Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Bói Dịch

Bài tổng quan

Bảy truyện phụ giải Kinh Dịch, truyện nào đáng đọc

Bói Dịch26/09/202614 phút đọc6 lượt đọc
Bảy truyện phụ giải Kinh Dịch, truyện nào đáng đọc

Từ Hệ từ luận bàn lung tung không theo thứ tự nào, đến Tạp quái truyện chỉ vỏn vẹn vài chữ đối nhau cho có vần, bảy thiên chú giải phụ vào Kinh Dịch không thiên nào giống thiên nào. Có thiên tìm ra được cả dấu vết đời sống người viết, có thiên bị chính Nguyễn Hiến Lê thẳng thắn xếp vào loại tầm thường nhất. Đọc hết bảy truyện, ông rút ra một bảng xếp hạng...


Hệ từ truyện: bàn lung tung mà không rõ ai viết

Hệ từ truyện cũng gồm hai thiên thượng và hạ, nhưng có lẽ chỉ vì dài nhất (nên còn có tên là Đại truyện) mà chia hai, chứ cả hai thiên đều chứa những nhận xét linh tinh, những chú giải chung về Chu Dịch, sắp đặt lộn xộn, không theo một thứ tự nào cả.

Theo Chu Hi thì Hệ từ (buộc lời) vốn là của Văn Vương và Chu Công làm ra rồi buộc ở dưới mỗi quẻ, mỗi hào, thành lời kinh văn ngày nay; còn Hệ từ truyện là lời Khổng Tử giải thích Hệ từ, và đồng thời bàn về cả đại thể của kinh.

Lời của Chu Hi rất lờ mờ. Nếu Hệ từ là những lời của Văn Vương và Chu Công viết ra để giảng thêm và buộc vào dưới mỗi quẻ mỗi hào, thì tất phải phân biệt được lời nào thuộc quẻ nào, lời nào thuộc hào nào, chứ sao lại hầu hết là những lời bàn về đại thể của kinh, như chúng ta thấy ngày nay.

Xét nội dung của Hệ từ truyện, không thấy phần nào là Hệ từ, phần nào là Hệ từ truyện để giải thích Hệ từ, chỉ thấy toàn là những đoạn bàn về: lẽ càn khôn (thiên thượng, chương 1); việc thánh nhân làm dịch (thiên thượng, chương 2); sự to lớn của đạo dịch (thiên thượng, chương 4, 7); lẽ âm dương (thiên thượng, chương 5, 8); các con số đại diễn trong dịch và phép bói (thiên thượng, chương 9); công dụng của đạo dịch (thiên thượng, chương 10); việc bói (thiên thượng, chương 11, 12); sự tốt xấu trong quẻ và hào (thiên hạ, chương 1); cổ nhân lấy tượng ở các quẻ mà tạo ra đồ dùng (thiên hạ, chương 2); luật tuần hoàn và luân lí trong dịch (thiên hạ, chương 5); hào nhị và hào tứ khác nhau ra sao, hào tam và ngũ khác nhau ra sao (thiên hạ, chương 9); xét chung về dịch (thiên hạ, chương 12)...

Như vậy lời của Chu Hi sai: chúng ta chắc chắn rằng Văn Vương và Chu Công không hề viết Hệ từ. Mà Khổng Tử cũng không hề viết Hệ từ truyện, vì có nhiều đoạn bắt đầu bằng chữ "Tử viết" (thầy nói) – chẳng hạn đoạn ở đầu chương 7 thiên thượng, đoạn cuối chương 8 thiên thượng, đoạn cuối chương 9 thiên hạ. Chỉ có thể bảo rằng Hệ từ truyện do môn sinh xa của Khổng Tử chép lại thôi, mà cũng không phải của một môn sinh, tất phải là cả một nhóm môn sinh chép. Vũ Đồng bảo truyện này xuất hiện chậm hơn hai truyện Thoán truyện và Tượng truyện; Nguyễn Hiến Lê ngờ rằng có một số chương, như chương 9 thiên thượng viết về các con số, xuất hiện vào cuối Chiến Quốc hoặc đầu Hán.

