Bài tổng quan
Thiên Vi Càn: rồng ẩn, rồng bay và lúc phải biết lùi
Trời đi mạnh mẽ suốt ngày đêm, vậy mà con rồng đầu tiên vẫn phải nằm yên dưới vực. Sáu bậc thời vận đi từ ẩn đến bay, và bậc cuối cùng lại là bậc nguy nhất... Rồng nào biết lùi đúng lúc thì giữ được vận?
Mục lục · 12 phần
- 01Quẻ đẹp nhất của Kinh Dịch và cái tên "Kiện"
- 02Sinh vào tháng nào thì quẻ Càn phát phúc
- 03Bốn đức nguyên, hanh, lợi, trinh
- 04Bức tranh chung: thịnh cực thì đã chứa mầm biến
- 05Quẻ Càn trả lời từng chuyện đời
- 06Hào sơ cửu: rồng còn ẩn dưới vực
- 07Hào cửu nhị: rồng hiện ngoài đồng ruộng
- 08Hào cửu tam: suốt ngày chăm chỉ, tối đến vẫn lo
- 09Hào cửu tứ: có thể nhảy vọt lên, cũng có thể lui về vực
- 10Hào cửu ngũ: rồng bay trên trời
- 11Hào thượng cửu: rồng lên quá cao
- 12Dụng cửu: sáu hào dương không ai làm chủ
Quẻ đẹp nhất của Kinh Dịch và cái tên "Kiện"
Quẻ số một mang tên Thiên Vi Càn, sáu vạch đều là vạch liền, sáu hào đều là dương. Người xưa còn gọi là Kiện, nghĩa là cương cường, khỏe mạnh, không biết mệt. Trong bốn mùa, quẻ thuộc tháng Tư, lúc khí dương đã đầy. Quẻ được xếp vào hàng quẻ tốt, và nhiều người cho rằng đây là quẻ đẹp nhất của cả bộ Kinh Dịch; nam giới gặp quẻ này là điều rất đáng mừng.
Hình tượng của quẻ là trời đi. Trời vận hành mãi theo vòng chu thiên, không một phút dừng nghỉ, nên bậc quân tử nhìn vào đó mà tự rèn cho mình sự cường kiện, ngày đêm không ngơi.
Thiên hành kiện. Quân tử dĩ tự cường bất tức.
Nghĩa là: trời đi mạnh mẽ, người quân tử lấy đó mà tự làm mình mạnh lên, chẳng hề ngừng nghỉ. Chữ quân tử ở đây là cách gọi cổ để chỉ người có học thức, có tài và có đức. Người biết thời đọc quẻ này sẽ hiểu rằng sức mạnh phải đến từ nội lực của chính mình chứ không mượn ở ngoài. Việc bản thân, việc nhà hay việc nước đều theo một lẽ ấy, và theo được thì tốt vô cùng.
Sinh vào tháng nào thì quẻ Càn phát phúc
Trong cách tính Hà Lạc, người có quẻ Càn còn phải xét xem mình sinh vào mùa nào. Bảng sáu mươi Hoa Giáp hợp quẻ cho thấy các tuổi Giáp và Nhâm, với các chi Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất, là những tuổi được quẻ này đón nhận rất tốt.
Ai sinh từ tháng Hai đến tháng Tám là sinh đúng mùa, hưởng được phúc đức. Dù hào Nguyên Đường nằm ở vị trí kém thì vẫn cứ tốt. Nếu không rơi vào những tuổi trên, lại sinh trái mùa, thì dẫu hào vị có đẹp cũng thành người vất vả, long đong, thêm tính hay kiêu và hay dối trá.
Người thuộc quẻ này sinh vào tháng Ba, Sáu, Chín, Mười hai, tức những tháng thuộc Thổ, là tốt, vì Thổ sinh Kim. Sinh tháng Bảy được tháng sinh trợ. Sinh vào các tháng ấy là hợp thời hợp quẻ, đời gặp nhiều may mắn thuận lợi, nhiều phúc lộc, và dù giờ sinh rơi vào hào vị kém cũng dễ thành công. Ngược lại, sinh không hợp tháng thì cho dù hào vị tốt cũng vẫn gặp gian nan. Đó là kết quả của việc tính số lý kết hợp với sự tương tác Âm Dương, Ngũ Hành trong hệ Can Chi, cộng với kinh nghiệm dự báo người xưa để lại.
Vận Càn công nghiệp ai bì, rồng bay chín cõi nam nhi thỏa lòng.
