Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bát Tự Hà Lạc

Bài tổng quan

Đáng vị, đắc thể, hợp lý và chúng tông chúng tật trong quẻ Hà Lạc

Bói Dịch - Bát Tự Hà Lạc02/10/202610 phút đọc3 lượt đọc
Đáng vị, đắc thể, hợp lý và chúng tông chúng tật trong quẻ Hà Lạc

Nạp âm Hỏa gặp Tốn như lửa gặp gió, còn Thủy gặp Cấn lại thấy hiểm trở trước mặt. Tám quẻ đơn, năm nhóm mệnh, bốn mươi ô kết quả... và một hào đơn độc giữa năm hào khác loài, hoặc được cả đám đông theo, hoặc bị cả đám đông ghét.


Đáng vị: hào đứng đúng ngôi hay không

Quy tắc căn bản về đáng vị rất gọn: người sinh tháng Âm, tức tháng chẵn, mà Nguyên Đường ngồi hào Âm thì là đáng vị; sinh tháng Dương mà Nguyên Đường ngồi hào Dương cũng vậy. Nhưng khi rà soát khắp ba trăm tám mươi bốn hào của sáu mươi bốn quẻ thì thấy nhiều điều rộng hơn câu quy tắc ấy.

Đa số hào hai và hào năm đều được coi là đáng vị, vì hai hào ấy đã đứng giữa mỗi quẻ rồi. Nếu hào hai là Âm và hào năm là Dương thì được cả trung lẫn chính, nghĩa là đáng vị trọn vẹn. Trong lời hào, có khi ghi thẳng chữ đáng vị, có khi ghi là trung, là chính; ý nghĩa đều tốt cả.

Những hào được khen là đúng ngôi

  • Thiên Phong Cấu, hào năm: được trung chính.
  • Thiên Địa Bĩ, hào năm: được vị chính đáng.
  • Hỏa Địa Tấn, hào hai: được trung chính.
  • Thủy Trạch Tiết, hào năm: được vị trung.
  • Thủy Hỏa Ký Tế, hào hai: được trung địa.
  • Thiên Trạch Lý, hào năm: được chính đáng.
  • Thủy Phong Tỉnh, hào năm: được trung chính.
  • Trạch Lôi Tùy, hào năm: được trung chính.
  • Thuần Tốn, hào năm: được trung chính.
  • Phong Hỏa Gia Nhân, hào hai và hào năm: được tại vị.
  • Địa Sơn Khiêm, hào hai: được trung tâm đắc giả.
  • Phong Thủy Hoán, hào năm: được chính vị.
  • Thiên Hỏa Đồng Nhân, hào hai và hào năm: được trung đạo.
  • Trạch Thủy Khốn, hào năm: văn tại trung.
  • Địa Lôi Phục, hào hai: được trung hành.
  • Trạch Thiên Quải, hào năm: được trung chính; hào hai: được trung đạo.
  • Thuần Càn, hào năm: được trung tiết.
  • Sơn Phong Cổ, hào hai: được trung đạo.
  • Địa Trạch Lâm, hào bốn: được vị đáng; hào năm: được hành trung bất chính.

Những hào không đáng vị

Hào có thể ngồi đúng ngôi, cũng có thể ngồi chênh vênh, và ngôi chênh vênh nhất lại hay là ngôi thứ ba.

Còn những hào không đáng vị phần nhiều là bất trung bất chính, nhất là hào ba, hào vốn nhiều điều hung:

  • Thiên Địa Bĩ, hào ba.
  • Hỏa Địa Tấn, hào bốn.
  • Hỏa Trạch Khuê, hào ba.
  • Phong Trạch Trung Phu, hào ba.
  • Lôi Hỏa Phong, hào bốn.
  • Thuần Chấn, hào ba.
  • Lôi Địa Dự, hào ba.
  • Địa Phong Thăng, hào sáu.
  • Hỏa Thủy Vị Tế, hào ba.
  • Trạch Thiên Quải, hào bốn.
  • Thủy Thiên Nhu, hào sáu.
  • Thuần Đoài, hào ba.
  • Trạch Địa Tụy, hào bốn.
  • Lôi Sơn Tiểu Quá, hào bốn.

Đọc hai danh sách cạnh nhau thấy ngay hai điều. Hào hai và hào năm được khen nhiều vì đứng giữa. Hào ba chiếm đúng một nửa danh sách không đáng vị, vì nó là nơi quẻ hạ đi đến cùng đường và chưa đủ tư thế bước lên.

Đắc thể: mệnh của tuổi gặp quẻ nào thì thuận

Muốn biết một người có đắc thể hay không, lấy can chi và nạp âm của tuổi, ba thứ ấy đem đối chiếu với bảng ngũ mệnh đắc quái. Tốt xấu không ngoài lẽ sinh khắc chế hóa. Với mỗi nhóm nạp âm, gặp mỗi quẻ đơn trong tám quẻ, kết quả ra như sau.