Điều đáng chú ý: cả trong Thoán từ, Hào từ, Thoán truyện, Tượng truyện, không hề thấy chữ "dịch"; trong Hệ từ thượng truyện, chương 4, mới xuất hiện chữ đó: "dịch dữ thiên địa chuẩn" (đạo dịch làm chuẩn đích với trời đất). Hai chữ "âm dương" cũng chỉ xuất hiện ở Hệ từ thượng truyện, chương 5: "nhất âm nhất dương chi vị đạo" (một âm một dương gọi là đạo). Cũng trong truyện này, lần đầu tiên thấy nói đến Bào Hi (Phục Hi), Hà Đồ, Lạc Thư.

Văn ngôn truyện: dấu vết của một người sống sau Tử Tư

Văn ngôn truyện (giảng về "lời văn", tức lời kinh) tuy ngắn nhưng cũng quan trọng, cũng có những ý sâu sắc, cũng do Khổng phái viết – theo Vũ Đồng thì vào đời Tần.

Truyện này chia làm hai thiên: thiên thượng bàn về quẻ Thuần Càn, thiên hạ bàn thêm về quẻ Thuần Khôn (nhiều sách chỉ kể là một thiên), nói về ý nghĩa của hai quẻ đó đối với bản tính và hành vi của con người. Sáu quẻ thuần khác (Khảm, Li, Cấn, Đoài, Chấn, Tốn) không được bàn thêm như vậy, có lẽ vì không có ý nghĩa gì liên quan chặt chẽ với con người như hai quẻ Càn, Khôn.

Lời văn trong Văn ngôn truyện có chỗ giống Trung Dung, Đại Học, có chỗ giống văn Mạnh Tử. Chẳng hạn Trung Dung, chương 11, viết: "quân tử y hồ trung dung, độn thế, bất kiến tri nhi bất hối" (người quân tử theo đạo trung dung, trọn đời chẳng ai thấy biết mình mà không ăn năn); Văn ngôn quẻ Càn, hào 1, cũng viết: "độn thế vô muộn, bất kiến thị nhi vô muộn" (trốn đời mà không buồn, đời không cho mình là phải mà cũng không buồn). Hay Trung Dung, chương 13: "dung đức chi hành, dung ngôn chi cẩn" (thực hành cái đức bình thường mà cẩn trọng trong lời nói bình thường); Văn ngôn quẻ Càn, hào 2, cũng viết: "dung ngôn chi tín, dung hành chi cẩn" (trong lời nói thường ngày giữ được đức tín, trong hành vi thường ngày giữ đức cẩn trọng). Vì có những chỗ giống nhau như vậy nên tác giả Văn ngôn truyện không phải là Khổng Tử mà là một người sống sau Tử Tư, tác giả Trung Dung.

Lời văn có chỗ không đều: có nhiều đoạn ý sâu sắc, lời cô đọng, đăng đối, như đoạn dưới đây giảng về hào 3 quẻ Càn:

"Tử viết: Quân tử tiến đức tu nghiệp, trung tín sở dĩ tiến đức dã; tu từ lập kì thành, sở dĩ cư nghiệp dã; tri chí chí chi, khả dữ cơ dã; tri chung chung chi, khả dữ tồn nghĩa dã. Thị cố cư thượng vị nhi bất kiêu, tại hạ vị nhi bất ưu."

Thầy nói: người quân tử tiến đức tu nghiệp, giữ trung tín để tiến đức, sửa lời nói, giữ lòng thành để lập sự nghiệp; biết được như thế mới là biết đến nơi, biết được đến nơi thì làm cho đến nơi, do đó có thể thấu được đạo lí vi diệu; biết được chỗ cuối cùng của sự việc thì làm cho tới chỗ cuối cùng, do đó mà giữ được điều nghĩa – cho nên người quân tử ở địa vị cao mà không kiêu, ở địa vị thấp mà không lo. Rõ ràng đoạn đó chịu ảnh hưởng của Đại Học, Trung Dung.