Bốn đức nguyên, hanh, lợi, trinh
Lời Thoán của quẻ chỉ có bốn chữ: Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh. Nguyên là thuở ban đầu, như hạt giống vừa gieo xuống đất, là gốc của vạn vật và cũng có nghĩa là lớn. Hanh là hanh thông, thuận tiện, bao trùm mọi điều hay, như trời sinh ra cây cỏ rồi còn làm ra mây mưa cho muôn loài lớn lên. Lợi là thích đáng, thỏa mãn, hòa hợp với lẽ phải và những điều nên làm. Trinh là chính đáng và bền, như cây đã kết trái thì trong trái có hạt, hạt lại gieo xuống thành cây, tức là trở về với Nguyên. Đạo trời cứ có trước có sau, tròn khép như vậy nên được xem là lớn lao.
Người xưa mượn hình tượng con rồng lớn bay chín cõi để kể về các thời của sáu hào trong quẻ.
Bức tranh chung: thịnh cực thì đã chứa mầm biến
Càn là quẻ tốt, dương khí cực thịnh, chỉ một thời thịnh trị, lợi cho mọi việc tích cực, là thời để người quân tử thi thố tài năng. Nhưng chính vì dương thịnh đến cực nên lòng quẻ đã chứa sẵn cái sắp suy: hào thượng cửu nằm tận cùng phía trên ôm trong mình mầm biến đổi. Vì thế phải biết cơ trời mà hành động cho đúng lúc.
Khi còn ở hào sơ cửu phải kiên nhẫn chờ thời. Đến hào cửu nhị, cửu tam, cửu tứ là thời cơ thuận lợi để triển khai công việc. Sang hào cửu ngũ là lên tới đỉnh thành công, cần mẫn lo việc chung, không được lơ là và phải luôn đề phòng điều thái quá.
Đầu vận chưa thể vội, nóng nảy dễ hỏng. Giữa vận sung mãn thì phải biết nương vào người có đạo đức mà tận lực làm việc để đạt kết quả như ý. Cuối vận phải dự phòng những thay đổi bất thường, vì hậu quả có thể xấu. Ai đang gặp quẻ này giữa lúc khó khăn thì tương lai vẫn sáng sủa.
Quẻ Càn trả lời từng chuyện đời
Về công việc nói chung, quẻ báo thế khởi đầu có khó rồi sau về tài lộc. Tài vận: tốt về sau. Kiện tụng: nên hòa giải. Thi cử: dễ thành đạt, được thanh danh. Xuất hành: tốt, gặp may. Kinh doanh: lúc đầu có khó khăn, về sau nhiều tài lộc. Bệnh tật: gặp quẻ này thì không lợi, có thể bị bệnh nặng. Tìm việc: có người giúp đỡ thì dễ dàng, nóng nảy thì không tốt. Hôn nhân gia đình: lúc đầu khó, sau thuận lợi; riêng đối với nữ giới thì nhiều trắc trở.
Hào sơ cửu: rồng còn ẩn dưới vực
Tiềm long vật dụng.
Con rồng còn nằm sâu dưới vực, đừng vội dùng đến. Tài chưa đem ra dùng được, vì thời cơ chưa tới. Hào được xếp vào hào xấu, nhưng cái xấu ở đây là xấu của người nôn nóng: nếu vội hành động thì hào một dương sẽ biến thành hào âm, quẻ Càn đổi thành quẻ Thiên Phong Cấu, dễ vướng sai lầm, làm điều sai trái, cần đề phòng kẻ xấu hãm hại.
Đức tính của hào là kín đáo, nên giữ nếp thường. Người ở hào này nên thu mình, giữ thế, tu đức, luyện tài, không cầu danh, không ai biết đến mình cũng không buồn, không điều gì lay chuyển được ý chí. Hào một nằm ở dưới thấp, thời kỳ đầu tiên, giống con rồng còn nấp dưới vực sâu, chưa thể biến hóa làm mây làm mưa, còn phải đợi thời.
Với người mệnh hợp cách, đó là người học rộng nghĩ nhiều, lòng an tĩnh, không nôn nao chuyện danh lợi. Với người mệnh không hợp cách, đó là cảnh nương náu nơi địa vị thấp kém, tài mỏng sức yếu, đức mọn, chịu đựng hình khắc và gian nan. Về vận hạn trong năm: giới quan chức gặp trở ngại nên lùi bước; giới học trò trì trệ, lận đận; nhà buôn thì ế ẩm; chỉ thầy tu và người hành pháp thuật là yên vui; đàn bà làm ăn thịnh vượng, sinh nở dễ dàng.
Dương mới sinh, hãy còn tối, nên tiềm tàng, chớ dùng vội. Bao giờ sáng tỏa bốn phương, bấy giờ tiến vị cao sang hơn người.