Nạp âm Kim: Canh, Tân, Thân, Dậu

Gặp Càn thì phú quý. Gặp Khảm thì chìm nổi bồng bềnh. Gặp Cấn thì nên ẩn cư. Gặp Chấn thì khá tốt, có sở đắc. Gặp Tốn thì xuân hạ mát mẻ, thu đông lạnh lùng. Gặp Ly thì đối chấp. Gặp Khôn thì được phước lành. Gặp Đoài thì tốt, đắc địa.

Nạp âm Mộc: Giáp, Ất, Dần, Mão

Gặp Càn thì nhiều hão ít thực, nhiều hão huyền ít thực tế. Gặp Khảm thì hãm, mắc kẹt, không làm lớn, không bền lâu. Gặp Cấn thì lợi về xuân hạ, bất lợi về thu đông. Gặp Chấn thì vinh hoa. Gặp Tốn thì tuổi nhỏ hay bị dao động, gặp sự trắc trở lo âu. Gặp Ly thì hương thơm sắc tươi bị tổn thiệt. Gặp Khôn thì đợi thời rồi mới phát đạt. Gặp Đoài thì giữa mùa thu mới khởi sắc tướng.

Nạp âm Thủy: Nhâm, Quý, Hợi, Tý

Gặp Càn thì như nước có suối chảy vô cùng, gặp thời cơ phát đạt. Gặp Khảm thì là hãm, lúc cát lúc hung bất định. Gặp Cấn thì có hiểm trở. Gặp Chấn thì nước chảy xuôi dòng nhưng chẳng được nhàn hạ. Gặp Tốn thì sóng gió bất kỳ, mùa thu đông đáng ngại. Gặp Ly thì tranh đấu khắc khổ, thành có bại có. Gặp Khôn thì nhu thuận nhuần nhã. Gặp Đoài thì nguồn nước chảy dồi dào, cũng như Càn.

Nạp âm Hỏa: Bính, Đinh, Tị, Ngọ

Gặp Càn thì quang minh sáng láng, nếu được hào tốt nữa thì phi thường. Gặp Khảm thì phản phúc phá hoại. Gặp Cấn thì ích kỷ tổn người, xấu tốt tùy theo trường hợp và quan niệm. Gặp Chấn thì như thiêu đốt, tác động không bền. Gặp Tốn thì như lửa gặp gió, có thể thừa dịp may mà khởi sự nghiệp. Gặp Ly thì lửa lại gặp lửa, mừng giận bất thường, trong rỗng nên ngoài có kẻ gian rình rập mà bên trong thì không đề phòng. Gặp Khôn thì lưỡng tình tương đắc, gặp dịp thuận tiện. Gặp Đoài thì nghi nghi hoặc hoặc.

Nạp âm Thổ: Mậu, Kỷ, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi

Gặp Càn thì cát có, hung có. Gặp Khảm thì xui hãm mắc kẹt. Gặp Cấn thì vào những tháng tứ quý, tức ba, sáu, chín và chạp, thì phú hậu tốt lành. Gặp Chấn thì lao lạc đa hung, có thương tổn, chỉ ích cho người, vất vả và rơi rụng, xấu. Gặp Tốn thì như gió làm nổi bụi quét đất, chuyện ồn ào sôi động mà cũng vất vả. Gặp Ly thì tái bồi phương tiện, được phúc không nhỏ. Gặp Khôn thì khả cư hầu mục, phúc lộc trùng trùng, có thể quản trị một phương hay được phong chức vị. Gặp Đoài thì cũng như Càn: cát có, hung có.

Hợp lý hay trái lý: tuổi gặp đúng quẻ của mình

Nói đến chữ lý thì nghĩa rất rộng: lý tính, lý học, lý luận, chân lý, đạo lý, vật lý. Lý ở đây chỉ dùng riêng trong phạm vi nhỏ của lý số, mà trong cái nhỏ ấy lại còn có cái hẹp hơn, là cái lý trong mười thể cách đang bàn. Tuy nhiên cũng phải bàn qua cái lý nhỏ của lý số, rồi mới thông suốt được cái lý hẹp ấy.

Muốn xem tuổi hợp lý hay trái lý thì căn cứ vào bảng mười Can phối quẻ. Ví dụ tuổi Canh theo quẻ Chấn, tuổi Tân theo quẻ Tốn, như câu nói về thiên can phối quái: Canh lại lập ở phương Chấn, Tân thì rong chơi ở phương Tốn. Bát Tự đã phối với quẻ nào mà lại gặp được quẻ ấy thì là hợp lý. Nếu gặp quẻ khác, nhất là quẻ khác lại khắc nữa, thì là trái lý. Vì vậy phải xem cả bảng ngũ mệnh đắc quái ở phần đắc thể.

Tân gặp Tốn, Canh gặp Chấn

Tuổi Tân được quẻ Tốn lại ở mùa xuân mùa hạ là hợp lý. Vì sao? Tốn là gió, gió xuân hây hẩy êm đềm, gió hạ mát như quạt, đều là gió lành làm cho cây cỏ phởn phơ chóng lớn. Sinh mùa thu tuy không bằng xuân hạ nhưng Tốn vẫn còn hợp lý: trong quẻ thuần Tốn có hai quẻ Hỗ là Đoài và Ly. Đoài là phương tây, Ly là mặt trời; gió thu hiu hắt, mặt trời sáng soi, vui vẻ cả, đúng nghĩa gió và nắng giao hòa, vạn vật đều thuận hợp. Trái lại, xem bảng ngũ mệnh đắc quái thì Tân gặp Khảm vừa không được nạp Giáp, vừa là hãm, nên trái lý.

