Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Thuần Khôn: đức dày của đất và bài học đứng sau

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc04/10/202613 phút đọc3 lượt đọc
Thuần Khôn: đức dày của đất và bài học đứng sau

Muôn vật chỉ có hình, có sức lớn khi đã có đất đỡ chân, vậy mà đất chưa bao giờ giành phần công. Quẻ sáu hào âm dạy người ta hướng đi, hướng ở và hướng bạn bè... Vì sao khởi xướng trước lại thành lầm?


Khôn là thuận: cái đức của đất

Quẻ số hai là Thuần Khôn, sáu hào đều là âm, thuộc tháng Mười, được xếp vào quẻ tốt. Khôn nghĩa là thuận: thuận lợi, hiền từ. Nếu Càn là trời thì Khôn là đất; Càn cương kiện thì Khôn nhu thuận. Hình tượng của quẻ là thế lực dày dặn của trái đất, thuận theo và bao dung, tượng trưng cho đạo Khôn.

Địa thế khôn. Quân tử dĩ hậu đức tải vật.

Đất có thế thuận, người quân tử lấy đó mà tu cho đức dày để đủ sức dung chở muôn vật. Bài học của hai quẻ đầu đặt cạnh nhau rất rõ: học quẻ Càn để rèn đức mạnh như trời, không ngừng nghỉ; học quẻ Khôn để rèn đức dày như đất, chở được mọi vật.

Sinh tháng Mười thì chắc chắn làm nên

Bảng Hoa Giáp hợp quẻ cho quẻ Khôn đặt vào các tuổi Giáp và Nhâm ứng với các chi Mão, Tị, Hợi. Ai sinh vào tháng Mười thì chắc chắn làm chức vị lớn, như ngày xưa là bậc đại thần, danh cao đức hậu. Nếu sinh không đúng mùa, ngôi hào lại kém, thì vẫn làm được chủ nhân ông của ruộng đất, hưởng phúc lộc thọ. Người đi tu thì phước dày. Nữ mạng thì hiệu hòa, có chồng sang, con quý.

Cá đầy nước, hoa đầy đường. Giai nhân ngọc đẹp, ngựa thuận dong cương. Đất dày chở vật, tiến bước huy hoàng.

Lời Thoán: ngựa cái và hướng Tây Nam

Lời Thoán nói Khôn có các đức đầu tiên và lớn (nguyên), hanh thông (hanh), thích đáng (lợi), và còn có đức chính và bền (trinh) của con ngựa cái. Người quân tử có việc mà tự mình khởi xướng thì lầm; để người khác khởi xướng rồi mình theo sau thì được, vì chủ yếu là ích lợi cho vạn vật. Đi về hướng Tây Nam thì được bạn, về hướng Đông Bắc thì mất bạn. Yên lòng giữ đức bền vững thì tốt.

Càn tạo ra vạn vật trong cõi vô hình, thuộc phần khí; nhưng phải nhờ Khôn thì vạn vật mới có hình, mới sinh trưởng. Vì vậy công của Khôn lớn không kém công của Càn. Chỉ khác là Khôn phải đứng sau Càn, tùy theo Càn mà bổ túc cho Càn. Cho nên ba đức nguyên, hanh, lợi, Khôn có đủ như Càn. Riêng đức trinh (chính và bền) thì Khôn hơi khác: vẫn chính và bền nhưng phải thuận.

Văn Vương dùng con ngựa cái làm tượng cho quẻ Khôn, vì ngựa là giống mạnh, mà ngựa cái có tính thuận theo ngựa đực. Cũng vì Khôn có đức thuận nên người khởi xướng phải là Càn, Khôn chỉ tiếp nối công việc của Càn. Người quân tử gặp quẻ này nên biết rằng mọi việc tự mình khởi xướng thì khó thành, còn chờ người khởi xướng rồi thuận theo thì nhiều thuận lợi.

Chu Công khuyên đi về phía Tây Nam thì được bạn và được tiền của, vì trong hệ Hậu Thiên của Văn Vương, quẻ Khôn đặt ở phía Tây Nam. Ý là: người gặp quẻ Khôn mà hành động theo đức của quẻ Khôn thì rất có lợi. Đi hướng Đông Bắc thì mất bạn và mất của, vì Đông Bắc thuộc dương; được quẻ thuần âm mà lại hành động theo đức cương kiện của dương thì tổn thất. Dù vậy, câu nói này không nên hiểu đơn thuần là đi hướng Tây Nam hay hướng Đông Bắc, mà là lời dặn về cách xử thế. Gặp quẻ này, cứ theo những lời khuyên ấy mà yên tâm, giữ đức cho bền thì rất tốt.