Hào cửu nhị: rồng hiện ngoài đồng ruộng
Hiện long tại điền, lợi kiến đại nhân.
Con rồng đã hiện ra ở đồng ruộng, có lợi khi đi gặp bậc đại nhân. Ruộng là nơi bằng phẳng, dễ đi. Thời cơ đã đến, nên tìm người có tài, có địa vị để ra mắt. Sinh đúng thời thì dễ làm nên danh nghiệp, sinh không hợp thời thì vẫn tạo được phúc lộc. Người ở hào này có đức lớn, gặp thời hiển đạt, khiến mọi người tin tưởng và gặp được người cao quý thì có lợi.
Hào hai là dương, lại đắc trung, hào ứng với nó là hào năm cũng dương và đắc trung. Đó là thế gặp thời, tài đức đủ để giúp đời, nên ví như con rồng rời vực sâu hiện lên trên cánh đồng. Người mệnh hợp cách có danh có lợi, dựng được cơ nghiệp, nhà cửa đàng hoàng. Người mệnh không hợp cách vẫn là người thẳng thắn, làm điều phải, lòng thiện, có phúc lộc. Vận hạn: quan chức gặp người sáng suốt; học trò thi đỗ cao; nhà nông thu hoạch, buôn bán có lời, nhà thêm người; người thường nhờ quý nhân dẫn dắt; nữ mệnh có chồng làm nên giàu sang.
Hào cửu tam: suốt ngày chăm chỉ, tối đến vẫn lo
Quân tử chung nhật kiền kiền, tịch dịch nhược lệ, vô cữu.
Người quân tử suốt ngày chăm chỉ không ngừng, tối đến vẫn còn nơm nớp lo, như vậy thì không có lỗi. Hào này là rồng đã ra khỏi vực, trăng đã tròn, quý nhân đã lộ mặt mà lòng người vẫn còn nghi hoặc. Lời hào khuyên rằng đã ra thi thố tài năng thì phải luôn cố gắng, giữ mình ngay thẳng, biết lo trước tính sau. Hấp tấp nóng nảy dễ thất bại. Người quân tử thức thời suốt ngày căng thẳng như ở thế nguy mà rốt cuộc không bị lỗi gì. Hào này không hợp với nữ mệnh.
Hào ba là dương nằm ở ngôi dương nên rất cương, nhưng không đắc trung. Nó lại nằm trên cùng của quẻ nội mà chưa lên được quẻ ngoại, tức là đứng ở chỗ chông chênh, khó xử, nên gọi là nguy hiểm. Dẫu vậy nó vẫn là bậc quân tử có đức tự cường, lúc nào cũng thận trọng như lo sợ, vì thế tuy gặp thời nguy mà không đến nỗi tội lỗi. Nên ra sức siêng năng, lo bù những chỗ thiếu sót, sửa chỗ sai lầm; người rất ngay thẳng, công bằng, chăm đường học vấn và việc thực hành.
Mệnh hợp cách: tính ngay thẳng, thích công bằng, chăm học hành, khó mà thành dễ. Mệnh không hợp cách: chăm đấy rồi lại lười đấy, nóng vội, thiếu thận trọng, hành động nóng nảy. Vận hạn: quan chức phải kiêm nhiệm, việc phức tạp, cần rất cẩn thận mới tránh được sai sót; học trò chưa đến thời thành đạt, thi cử khó khăn; người thường long đong xuôi ngược, đồng tiền khó kiếm; nữ mệnh nóng tính, hình khắc thương tổn, khó yên bề nội trợ. Mọi việc nên xét kỹ rồi hãy làm, kẻo thua thiệt. Đi về hướng Tây Bắc thì thuận, lùi bước mới yên.
Bước đi không cản trở, trước lo sau mới mừng. Rồng bay không thấy bóng, Tây Bắc vốn quê hương.
Hào cửu tứ: có thể nhảy vọt lên, cũng có thể lui về vực
Hoặc dược tại uyên, vô cữu.
Hoặc nhảy lên, hoặc ở lại nơi vực sâu, đều không có lỗi. Chữ "hoặc" ở đây cho thấy không có một định lệ cố định: lúc đáng làm thì làm, lúc đáng dừng thì dừng, thế đổi thì mình đổi theo thời. Hào này nói về người dù chưa thành đạt, còn gặp nhiều gian nan, nhưng đang ở thế như rồng phải vượt vực sâu, vị thế của người quân tử vì thế cũng không có lỗi. Người mệnh hợp vẫn phải chờ để bắt đầu lập nghiệp, xem thời thế mà tiến hay lui, lên hay xuống, rèn luyện thêm thì gặp thời sẽ hiển đạt. Mệnh cốt là không làm điều cong queo. Hào này không hợp với nữ mệnh và người tu hành.