Giả như tuổi Canh được quẻ Chấn thì là nạp Giáp, lại vào mùa xuân hạ thì sấm vang động đúng lúc, đúng mùa, đúng nghĩa tiếng sấm gọi vạn vật thức dậy theo thời.

Được nạp Giáp mà chưa chắc đắc thể

Nhiều khi tuổi được nạp Giáp mà lại không được thể. Tuổi Giáp gặp Càn là được nạp Giáp, nhưng bị Kim khắc Mộc, hư nhiều thực ít, thành thử cách hợp lý cũng bị giảm đi. Trái lại tuổi Nhâm gặp Càn vừa nạp Giáp vừa được thể, nên hợp lý hoàn toàn. Đại để các tuổi khác cũng cứ theo thế mà suy luận.

Chúng tông và chúng tật: một mình đứng giữa đám đông

Có người đi đến đâu cũng được cả đám đông đi theo. Có người đi đến đâu cũng bị đám đông quay lưng. Điều đó đã nằm sẵn trong một quẻ có đúng một hào lạc loài.

Quẻ nào có một hào Dương năm hào Âm như quẻ Sư, hoặc một hào Âm năm hào Dương như quẻ Đồng Nhân, là quẻ mang ý nghĩa chữ chúng. Chúng là quần chúng, là đám đông. Tức là một hào đơn lẻ gặp năm hào khác loài, một mình đứng đối thủ với đám đông. Hoặc họ theo mình, gọi là chúng tông; hoặc họ ghét mình, gọi là chúng tật.

Chúng thương đều phải có lý do. Nếu chúng theo thì ắt hẳn mình có tư cách gì đó, không ngoài hào vị trung chính lại được yểm trợ thì tất được thương. Chúng ghét cũng phải có lý do, và lý do ấy nằm ở nơi mình: nếu bất trung bất chính lại thiếu yểm trợ thì tất bị ghét.

Sáu quẻ chúng đều theo

  • Sơn Địa Bác: quân tử được xe, tiểu nhân bị bóc nhà.
  • Thủy Địa Tỷ: ngoài hiền gần gũi, cát; thân cận công khai.
  • Lôi Địa Dự: trí lớn làm nên việc.
  • Địa Sơn Khiêm: muôn dân đều phục, đặc biệt được tốt về sau.
  • Địa Thủy Sư: ở giữa ba quân nên tốt.
  • Địa Lôi Phục: đại cát nguyên cát, tốt từ gốc, đại lợi.

Những quẻ chúng đều ghét

  • Trạch Thiên Quải: không còn hào để gọi ai được nữa, rốt cuộc có hung.
  • Phong Thiên Tiểu Súc: lời xưa ghi là thương hợp chí giả.
  • Thiên Hỏa Đồng Nhân: cùng nhóm với người nhưng chỉ nghiêng về tông phái của mình nên thẹn.
  • Thiên Phong Cấu: ràng buộc yếu ớt, thấp kém khó trói buộc được ai.

Hai quẻ Hỏa Thiên Đại Hữu và Thiên Trạch Lý cũng thuộc nhóm một hào lạc loài, nhưng không kèm lời nhận xét riêng.

Mười thể cách gói lại trong vài câu

Sau đủ thứ bảng biểu, còn lại một câu để nhớ: hợp thời thì thịnh, nghịch thời thì nguy.

Mười thể cách tốt xấu có thể gói gọn vào mấy ý. Lời xưa nói rằng thuận mùa sinh thì thịnh, nghịch mùa sinh thì nguy. Quẻ và hào hợp thời, hợp nguyệt lệnh, lại được tên quẻ tốt, lời hào đẹp, được hào vị, có yểm trợ, thì là phú quý song toàn. Trái lại thì là bần tiện.

Thuận thời giả xương, nghịch thời giả vong.

Mỗi phần có một việc riêng. Muốn biết lớn hay nhỏ thì xem quẻ. Muốn biết sang hay hèn thì xem hào ở vị cao hay thấp. Muốn biết cát hay hung thì xem hào là Âm hay Dương. Lời xưa chốt lại bằng ba vế:

Quái định tiểu đại, vị định quý tiện, hào định cát hung.

Có thêm một dặn dò về trường hợp tổng số Âm Dương quá mức. Khi tổng số quá nhiều mà tuổi Dương lại ngồi hào Nguyên Đường Âm, hoặc tuổi Âm ngồi hào Nguyên Đường Dương, thì tất nhiên tuổi Dương lúc đầu cùng khốn, sau mới được phú lợi; còn tuổi Âm là người trọng lợi mà xem nhẹ thanh danh.

Nguồn: Giáo trình Bát Tự Hà Lạc.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bát Tự Hà Lạc