Bức tranh chung: hợp bình lặng, không hợp sóng gió

Quẻ Khôn chỉ thời cuộc thiên về nhu thuận bình lặng, không hợp với những đổi thay sóng gió hay bạo lực. Đây là thời của sự bao dung, của tôn giáo, của chiêm bốc và của những người tu hành ẩn dật. Mọi mưu đồ trái với lẽ ấy đều thất bại.

Công danh: nên yên tâm với nghề nghiệp, lắng nghe ý kiến người trên, làm theo mọi người, không nên đặt mục đích quá cao kẻo thất bại. Tài vận: chưa đến thời, nên kinh doanh ở mức cũ hoặc hợp tác với nhiều người, và nên làm các việc từ thiện. Xuất hành: đi xa bất lợi. Kiện tụng: khó xong. Thi cử: khó đạt như ý. Tình yêu: lằng nhằng, không thuận lợi. Hôn nhân: nhiều do dự, khó tính.

Hào sơ lục: dẫm lên sương, nghĩ đến băng

Lý sương, kiên băng chí.

Đi trên sương mỏng phải nghĩ ngay rằng trời sắp lạnh, băng giá cũng sắp tới. Thấy điều ác nhỏ phải nghĩ rằng nó sẽ thành điều ác lớn, nên cần thận trọng từ bước đầu. Khí âm mới sinh, nên đặt bước đi cho chắc. Đây là hào âm đầu tiên trong cả hệ thống quẻ Dịch; Chu Công ví với sương lạnh mới kết, về sau sẽ đông thành băng.

Mệnh hợp cách: tuổi nhỏ được bồi dưỡng học hành, lớn lên lập được công danh thành đạt. Mệnh không hợp cách: bỏ hay theo dở, hại người ích mình, ai khuyên thì cãi, ai phỉnh thì thích, kết cục chẳng ra sao. Cái xấu lớn dần như sương đóng thành băng; tính hay ganh ghét, ưa nịnh, khó thành sự nghiệp, có làm nên thì cũng thành kẻ xấu có quyền thế mà không thành phúc lộc.

Vận hạn: quan chức đề phòng tai họa, xiểm nịnh, gièm pha; học trò bị ghen ghét; người thường phòng oán thù gây mối lo; nữ mạng dễ đại họa cho gia nghiệp.

Khí âm lạnh, hạt sương mù, đợi khi nắng ấm trời phù mới nên. Bắc phương đường dài chớ quên, gió tan mây lạnh bước lên cũng vừa.

Hào lục nhị: thẳng, vuông, lớn, chẳng cần học vẫn lợi

Trực, phương, đại, bất tập, vô bất lợi.

Có đức thẳng, vuông, lớn thì không cần phải học tập kiểu cách gì mà việc gì cũng làm nên ích lợi, hợp đạo lý. Đó là người trung chính, tận tâm, độ lượng. Đức lớn đến thế là tuyệt vời. Hào rất tốt: là hào âm ở ngôi âm nên đắc chính, nằm giữa quẻ nội nên đắc trung, lại thuộc quẻ Khôn có quy mô lớn.

Lời nhắn nhủ ở hào này là tận thiện tận mỹ, nhưng được vậy là nhờ hai chữ trung và chính (vị trí và đức của hào). Thuận mà lại phải trung chính thì mới thành đạo của người quân tử.

Mệnh hợp cách: người trung chính có danh vọng lớn, địa vị cao, có danh vị, phúc lộc, cuộc sống yên vui. Mệnh không hợp cách: vẫn là người trung thực, ưa hoạt động, giữ trọng trách ở nơi hương lý; có đức hạnh tuy địa vị thấp nhưng được nhiều người nể trọng. Vận hạn: quan chức được thăng cao; người thường tiền dư thóc sẵn; đàn bà hiền lương dựng được cơ nghiệp.

Tiến trình mọi ngả khai thông, đức dày nghĩa trọng thành công dễ dàng.

Hào lục tam: giấu điều đẹp, theo việc vua mà không giành công

Hàm chương khả trinh. Hoặc tòng vương sự, vô thành hữu chung.