Hào bốn là dương ở ngôi âm, vừa không đắc chính vừa không đắc trung, cũng chông chênh như hào ba, đứng ở đầu quẻ ngoại: tiến chưa chắc tốt, lui thì lại dở dang. Khác hào ba ở chỗ hào này còn có thể tiến, hào ba thì không tiến được.
Mệnh hợp cách: tùy thời cơ mà quyết định đi hay dừng, giữ đạo đức, chăm rèn nghề, làm gì cũng đúng thời; người có chí học hành sẽ đỗ đạt thành danh. Mệnh không hợp cách: dù muốn phú quý, rốt cuộc không thành vì tính hay nghi ngại, đa nghị. Vận hạn: quan chức chờ nhiệm vụ; học trò chờ thời; người thường mọi việc trì trệ vì nghi ngờ; thầy tu và nữ mệnh thì yên vui, nhiều lợi lộc.
Muốn đi tìm ngọc non xa, cánh buồm ngàn dặm rời nhà bâng khuâng.
Hào cửu ngũ: rồng bay trên trời
Phi long tại thiên, lợi kiến đại nhân.
Rồng bay trên trời, có lợi khi gặp bậc đại nhân. Người có học vấn, tư cách cao quý, có địa vị trong xã hội gặp hào này là đúng chỗ. Người tầm thường, nhỏ mọn gặp hào này thì chỉ thêm vất vả, khốn đốn. Hào năm hội đủ mọi điều tốt: vừa cao quý ở ngôi chí tôn, vừa chính, vừa trung, lại có hào hai ứng với nó cũng cương kiện và đắc trung.
Mệnh hợp cách lập công danh lớn, phú quý lớn. Mệnh không hợp cách khó đương nổi nhiệm vụ: chí tuy lớn nhưng khó toại nguyện. Vận hạn: quan chức được đánh giá cao; học trò gặp cơ hội tiến thân, lên cao; người thường gặp quý nhân đề cử, hoặc dựa được vào nơi có thế lực, có thể xây nhà lớn như cung điện; nữ mệnh nắm quyền đàn ông, khó tránh cô đơn, hình khắc, thương tổn; người số xấu thì gặp việc dữ, lôi thôi chuyện quan. Hào năm là hào tốt nhất của quẻ, chỉ tốt thực sự với người cao quý có mệnh hợp cách; kẻ tầm thường, mệnh không hợp cách càng gặp càng xấu.
Hào thượng cửu: rồng lên quá cao
Kháng long hữu hối.
Rồng bay lên cao quá thì sẽ có chuyện hối hận. Ý hào là đã lên đến tột đỉnh mà không biết sửa mình, chỉ biết tiến không biết lui, thì hối hận tất đến mà không kịp. Gặp hào này mọi giới phải biết phòng thân vì đây là hào sắp biến. Quá năm mươi tuổi gặp hào này dễ tổn thọ. Hào thượng cửu là hào không đúng vị, ngôi âm mà hào dương nên bấp bênh; khi đã lên chỗ cao tột vời thì sẽ gặp cái chông chênh nguy hiểm của sự thịnh vượng, như rồng bay quá cao không xuống được nữa, hễ hành động thì có điều đáng tiếc.
Mệnh hợp cách: ngôi quý đầy đặn nhưng không phải chính danh, nếu biết khiêm nhường thì còn giữ được giàu sang bền; sinh hợp tháng, hợp thời thì đỡ hơn. Mệnh không hợp cách: tự kiêu tự đại, dễ phạm luật, làm bậy, khó thành công; sự nghiệp khó bền, có cố giữ thì cuối cùng cũng nhanh chóng thành kẻ mất danh tiếng. Nữ mệnh hung hãn, việc nhà bê bối, không thạo nội trợ, không quản lý nổi gia đình. Vận hạn: quan chức nên lui bước kẻo bị cách chức; học trò được đề bạt lên cao rồi lại bị bẻ gãy; người thường cương quá nên hỏng việc.
Biết ở đã cao chớ quá càng lo, biết cơ tiến thoái trời cho an nhàn.
Dụng cửu: sáu hào dương không ai làm chủ
Dụng cửu có nghĩa là không có hào nào làm chủ, không phải dùng đến quyền lực của một cá nhân nào, chỉ có sáu hào dương cùng đứng, thể hiện bốn đức tính cốt lõi của Tạo Hóa là Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh. Đó là điều tốt đẹp nhất mà một quẻ có thể có.
Nguồn: Trung tâm Đào tạo Phong thủy sư, Hà Lạc Lục Thập Tứ Quẻ.
