp Lục xung, Tử vượng Tài cường vẫn là tốt; hào gặp Lục hợp, Tài Không Tử Phá cũng là hung.
Thời Điểm Sinh Nở: Đợi Đúng Ngày Hào Tử Tôn Lên Tiếng
Giữ được mạng sống cho người mẹ rồi, nỗi sốt ruột còn lại chỉ là đứa trẻ bao giờ mới chịu chào đời.
Xa thì ứng vào tháng, gần thì ứng vào ngày.
Tử Tôn phát động, đợi khi gặp hợp gặp trực;
Tử Tôn yên tĩnh, đợi khi gặp trực gặp xung.
Tử Tôn Không Vong, đợi lúc xung Không, thực Không;
Tử Tôn Nguyệt phá, đợi khi thực Phá, gặp hợp.
Bạch Hổ lâm Huynh mà động, ngày trực sẽ sinh;
Tử Tôn gặp Tuyệt, cần đợi đến ngày sinh vượng.
Tử Tôn gặp Trường Sinh, cần đợi ngày thai, ngày dưỡng.
Tử Tôn tàng phục, đợi ngày xuất hiện sẽ sinh.
Xuất Hành: Hào Thế Vượng Thì Đi, Hào Ứng Không Vong Thì Ở
Đứa trẻ chào đời yên lành, người cha lại khăn gói lên đường vì danh vì lợi, mà đường xa thì nguy hiểm khó lường.
Con người nhiều khi vì danh vì lợi mà phải rong ruổi đường xa, nguy hiểm khó lường. Nên khi xem về xuất hành, trước hết cần xem hào Thế, nếu vượng tướng thì nên đi. Hào Ứng nếu Không Vong, không nên xuất hành.
Hào Thế tượng trưng cho người xuất hành, nếu sinh vượng, hữu khí là tốt. Nếu động mà hóa cát, hoặc hóa Tử Tôn, lại càng tốt. Còn nếu hưu tù Không Phá, hoặc động hóa hung, là dữ, không nên đi.
Ứng tượng trưng cho nơi đến, cũng tượng trưng cho người cần nhờ cậy, nếu Không, Phá, Mộ, Tuyệt, hoặc động mà hóa Quỷ, hóa Tuyệt, hóa hồi đầu khắc, có đi cũng vô ích.
Thế thương Ứng vị, bất câu viễn cận tương nghi. Ứng khắc Thế hào, công tư giai chủ bất lợi.
Thế thương hào Ứng, gần xa đều rất nên đi; Ứng khắc hào Thế, công tư đều chủ bất lợi.
Thế khắc Ứng, là ta khắc người, nên đi đâu cũng thuận lợi.
Ứng hình, xung, khắc Thế, thì không nên xuất hành.
Bát thuần loạn động, đáo xứ giai hung; lưỡng gián tề Không, độc hành tắc cát.
Quẻ Bát thuần động loạn, đi mọi nẻo đều hung; hai hào gián đều Không, đi một mình sẽ tốt.
Nếu gặp quẻ Lục xung, hoặc động mà biến xung, hào Thế hưu tù bị khắc, thì không thể đi được, là điềm hữu thủy vô chung, có đi cũng vô ích.
Trong quẻ xuất hiện hào gián, tượng trưng cho người đồng hành. Nếu hào gián động mà khắc Thế, ắt sẽ bị người đồng hành hãm hại. Nếu động mà lâm Huynh, là chủ về tán tài của mình. Nếu sinh hợp Thế là tốt. Nếu hai hào gián đều Không, chẳng phải là nửa đường cản trở, ắt là đi một mình.
Tĩnh ngộ Nhật xung tất khứ; động phùng hợp trụ nhi lưu.
Tĩnh bị Nhật xung sẽ ra đi; động gặp hợp lại phải nấn ná.
Nếu hào Thế ám động, chắc chắn sẽ đi. Nếu hào Thế vượng mà tĩnh, đợi đến ngày xung sẽ lên đường. Nếu hào Thế động mà hóa hợp, hoặc bị Nhật, Nguyệt, hào động hợp, ắt sẽ gặp sự cố mà phải nấn ná, không thể lên đường.
Giác Tử bàn rằng: Theo chiêm nghiệm của ta, gặp hợp nhiều khi đợi đến ngày xung khai sẽ lên đường.
Tân bình thích: Câu này rất đúng.
Ví dụ: Ngày Kỷ Sửu tháng Hợi, bạn tôi hỏi cha mẹ đến Hải Nam du lịch cát hung ra sao? Được Sơn Lôi Di biến Khôn Vi Địa.


Tôi thấy Phụ Mẫu bị Nhật thần hợp trú, đoán là có thể không đi được. Kết quả là bởi vì có việc mà không đi.
Quan Quỷ giao trùng tai họa trọng;
Quan Quỷ cùng động nhiều tai vạ;
Hào Quỷ lâm Huyền Vũ mà động, cần đề phòng giặc cướp. Hào Quỷ lâm Chu Tước mà động, cần đề phòng kiện tụng thị phi. Hào Quỷ lâm Bạch Hổ, đề phòng tật bệnh triền miên. Hào Quỷ lâm Đằng Xà, đề phòng gặp nạn vì gian nan hiểm trở. Hào Quỷ lâm Câu Trần mà động, cần đề phòng gặp sự việc liên lụy. Hào Quỷ động gặp Thanh Long, cần đề phòng chuyện cờ bạc trai gái. Hào Quỷ động tại cung Chấn, Càn, đề phòng tai nạn do xe, ngựa. Hào Quỷ động tại cung Đoài, Khảm, đề phòng tai nạn do sóng gió. Hào Quỷ tại Khôn, Cấn, đề phòng gặp nạn nơi núi sâu đồng hoang. Hào Quỷ động tại Tốn, Ly, đề phòng tai nạn tại hầm mỏ, nhà xưởng. Về phần này, phép xu cát tị hung đã bàn rõ.