Ngậm giữ điều tốt đẹp bên trong thì có thể tiến được. Hoặc theo việc nhà vua (việc nhà nước) mà không cần giành lấy thành công cho mình, thì sau cùng có kết quả mỹ mãn. Người ở hào này có đức, lại có tài văn chương và thi thố đúng thời, giữ kín cái hay cái đẹp trong lòng.

Hào ba là âm ở ngôi dương, vốn không chính, nhưng ở trong quẻ Khôn nhờ có đức Khôn. Chất âm nhu thêm đức cương kiện cũng tốt, đó cũng là lẽ biến hóa của Dịch.

Mệnh hợp cách: học vấn đầy đủ, thành người tiêu biểu của thời đại, cả đời hưởng vinh lộc chứa chan; thành đạt lớn, phúc lộc cao. Mệnh không hợp cách: vẫn là kẻ sĩ trung hậu, giàu tài, ẩn danh, biết người biết ta, tử tế; người có đức hạnh, thi sĩ, người lương thiện. Vận hạn: quan chức thăng trật; học trò hẹn ngày thành danh; người thường lo toan khéo, thu hoạch lợi tức; nữ mạng là bậc đức phụ.

Trước khó sau dễ mới hay, thiên thời địa lợi chờ ngày vinh quang.

Hào lục tứ: thắt miệng túi, không lỗi, không tiếng khen

Quát nang, vô cữu vô dự.

Thắt miệng túi lại thì không có lỗi mà cũng không có tiếng khen. Túi ở đây là túi trí khôn, túi kinh luân, túi kế hoạch. Hào bốn âm nằm ở vị trí bất trung, thuộc quẻ thuần âm, lại sát bên hào năm là ngôi cao nhất; đó là thế của người tài giỏi đứng ở vai cận thần, tài quá thấp mà nghi ngại quá cao nên rất nguy hiểm. Người thức thời gặp hào này phải biết giữ gìn, thắt túi trí khôn lại, kín đáo mà tránh khỏi mọi tội lỗi, và cũng không mong danh dự gì. Nên tự giữ mình.

Mệnh hợp cách: tuy có ngôi địa vị, hưởng lộc tốt lành, nhưng chỉ nên tính việc lợi nhỏ, chưa thành việc lớn, không nên vác nặng đi xa; phúc lộc nhiều nhưng cũng khó thành việc lớn, tránh được tai nạn. Mệnh không hợp cách: cũng là người cẩn trọng, chu đáo, biết lo trước lo sau, có phúc, no ấm; người bình thường, tài năng hạn chế, chỉ biết giữ mình, phúc lộc kém.

Vận hạn: quan chức giữ nếp thường, chưa thăng trật; học trò chưa đỗ đạt, chưa tiến bước; người thường công việc dễ ngừng trệ, nên thu về, giữ mức thường thì tránh được tai hại; nữ mạng hiền hòa, yên vui gia đình.

Cửa đóng then cài, chông gai đường đi, cẩn thận đề phòng, trăng mây đen tối.

Hào lục ngũ: xiêm vàng, tốt lành bậc nhất

Hoàng thường, nguyên cát.

Xiêm vàng là điều tốt nhất. Xiêm là thứ quần nhà sang ngày xưa, dấu hiệu cao quý. Vàng là màu của Thổ ở giữa, ý nói ngôi vị tôn quý mà vẫn khiêm nhường như chiếc xiêm mặc bên dưới, lại trung thuận như màu vàng của đất ở giữa. Đắc trung, nên tốt. Người ở hào này có đức trung thực, có vẻ đẹp tinh thần ở bên trong, khiêm nhường, thuận với thời thế nên hưởng phúc lành đến mức tuyệt vời.

Hào năm là hào chí tôn của quẻ, đắc trung tuy không đắc chính vì âm ở vị dương. Nhưng nằm trong quẻ Khôn lại là điều tốt: tỏ ra có tài mà vẫn khiêm nhường, lại có văn chương, khác với hào dương cương kiện. Vì thế Chu Công cho hào này rất tốt và ví với chiếc xiêm vàng: xiêm là thứ quần sang trọng, dấu hiệu cao quý, mặc bên dưới để ví với ngôi cao mà khiêm nhường; vàng là màu ở giữa năm màu, tượng cho đức văn minh sáng láng, đẹp mà kín đáo bên trong, hiện ra thì nhuần nhị, nên tốt lành bậc nhất.