Trái lại, có những câu ngắn không diễn một ý gì mới, chỉ như lặp lại lời trong Tiểu Tượng truyện: "tiềm long vật dụng, hạ dã", rồi câu "tiềm long vật dụng, dương khí tiềm tàng" – hai câu đó đều ở trong Văn ngôn truyện, quẻ Càn, so với câu trong Tiểu Tượng truyện "tiềm long vật dụng, dương tại hạ dã" thì có khác gì đâu, thật rườm.

Vì vậy Nguyễn Hiến Lê sẽ không dịch trọn Văn ngôn truyện, chỉ lựa ít đoạn bổ túc cho Thoán truyện, Tượng truyện, cho xen vào lời giảng hai quẻ Thuần Càn, Thuần Khôn ở phần sau.

Thuyết quái truyện: khi tám quẻ hóa thành muôn vật

Thuyết quái truyện giảng về tám quẻ đơn căn bản. Truyện này chỉ có một thiên gồm 11 chương ngắn, bàn nhiều về bói, chủ ý để dùng vào việc bói, và nhiều chỗ nghĩa rất tối, không ai hiểu được, như ở các chương 5, 6, 10, 11; nội dung cũng không đều, vài đoạn có thể so sánh với Hệ từ truyện được, còn lại số lời rất thô thiển, có chỗ thoát văn. Ý nghĩa các quẻ có từ thời cổ, trước Khổng Tử xa, rồi sau môn sinh của Khổng Tử (Vũ Đồng cho là ở đời Hán) giảng thêm.

Đầu truyện, tác giả viết:

"Thánh nhân đời xưa làm Kinh Dịch để giúp việc thần minh một cách sâu kín mà đặt ra cách bói cỏ thi" (tích giả thánh nhân chi tác dịch dã, u tán ư thần minh nhi sinh thị).

Vậy mục đích Kinh Dịch là để bói. Nhưng qua chương 2, tác giả cũng bảo đạo làm người phải thuận với đạo trời, đạo đất:

"Thánh nhân đời xưa làm Kinh Dịch, là để thuận cái lẽ về tính mệnh, cho nên dựng cái đạo trời là âm với dương, dựng cái đạo đất là cứng với mềm, dựng cái đạo người là nhân với nghĩa, gồm tóm tam tài mà gấp đôi lên."

Ý muốn nói: vì có tam tài (ba ngôi trời, đất, người) nên mỗi quẻ đơn gồm ba hào – mỗi hào cho một ngôi: hào 1 là đất, hào 2 là người, hào 3 là trời – rồi hai quẻ đơn chồng lên nhau (gấp đôi lên) thành sáu hào.

Cho hiểu mục đích Kinh Dịch rồi, tác giả giảng ý nghĩa của mỗi quẻ đơn: "Càn là mạnh, Khôn là thuận, Chấn là động, Tốn là vào, Khảm là hãm, Li là sáng, Cấn là ngăn lại, Đoài là vui" (càn kiện dã, khôn thuận dã, chấn động dã, tốn nhập dã, khảm hãm dã, li lệ dã, cấn chỉ dã, đoài duyệt dã) – chương 7.

Rồi từ chương 8 đến chương 11, tác giả cho biết mỗi quẻ tượng trưng cho những vật gì: "Càn là con ngựa, Khôn là con bò, Chấn là con rồng, Tốn là con gà, Khảm là con lợn, Li là con trĩ, Cấn là con chó, Đoài là con dê" (chương 8). "Càn là trời, là hình tròn, là ông vua, là người cha, là ngọc, là vàng, là băng, là sắc đỏ thắm, là con ngựa tốt, là con ngựa già, là con ngựa gầy, là con ngựa vằn, là trái cây" (chương 11). "...Li là lửa, là áo giáp mũ sắt, là bụng lớn, là con ba ba, con cua, con trai..." (chương 11).

Trích bấy nhiêu, đã đủ để thấy giá trị của truyện này ra sao: so với phần Kinh thì nhiều chỗ không đúng, có thể là của một bọn thầy bói đặt ra, người sau chẳng phán đoán gì cả, cứ tom góp cho thật nhiều thôi.

Tự quái truyện: nối các quẻ thành một mạch chuyện

Tự quái truyện có mục đích giải thích về thứ tự các quẻ. Trong bản Chu Dịch ngày nay, 64 quẻ không sắp theo thứ tự các trùng quái của Phục Hi (dùng tiên thiên bát quái), cũng không theo thứ tự của Văn Vương (dùng hậu thiên bát quái), mà theo một thứ tự riêng: 1. Thuần Càn, 2. Thuần Khôn, 3. Thủy Lôi Truân, 4. Sơn Thủy Mông, 5. Thủy Thiên Nhu... Sự sắp đặt này không rõ có từ thời nào, do ai.

Tác giả Tự quái truyện chắc chắn không phải là Khổng Tử (Vũ Đồng ngỡ là một người đời Hán), giảng cho ta tại sao lại sắp theo thứ tự như vậy. Truyện tuy ngắn mà cũng chia làm hai thiên: thiên thượng về thứ tự 30 quẻ đầu, thiên hạ về 34 quẻ sau. Theo tác giả, sở dĩ chia như vậy là vì thiên thượng mở đầu bằng hai quẻ Càn và Khôn, nói về vũ trụ và những luật trong vũ trụ; thiên hạ mở đầu bằng hai quẻ Hàm và Hằng, nói về nhân sự và những gì xảy ra trong xã hội. Có trời đất (Càn, Khôn, tức vũ trụ) rồi sau mới có vạn vật, nam nữ (Hàm), vợ chồng (Hằng), cha con, vua tôi, lễ nghĩa... đó là sự diễn biến tự nhiên trong vũ trụ theo cách nhìn của tác giả.

Nhưng sự thực, trong thiên thượng có rất nhiều quẻ nói về nhân sự, như Tụng, Sư, Đồng Nhân, Cổ, Di, Phệ Hạp...; mà trong thiên hạ cũng có nhiều quẻ nói về luật vũ trụ như Tiệm, Tổn, Ích, Vị Tế... Vậy thứ tự của các quẻ không luôn luôn có ý nghĩa rành rẽ như tác giả muốn. Lại thêm nhiều khi ông cố gò cho có sự liên lạc về ý nghĩa giữa quẻ trước và quẻ sau, chẳng hạn bảo: có trời đất rồi vạn vật mới sinh ra, mà trong khoảng trời đất là vạn vật, cho nên tiếp tới quẻ Truân – truân là đầy, là lúc vạn vật mới sinh ra; vạn vật mới sinh thì còn non trẻ, mù mờ, cho nên tiếp tới quẻ Mông – mông là mù mờ, non trẻ; vật còn non trẻ thì phải nuôi, cho nên tiếp tới quẻ Nhu – nhu là đạo ăn uống; ăn uống tất có kiện cáo, nên tiếp theo là quẻ Tụng; kiện cáo thì tất phải có nhiều người đứng dạy, nên tiếp theo là quẻ Sư – sư là quần chúng đông người.

Nhưng các bộ Từ Hải, Từ Nguyên ngày nay không cho chữ truân nghĩa là "đầy, lúc vạn vật mới sinh ra", mà chỉ có nghĩa là gian nan; và tại sao "ăn uống tất có kiện cáo"? Sự giải thích của tác giả không khỏi có chỗ khiên cưỡng. Lời giải thích về quẻ Cấu cũng rất gượng ép: quẻ trên nó là quẻ Quải, "Quải có nghĩa là quyết, phán quyết; phán quyết xong rồi thì biết được lành hay dữ, tất có người mà gặp gỡ, cho nên sau quẻ Quải tới quẻ Cấu – Cấu là gặp gỡ". Lại thêm, để giải thích, Tự quái truyện có khi dùng một nghĩa khác hẳn với nghĩa trong Thoán từ và Hào từ: như quẻ Nhu, Tự quái truyện dùng nghĩa là cần thiết, thức ăn, để cho có sự liên lạc về ý nghĩa với quẻ Mông ở trên nó; nhưng trong Thoán từ và Hào từ thì Nhu có nghĩa là chờ đợi. Quẻ Tiểu Súc cũng vậy: Tự quái truyện dùng theo nghĩa súc là nuôi, mà Thoán từ và Hào từ thì cho súc là ngăn cản.