Phúc thần phát động hoạn ương tiêu.
Phúc thần phát động hết tai ương.
Nếu xem về xuất hành mà gặp hào Tử Tôn phát động, Tử Tôn trì Thế, Thế hóa Tử Tôn, thì tuy đường có xa ngàn dặm, tai họa vẫn được tiêu trừ, Tử Tôn có khắc Thế vẫn cát lợi.
Phụ khắc Thế hào, phong vũ chu xa hành lý.
Phụ khắc hào Thế, mưa gió xe thuyền hành lý.
Nếu hào Phụ Mẫu trì Thế mà động, hoặc hào Phụ động xung khắc hào Thế, theo như chiêm nghiệm của ta, có khi chủ về bị liên lụy bởi xe thuyền, hành lý, có khi ứng nghiệm về mưa gió triền miên. Nếu hào Thế vượng thì không đáng ngại, chỉ kỵ khi hào Thế hưu tù mà hóa hung.
Huynh xung Thế vị, hoa nguyệt phá hao tai phi.
Huynh xung hào Thế, trăng hoa hao của, thị phi.
Nếu hào Tài trì Thế, bị hào Huynh xung khắc, có khi ứng với trăng hoa chơi bời, lãng phí vô độ, cũng có khi ứng với bị kẻ dưới hãm hại mà thành tai họa thi phi, phải tiêu hao nhiều tiền của.
Phản ngâm hóa Thoái trung đồ phản; Lục xung tùy Mộ thủy chung hung.
Phản ngâm hóa Thoái, nửa đường quay lại; Lục xung nhập Mộ, trước sau đều hung.
Nếu gặp quẻ Phục ngâm, mà hào Thế động, đợi đến ngày xung khai sẽ khởi hành. Nếu gặp quẻ Phản ngâm, đi đến nửa đường sẽ phải quay lại, nếu hào Thế gặp xung khắc là đại hung. Gặp quẻ Lục xung, mà hào thế tĩnh, hoặc gặp Không, nếu lại theo Quỷ nhập Mộ là tối kỵ. Nếu hào Thế hưu tù, là điềm có đi không trở về.
Lục hợp hóa xung bất cát; Lục xung hóa hợp phương hanh.
Lục hợp hóa xung không tốt; Lục xung hóa hợp hanh thông.
Nếu quẻ Lục hợp biến Lục xung, hoặc quẻ biến Khắc, biến Tuyệt, có ngồi nhà cũng dễ gặp tai họa.
Đi Thuyền: Ngày Cập Bến Và Hướng Gió Thuận Hiện Trong Quẻ
Có những chuyến đi không đặt chân lên đường bộ, mà phó mặc cho con nước và ngọn gió.
Đi thuyền muốn xem ngày nào sẽ đến nơi, mà hào Thế phát động, vào ngày trực, ngày hợp sẽ đến nơi. Nếu hào Tử Tôn trì Thế, hoặc Tử Tôn ở hào khác phát động, vào ngày trực sẽ đến nơi. Nếu hào Thế hóa Thoái thần, hoặc được quẻ Phản ngâm, là tượng nửa đường phải quay lại.
Nếu muốn hỏi xem đi đường có bình yên không, được quẻ Tử Tôn trì Thế, khắc Thế, sinh Thế, hợp Thế, chủ về thượng lộ bình an. Nếu hào Quan Quỷ trì Thế, chủ về lo âu sợ hãi. Nếu hào Quan Quỷ xung khắc hào Thế, chủ về gặp tai họa. Hào Huynh động chủ về hao của phá sản.
Nếu xem về hướng gió, không nên lấy hào Huynh Đệ làm gió, mà lấy hào Tử Tôn là gió thuận, nếu động, cần đợi ngày hợp ngày trực; nếu tĩnh, cần đợi ngày xung; nếu Không Vong, cần đợi ngày xung thực, cần kết hợp với phép xem Thiên thời để suy đoán.
Tân bình thích: Thời nay đi máy bay xuất hành cũng có thể đoán theo phép này.
Bạn Đồng Hành: Hào Ứng Định Kẻ Cùng Đường Là Phúc Hay Họa
Thuyền xe đã yên, còn lại nỗi lo về người ngồi bên cạnh suốt chặng đường.
Xem về bạn đồng hành, nên quan sát hào Ứng. Đi đường bộ hay tàu thuyền đều như nhau.
Hào Ứng tổn thương hào Thế, chủ về bị người đồng hành hãm hại; hào Ứng gặp Không, Phá, Mộ, Tuyệt, chủ về người đồng hành phụ nghĩa.
Tốt nhất là hào Ứng tương sinh, tương hợp, phù trợ hào Thế, là tượng giúp đỡ lẫn nhau, gắn bó như người thân.
Nếu gặp Tam hợp cục, chủ về mọi người đều được toại nguyện. Nếu gặp quẻ Lục xung, là tượng nửa đường nản chí.
Nếu hào Huynh Đệ động, thì đi hay ở đều gặp hại; nếu hào Tử Tôn động, dù đi đường bộ hay đường thủy đều yên lành.
Xem về người khác thì lấy hào Ứng làm Dụng thần; xem cho người thân thích cũng phải xem Dụng thần, kỵ gặp hào Huynh Đệ động khắc Thế, tốt nhất là nên tương hợp tương sinh.
Nguồn: Tăng San Bốc Dịch – Dã Hạc lão nhân (Vương Hồng Ứng bình thích)