Mệnh hợp cách: đỗ đạt cao, tên treo bảng vàng; sĩ tử đỗ đầu, tạo dựng được sự nghiệp vinh hiển, phúc lộc đầy đặn. Mệnh không hợp cách: người cẩn thận, công bằng, chính trực, biết lui tới nên không ai ghen ghét, hưởng lộc dồi dào; cũng là người nhu thuận, khiêm nhường, có phúc lộc. Vận hạn: quan chức được tuyển dụng vào nội điện; học trò được vinh danh lớn; người thường mọi việc yên ổn, thu hoạch tài lợi; nữ mạng là bậc đức phụ.

Phận mình yên giữ ngôi trung, trời cho cát khánh về vùng Tây Nam.

Hào thượng lục: rồng đánh nhau ngoài nội

Long chiến vu dã, kỳ huyết huyền hoàng.

Rồng đánh nhau ngoài đồng, máu chảy đen vàng. Hào âm đã đi đến cùng cực nên xấu, âm và dương tranh sát phạt nhau; âm cực sinh ra họa. Âm đến cực điểm tất xung đột với dương, hai bên đánh nhau, hai bên đều bại, máu chảy; màu đen và màu vàng là sắc của âm và sắc của dương, tượng cho cả âm lẫn dương đều bị tổn hại.

Mệnh hợp cách: làm tướng lĩnh ra trận lập được công nhưng quân sĩ chết nhiều; hoặc chức vụ cao thì hay vượt quyền tiếm vị, hoặc ở thế chênh vênh thì tác uy tác hại. Người địa vị cao sang nhưng hay cậy tài tiếm vị, vượt quyền, làm những điều quá khích; có thể có công nhưng cũng làm hao tài tốn sức của dân, không được mọi người đồng lòng thán phục. Mệnh không hợp cách: hung bạo, ngược ngạo với cấp trên, thích làm lớn, ham lập công, ý kiến không nhất định; nặng thì làm người lính gian nan tân khổ, hoặc bị hình thương chém giết, hoặc khổ vì kiện tụng, tù ngục. Người đã có địa vị cao sang nhưng không biết thức thời mà vẫn ham danh lợi thì dễ bị hình khắc, rước vạ vào thân, khó giữ phúc lộc lâu bền. Kẻ sĩ gặp gian nan, lận đận, sự nghiệp khó thành; người thường cũng không gặp vận, buôn bán thua lỗ, dễ vướng kiện tụng, gặp tai bay vạ gió khó tránh.

Vận hạn: quan chức bị hạch tội, biếm phạt; học trò ngòi bút vẫy vùng nhưng rốt cuộc khó tránh tổn hại buồn phiền; người thường phải tranh đấu rắc rối, có khi đi đến phá hại nguy vong.

Có danh không có thực, mưu toan nhiều thắc mắc, việc làm chưa gì nên.

Dụng lục: đức nhường nhịn của đất

Dụng lục là dùng cái đức của quẻ Khôn: nhường nhịn, bao dung, không kể công, nuôi dưỡng vạn vật mà không tranh công về mình. Đó là đạo của đất, cũng là cái đức của nữ giới. Đất nuôi được vạn vật nhưng quy công cho trời. Đó là phép biến hóa của vũ trụ: âm dương biến hóa hài hòa thì vạn vật tươi tốt.

Âm lấn át dương thì thiên hạ bế tắc, người hiền tài phải ẩn dật, cái tà lấn cái chính tất sinh biến loạn. Đó là quy luật tất yếu của Tạo Hóa. Như lời "Dụng lục" đã nói: "Lợi vĩnh trinh", có nghĩa là kiên trì giữ đạo lâu dài mới có lợi. Hào ba cũng đã nhắc: dẫm lên sương phải biết băng sắp đến. Tai họa cũng thế: nó là kết quả tất yếu của nhiều điều ác chồng lên nhau, không phải tự nhiên xảy ra mà đều có nguồn gốc. Từ đó mà khuyên làm điều thiện là tích phúc cho con cháu, làm điều ác sẽ gây họa về sau. Vì vậy phải luôn nhớ dùng cái đức khiêm nhường, bao dung, nhu thuận của quẻ Khôn để xử thế.

Nguồn: Trung tâm Đào tạo Phong thủy sư, Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc