Bài tổng quan
Vương Bật, Trần Đoàn và nghìn năm biến chuyển của Dịch học
Tần Thủy Hoàng đốt sách khắp thiên hạ nhưng tha Kinh Dịch vì tưởng nó chỉ là sách bói, và chính kẽ hở ấy đã mở đường cho gần hai nghìn năm tranh luận sau này. Có người dùng nó tính lịch thiên văn, có người biến mỗi quẻ thành hàng nghìn quẻ mới không ai theo nổi, cho tới khi một người quét sạch mọi thứ huyền bí, và một đạo sĩ khác lại mở ra một nẻo hoàn toàn mới: thuật đoán số mệnh mà hậu thế gọi là...
Vì sao Kinh Dịch trở thành khu rừng trăm ngả
Vì Dịch học chỉ xây dựng trên 64 quẻ do hai vạch âm dương chồng lên nhau, đổi chỗ cho nhau ba bốn lần mà thành, cho nên nó có một sức hấp dẫn lạ lùng, ai cũng tò mò muốn biết; mà những người có óc tưởng tượng dồi dào có thể dễ dàng cho mỗi quẻ một ý nghĩa mới, giảng mỗi quẻ theo vũ trụ quan, nhân sinh quan của mình – ý nghĩa đó càng huyền bí thì lại càng có vẻ thâm thúy. Do đó mà không một danh nho nào từ đời Hán đến đời Thanh không tìm hiểu Kinh Dịch, hiệu đính, chú thích, và một số đã tạo cho nó một nội dung mới khác xa nội dung thời Văn Vương, Chu Công. Nó gần thành một thứ khoa học biến hóa theo thời đại.
Số sách viết về Kinh Dịch trong hơn 2.000 năm nay rất nhiều, không ai đọc hết được, nên chỉ có thể phác họa vài nét chính về lịch sử Dịch học trong mỗi thời đại.
Đời Hán: Kinh Dịch thoát nạn đốt sách rồi rẽ thành hai phái
Tần Thủy Hoàng ra lệnh đốt hết các sách về triết học, văn học, sử học, chỉ cho giữ những sách dạy nghề; mà môn bói thời đó là một nghề được trọng, cho nên Kinh Dịch không bị hủy. Một số học giả nhân cơ hội đó nghiên cứu Kinh Dịch, lén gài vào các Truyện một số tư tưởng của Nho, Lão hoặc của chính họ để giải thích Kinh Dịch. Nhờ vậy mà qua đời Hán, Dịch học rất thịnh.
Đại khái có thể chia làm hai phái: phái thứ nhất gồm Phí Trực, Trịnh Huyền, Tuân Sảng, Tiêu Diên Thọ, theo truyền thống Nho giáo, vẫn coi Dịch là sách bói và luân lí mà phát triển thêm; phái thứ nhì chỉ có Kinh Phòng là trứ danh, lập ra môn học Tượng số.
Phí Trực sắp đặt lại Kinh Dịch, giải thích Dịch theo tư tưởng Nho gia; ông truyền cho Mã Dung, Mã Dung lại truyền cho Trịnh Huyền. Trịnh Huyền dùng Thi, Thư, Lễ, Nhạc để giảng Kinh Dịch, rất chú trọng cái học huấn hỗ, chú giải tỉ mỉ, dẫn chứng kỹ lưỡng. Ông còn coi mười hai hào của quẻ Càn và quẻ Khôn là mười hai "thần", tức mười hai ngôi sao hành tinh, muốn dùng Dịch để lập một thuyết thiên văn học, nhưng sáng kiến đó không có giá trị, ít người theo.
Tuân Sảng đưa ra thuyết "thăng giáng", bảo hào 2 của quẻ Càn nên thăng lên hào 5 của quẻ Khôn; hào dương của quẻ Càn thăng lên ở quẻ Khôn thì gọi là "vân hành" (mây bay), hào âm của quẻ Khôn giáng xuống ở quẻ Càn thì gọi là "vũ thi" (mưa rơi). Thuyết đó hẹp hòi, cũng không ai theo.
Tiêu Diên Thọ có sáng kiến cho mỗi quẻ trùng biến thành 64 quẻ, thành ra 64 × 64 = 4.096 quẻ; cách đó cũng không ai theo, vì số quẻ nhiều quá, không thể đặt tên giải thích cho hết được. Ông còn lấy mỗi hào làm chủ cho một ngày: 64 quẻ có 384 hào, mà mỗi năm chỉ có 365 hay 366 ngày, còn dư gần 20 hào nữa, dùng làm gì cũng không rõ.
Chỉ có môn học tượng số của Kinh Phòng là có ảnh hưởng đến đời sau. Môn học đó nhằm giải thích vũ trụ bằng biểu tượng và số mục. Về số, Hệ từ truyện, thiên thượng, chương 9, đã nói: số của trời là một, của đất là hai, của trời là ba, của đất là bốn, của trời là năm, của đất là sáu, của trời là bảy, của đất là tám, của trời là chín, của đất là mười. Như vậy những số lẻ từ 1 đến 9 là số dương, số của trời; những số chẵn từ 2 đến 10 là số âm, số của đất. Số của trời có năm con: 1, 3, 5, 7, 9, cộng lại là 25; số của đất cũng có năm con: 2, 4, 6, 8, 10, cộng lại là 30.