Mặc dầu gượng ép như vậy, Nguyễn Hiến Lê vẫn trích Tự quái truyện mà đặt lên đầu từng quẻ khi dịch các quẻ ở phần sau.

Tạp quái truyện, và lời tổng kết bảy truyện

Tạp quái truyện giải thích linh tinh (tạp) về một số quẻ. Truyện chỉ có một thiên, gồm nhiều câu ngắn, mỗi câu thường gom hai, bốn hay sáu quẻ mà giải nghĩa rất vắn tắt, chẳng cho ta biết thêm được gì cả, nhưng có vần hoặc lời đối nhau, như câu đầu: "Càn cương khôn nhu, Tỉ lạc Sư ưu" (quẻ Càn thì cứng, quẻ Khôn thì mềm, quẻ Tỉ thì vui, quẻ Sư thì lo). Có câu rất tối nghĩa như "Phệ Hạp thực dã, Bí vô sắc dã" (Phệ Hạp là ăn, Bí là không có màu sắc) – Chu Hi giải thích thêm "sắc trắng thì chịu được màu đẹp", cũng chẳng giúp hiểu thêm được gì. Legge cho truyện này chỉ là một trò chơi dùng trí (jeu d'esprit); tác giả có thể là một người đời Hán.

Tóm lại, trong bảy truyện: hai truyện đầu, Thoán truyện và Tượng truyện, để giải thích Thoán từ của Văn Vương và Hào từ của Chu Công, cần phải đọc; hai truyện kế, Hệ từ truyện và Văn ngôn truyện, có giá trị, nhiều ý nghĩa hơn cả; còn ba truyện cuối, Thuyết quái truyện, Tự quái truyện, Tạp quái truyện, rất tầm thường, tệ nhất là Tạp quái truyện.

Bảy truyện đó – cổ nhân gọi là mười vì Thoán truyện, Tượng truyện, Hệ từ truyện mỗi truyện kể là hai (thượng và hạ) – hiển nhiên là do nhiều người trong nhiều thời đại viết (có thể một số diễn lại tư tưởng của Khổng Tử, chứ ông không hề viết), cho nên giá trị không đều, tư tưởng không nhất trí, lại thêm có nhiều chỗ thoát văn, tối nghĩa, ngay cả trong Hệ từ truyện.

Cách trình bày Kinh Dịch xưa và nay

Thời mới đầu, Chu Dịch sắp riêng phần kinh (Thoán từ và Hào từ) rồi mới tới phần truyện. Về sau, có lẽ bắt đầu từ Phí Trực và Trịnh Huyền đời Hán, tiếp đến Vương Bật đời Ngụy, người ta mới sắp lại, cho Thoán truyện, Tượng truyện và Văn ngôn truyện – tức những truyện giải thích các quẻ, các hào – xen vào phần kinh, sau mỗi quẻ, mỗi hào. Như vậy chỉ còn Hệ từ truyện, Thuyết quái truyện, Tự quái truyện, Tạp quái truyện là in riêng ở cuối phần kinh. Các bản Chu Dịch chữ Hán ngày nay đều trình bày như vậy.

Nguyễn Hiến Lê thấy cách đó tiện cho người đọc, nên theo cụ Phan Bội Châu, trích thêm Tự quái truyện cho vào đầu mỗi quẻ; còn Thuyết quái truyện và Tạp quái truyện thì giới thiệu như trên là đủ, không dịch hay trích dẫn thêm nữa.

Nguồn: Nguyễn Hiến Lê, Kinh Dịch – Đạo của người quân tử, Chương II.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Bói Dịch