Tác giả chương đó có thể sống vào đầu đời Hán, và Kinh Phòng có thể dựa vào đó để lập ra môn tượng số, đại khái chủ trương rằng hết thảy sự vật trong vũ trụ và hết thảy biến hóa của sự vật đều có thể biểu thị bằng những biểu tượng, và hết thảy sự vật trong vũ trụ đều cấu thành, biến hóa theo quy luật của một số mục. Chẳng hạn theo sách Hoài Nam Tử đời Hán, người Trung Hoa cho rằng loài người nằm trong bụng mẹ 10 tháng rồi mới ra đời, vì 10 là một chục, mà 1 là số của mặt trời, trời chi phối loài người; còn loài ngựa mang thai 12 tháng mới sinh, vì 2 là số của mặt trăng, mà mặt trăng chi phối loài ngựa.
Người đời sau cho thuyết của Kinh Phòng là lôi thôi, phiền toái, làm mất tính cách triết học rất nhiều, và phải đợi tới đời Tống, Thiệu Khang Tiết mới phát huy môn tượng số cho có thêm màu triết học.
Từ Tam Quốc tới Ngũ Đại: Vương Bật quét sạch bói toán, Trần Đoàn mở lối Tử Vi
Đời Tam Quốc có Ngu Phiên nhấn mạnh thuyết "tiêu tức" (tăng, giảm, thịnh, suy): dương mà động thì tiến từ 7 lên 9, âm mà động thì lùi từ 8 về 6; thuyết này có từ xưa, nhưng ông là người đầu tiên dùng nó để giải Kinh Dịch, lấy hai quẻ Càn, Khôn làm cơ bản cho Dịch học, nên đời sau khen ông có công với Dịch học. Xét chung, đời Tam Quốc các nhà Dịch học như Lưu Biểu, Quản Lộ chú trọng đến đoán vận mạng, đặt ra nhiều thuật mà các sách bói đời sau đem dùng.
Qua đời Ngụy, Vương Bật có hùng tâm quét sạch cái học tượng số và bói toán, chuyên nghiên cứu nghĩa lí, mở đường cho lí học đời Tống. Ông sắp đặt lại Kinh Dịch, đem Thoán truyện, Tượng truyện và Văn ngôn truyện xen vào phần kinh cho người đọc dễ thấy ý nghĩa mỗi quẻ – cách sắp đặt đó hiện nay còn được dùng. Ông chú giải theo Phí Trực đời Hán, viện dẫn nhiều lời Lão Tử, thường tự bảo:
"Được ý rồi thì quên tượng, được tượng rồi thì quên lời."
Nghĩa là đọc Dịch chỉ cần chú trọng ý nghĩa của mỗi quẻ, không câu nệ vào tượng và lời. Ảnh hưởng của ông rất lớn: thời Nam Bắc triều, ông được độc tôn ở phương Nam, cũng như Trịnh Huyền được độc tôn ở phương Bắc.
Đời Đường, Phật giáo thịnh, lấn Nho học, ít nhà nghiên cứu Dịch, đáng kể chỉ có Khổng Dĩnh Đạt theo chủ trương Vương Bật, và Lý Đỉnh Tộ, học rộng, sưu tập sách của trên 30 nhà viết về Dịch, hiệu đính được nhiều chỗ, tìm được nhiều điều thâm thúy.
Đời Ngũ Đại và Tống sơ, một đạo sĩ tên Trần Đoàn, hiệu Hi Di, sáng tác "Dịch đồ", cho rằng bát quái gốc ở Hà Đồ, đưa Dịch học vào một nẻo mới: thuật số, tức thuật đoán số mạng. Ông đặt ra môn Bát Tự Hà Lạc, chuyển can chi của ngày, tháng, năm sinh thành những con số rồi chuyển số thành quẻ để đoán vận mạng con người. Trần Đoàn cũng chính là người sáng lập môn Tử Vi Đẩu Số, có uy tín rất lớn trong giới thuật sĩ. Học thuyết của ông sau truyền cho Thiệu Ung đời Tống.
Từ Tống đến Minh: Đồ Thư phái và Lí học phái
Qua đời Tống, Dịch học phát triển mạnh, chia làm hai phái chính: phái Đồ Thư (Hà Đồ, Lạc Thư), tức phái Tượng số học; và phái Lí học, chú trọng về nghĩa lí, về thiên lí, nhân đạo.
Phái Đồ Thư chịu ảnh hưởng của Lão học. Hai nhà nổi danh nhất, môn sinh rất đông, uy tín rất lớn, là Chu Đôn Di (Chu Liêm Khê) và Thiệu Ung (Thiệu Khang Tiết).
Chu Đôn Di sáng tác Thái Cực Đồ (sau sửa thành Vô Cực Đồ) và Dịch Thông Thư, nhưng Thái Cực đồ thuyết chỉ là một phép luyện khí của đạo gia, ít liên can tới Kinh Dịch. Câu "vô cực nhi thái cực" chỉ là diễn cái ý "hữu sinh ư vô" (hữu từ vô mà sinh ra) của Lão Tử. Còn Dịch Thông Thư thì là tư tưởng trong Đạo Đức Kinh trộn với tư tưởng trong Hệ từ truyện; Chu chủ trương vô vi, hoàn toàn tĩnh thì mới biết được cái cơ (cái mầm thiện ác) – như vậy là thiên về Lão, Trang, không hợp với tư tưởng của Khổng phái "quân tử tự cường bất tức" trong quẻ Càn.
Thiệu Ung chịu ảnh hưởng của Trần Đoàn, vẽ ra đồ Tiên thiên và Hậu thiên bát quái (có lẽ đây là lần đầu tiên hình này được in trên sách và phổ biến), có tính cách đạo thuật. Ông phát huy thêm môn tượng số của Kinh Phòng đời Hán, chia các số ra thể số, dụng số, biến số, hóa số, động số, thực số... như "thể số" của thái dương là 160, của thái âm là 192, "biến số" của nhật nguyệt tinh thần là 17.024 – thật bí hiểm.
Tuy nhiên, Thiệu Ung không lấy tượng số làm cứu cánh; cứu cánh chính vẫn là đạo, là lí, căn bản của tượng số. Ông bảo:
"Có ý thì mới có lời, có lời thì tất có tượng, có tượng thì tất có số. Số và tượng làm cho lời và ý sáng tỏ. Tượng và số ví như cái đó, cái lưới; lời và ý ví như cá, như thỏ. Được cá, được thỏ mà quên đó, quên lưới thì được, chứ bỏ đó bỏ lưới không dùng mà muốn được cá được thỏ thì chưa thấy được cá, được thỏ bao giờ."
Vậy đạo lí là gốc, quan trọng nhất; tượng và số chỉ là những công cụ giúp cho ngôn ngữ biểu thị ý tưởng được thêm rõ ràng mà dễ nắm được đạo lí. Quan niệm của ông về tượng có chỗ khác với Dịch: chẳng hạn ông cho "thái nhu" (cực nhu) là nước, "thái cương" (cực cương) là lửa; còn Dịch cho thái nhu là đất (Khôn), thái cương là núi (Cấn).
Trong phái Lí học, phải kể Trình Di, Trương Tái và Chu Hi. Trình Di trở lại cái học của Vương Bật, bỏ những cái huyền bí, tìm đạo lí trong Kinh Dịch để giữ cái học trọng nhân đức của Khổng Tử; ông chú giải Kinh Dịch theo chủ trương đó, nhưng không phát huy thêm được gì.
Trương Tái có sáng kiến hơn, tìm thêm ý nghĩa mới cho các quẻ, chẳng hạn bảo ý nghĩa của quẻ Phục là "vì thiên địa mà lập tâm"; của quẻ Đại Súc là "vì dân sinh mà lập mệnh"; của quẻ Độn là "vì thánh nhân để kế tục cái học đã mất"; của quẻ Thái là "vì vạn thế mở hội thái bình". Ông muốn đem đạo tu thân để trị quốc, bình thiên hạ vào Kinh Dịch.
Chu Hi chiết trung cả hai phái (mặc dù thiên về lí học), soạn Chu Dịch Bản Nghĩa để tiếp bộ Dịch Truyện của Trình Di, lại soạn Dịch Học Khải Mông để phát minh áo nghĩa trong Tiên Thiên Bát Quái Đồ của Thiệu Ung. Ông chê Vương Bật sắp đặt lại Kinh Dịch, làm cho đời sau không phân biệt được đâu là Kinh, đâu là Truyện, và đã làm mất hết cách thức chú giải kinh điển của Hán Nho. Chu Hi cũng dùng Kinh Dịch để bói; có thể bảo ông tập đại thành những tư tưởng về Dịch học của đời Tống, chứ không phát minh được gì.
Bản Chu Dịch Đại Toàn hiện thời chính là bản Dịch có lời chú giải của Trình Di và Chu Hi. Nhà Mai Lĩnh, trước Thế chiến, xuất bản bộ Kinh Dịch do Ngô Tất Tố dịch, cũng gồm những lời chú giải của Trình, Chu.
Ngoài ra, hầu hết các danh nho đời Tống như Tư Mã Quang, Âu Dương Tu, Lý Cấu, Phạm Trọng Yêm, Vương An Thạch, Tô Tuân, Lữ Đại Phòng, Trình Hạo... đều có nghiên cứu Kinh Dịch, đưa ra ít nhiều ý kiến riêng, như Âu Dương Tu trong tập Dịch Đồng Tử Vấn đã nhắc tới ở Chương I. Các nhà Dịch học trong hai đời Nguyên và Minh không lưu lại công trình gì đáng kể, xét chung họ đều theo cái học đời Tống.
Nguồn: Nguyễn Hiến Lê, Kinh Dịch – Đạo của người quân tử, Chương III.
