Bài tổng quan
Từ Triều Tiên, Nhật Bản đến Singapore: Khổng Tử và Chu Dịch
Hai thế kỷ trước Công nguyên, lời dạy của một ông thầy nước Lỗ đã đi sang Triều Tiên, rồi Nhật Bản, rồi xuống tận phương Nam. Hơn hai nghìn năm sau, có nơi vẫn dạy luân lý ấy cho học sinh từ cấp hai. Còn bộ kinh cũ mà ông đọc đến đứt ba lần dây buộc thì…
Nho học theo đường đi sang Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam
Những tư tưởng của Khổng Tử có ảnh hưởng sâu sắc đối với Nhật Bản, Triều Tiên và Singapore. Vào thời Tây Hán, tức khoảng hai thế kỷ trước Công nguyên, tư tưởng Nho gia của ông truyền tới Triều Tiên; cùng thời gian ấy, qua Triều Tiên, nó sang Nhật Bản, rồi một thời gian sau truyền xuống Việt Nam. Khi đó ở Trung Quốc, xã hội phong kiến đã rất hưng thịnh, còn ở ba nước nói trên mới là giai đoạn quá độ từ xã hội nô lệ sang xã hội phong kiến: luân lý đạo đức chưa thành hệ thống, đất nước còn chia cắt, chế độ xã hội chưa ổn định.
Sau khi được truyền vào các nước này, tư tưởng của ông như cá gặp nước, được đánh giá cao và lần lượt trở thành luân lý của quốc gia. Từ đó, ở ba nước Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam, tư tưởng luân lý Nho gia được Nho học hóa và luân lý hóa ở mức cao, trải qua những giai đoạn nhất định và đạt được vai trò quan trọng. Việc lấy tư tưởng Nho gia của ông làm chính thống đã giúp Nho gia xác định quy phạm đạo đức với chuẩn tắc nhân, nghĩa, trung, hiếu, lễ, và dựng nên một nền văn hóa tư tưởng lấy hệ tư tưởng Nho gia làm hạt nhân. Dưới triều Giang Hộ ở Nhật, triều Lý ở Triều Tiên và triều Hậu Lê ở Việt Nam, tư tưởng Nho gia được đẩy lên vị trí tối cao, thống trị đời sống văn hóa tư tưởng của các nước ấy suốt mấy trăm năm. Nó có vai trò tích cực trong việc củng cố và phát triển xã hội phong kiến của các quốc gia kể trên, và ảnh hưởng sâu sắc tới sự thống nhất đất nước cùng sự ổn định, phồn vinh của xã hội.
Hiện nay, hệ tư tưởng Nho gia mà ông là đại biểu vẫn có vai trò quan trọng ở rất nhiều nước Đông Nam Á. Sự vượt trội về kinh tế của bốn con rồng nhỏ của châu Á có quan hệ mật thiết với việc ứng dụng cách giao tiếp của Nho gia. Điều này chứng tỏ tình trạng lạc hậu về kinh tế của Trung Quốc trước kia do nhiều nguyên nhân tổng hợp, chứ không phải chỉ vì tư tưởng Nho gia. Nho gia của ông vẫn có vị thế quan trọng trong nền văn minh Đông phương; vì thế theo lẽ tất yếu của lịch sử, ngay nơi phát tích, người ta phải phát huy mạnh hơn nữa sức mạnh của hệ tư tưởng ấy.
Lời của những người trong cuộc
Nghe những người ở các nước ấy kể về chính mình sẽ thấy ảnh hưởng ấy không chỉ nằm trên giấy.
Trong cuốn Khổng Tử bình truyện, Khuông Á Minh nói: Khổng Tử là nhà tư tưởng phong kiến vĩ đại nhất thời kỳ xã hội phong kiến của Trung Quốc. Tư tưởng triết học, chính trị, luân lý và giáo dục của ông về cơ bản phản ánh và rất hợp với quy luật phát triển của xã hội phân đẳng cấp thời ấy, nên suốt hơn hai nghìn năm, tư tưởng của ông luôn chiếm vị trí chủ đạo, không hệ tư tưởng nào sánh nổi. Các hệ tư tưởng khác của bách gia chư tử, Đạo giáo, Cơ Đốc giáo... chỉ ảnh hưởng trong một phạm vi hay thời kỳ nhất định, còn tư tưởng của ông chiếm vị trí quyết định trên khắp Trung Quốc suốt hơn hai nghìn năm nay. Tương truyền tể tướng Triệu Phổ thời Bắc Tống dựa vào nửa bộ Luận Ngữ mà trị thiên hạ, điều này không phải không có căn cứ.
Về ảnh hưởng với Nhật Bản, học giả Nhật Kim Cốc Trị nói: từ trước đến nay Nhật Bản luôn chịu ảnh hưởng to lớn của ông và thu được nhiều lợi ích. Trên cơ sở chấn hưng Nho học từ thời Giang Hộ, những năm gần đây người ta cũng hay nói đến tác dụng của tư tưởng ông đối với công cuộc hiện đại hóa Nhật Bản. Học thuyết ghi trong Luận Ngữ cho tới nay vẫn được rất nhiều người Nhật tôn sùng, và điều này có lẽ không chỉ ở riêng Nhật Bản.
Về Singapore, học giả Ngô Khánh Thụy nói: việc cư dân người Hoa sống ở hải ngoại có được như ngày nay, xây dựng cho con cháu một xã hội phồn vinh văn minh như thế này, có quan hệ mật thiết với những ảnh hưởng thấm dần từ ông và Nho gia. Singapore là một quốc gia độc lập tự chủ với ba phần tư dân số là người Hoa. Hiện nay họ phải đối mặt với nhiều sự tấn công về văn hóa từ bên ngoài; thủ đô là một thành phố thương nghiệp hiện đại nằm trên điểm nút giao thông Đông Á, càng khó tránh khỏi ảnh hưởng về quan điểm giá trị và văn minh phương Tây. Họ phải chọn lọc và tiếp thu điều có ích, đồng thời tăng cường nhận thức về văn hóa truyền thống để chống lại những ảnh hưởng không tốt. Vì thế ngay từ cấp hai, học sinh đã được dạy luân lý Nho gia, với hy vọng học thuyết của ông và luân lý Nho gia sẽ giúp các em phát triển toàn diện về phẩm chất và tính cách.
Về ảnh hưởng của Nho gia với Hàn Quốc, một học giả nói: Khổng Tử hoàn thành Dịch học cổ đại; Chu Tử kế thừa Dịch học của ông và tổng hợp hệ thống Dịch học của mọi thời đại; Thoái Khê lại kế thừa Dịch học Chu Tử, bổ sung biện chứng và đem ứng dụng vào thực tế. Dịch học Thoái Khê có ảnh hưởng rất lớn tới việc xây dựng hệ tư tưởng của Hàn Quốc. Vì Dịch học Thoái Khê ra đời trên cơ sở Dịch học của ông, nên có thể nói tư tưởng Dịch học của ông có ảnh hưởng quan trọng tới sự hình thành nền học vấn và hệ tư tưởng của Hàn Quốc.
Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu cũng từng nói rằng tư tưởng Nho gia đã ảnh hưởng sâu sắc tới tư tưởng, ngôn ngữ, hành vi của người phương Đông, là trụ đỡ tinh thần của họ.
Văn hóa tình người gặp văn hóa đồng tiền
Một bên đo tình bằng nghĩa, một bên đo mọi thứ bằng giá; hai cách nhìn ấy đang gặp nhau trên một chiếc bàn.
Những điều trên chứng tỏ nền văn minh của các nước phương Đông và việc truyền bá tư tưởng Nho Dịch của ông có quan hệ mật thiết với nhau. Văn hóa quần chúng phương Đông sở dĩ có sức hấp dẫn là vì quan hệ giữa người với người được xây dựng trên nền luân lý lấy nhân và nghĩa làm trung tâm. Do đó văn hóa phương Đông thấm đẫm tình người, tràn đầy sức hấp dẫn và sức sống.
Văn hóa phương Tây coi đồng tiền là vạn năng, trọng ham muốn vật chất, coi nhẹ tình người, và tỷ lệ tội phạm ngày một tăng. Cục diện phân hóa hai cực, một bên ham muốn vật chất dâng cao, một bên mong muốn tinh thần xuống cấp, chính là hậu quả xấu do coi trọng văn minh vật chất, coi nhẹ văn minh tinh thần.
Tóm lại, dưới ảnh hưởng của tư tưởng ông, văn hóa phương Đông hết sức coi trọng giáo dục đạo đức và quan hệ giữa đức dục với đức trị, nên có ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài đến việc dựng nền văn minh đạo đức của các nước phương Đông. Dĩ nhiên, nền văn hóa phương Đông mà đại diện là tư tưởng Nho gia của ông đang phải đối diện với văn hóa phương Tây, và có thể tin rằng sự gặp gỡ của hai nền văn hóa ấy sẽ tạo nên sự rạng rỡ cho nền văn hóa nhân loại.
Người đầu tiên nhận ra giá trị của Chu Dịch
Có một bộ quẻ bói cũ nằm im trong kho lưu trữ, cho tới khi một người già ngồi xuống đọc nó đến lúc dây da đứt.
Khổng Tử là danh nhân đại diện cho văn hóa truyền thống Trung Quốc, và công lao, ảnh hưởng của ông đối với Nho gia, Dịch học và Kinh học là bất diệt. Ông là người sáng lập Nho gia, là ông tổ của Kinh học, là cha đẻ của Dịch học. Ông là người đầu tiên phát hiện ra giá trị của Chu Dịch và truyền bá bộ sách ấy, rồi đưa nó vào hàng lục kinh, lập nên vị trí quan trọng của Chu Dịch trong Kinh học.
Rất nhiều tư liệu lịch sử chứng minh sự gian khổ của ông trong quá trình nghiên cứu Dịch. Sử Ký của Tư Mã Thiên ghi:
Những năm cuối đời, Khổng Tử nghiên cứu về Dịch, chỉnh sửa các thiên Hệ, Tượng, Thuyết quái, Văn ngôn. Khổng Tử đọc Dịch, dây buộc thẻ tre ba lần đứt.
Ông còn nói: cho ta thêm vài chục năm nữa, hiểu biết về Dịch sẽ rực rỡ. Hán Thư, thiên Nghệ Văn Chí, cũng mô tả cảnh ông nghiên cứu Dịch, ghi rằng Phục Hy ngẩng xem tượng trên trời, cúi xem phép dưới đất, quan sát cảnh muông thú, trời đất. Ông chỉnh sửa lục kinh gồm Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân Thu. Trong Trang Tử cũng có viết rằng Khổng Khâu chỉnh sửa sáu bộ Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch, Xuân Thu trong một thời gian dài.
Việc ông đưa Chu Dịch vào hàng lục kinh khiến nó trở thành bộ kinh điển, và nhờ sức hấp dẫn riêng đã đứng đầu các kinh điển, tiêu biểu cho nền văn hóa Trung Quốc, ảnh hưởng sâu sắc đến nền văn hóa ấy.
Chu Dịch thành khuôn phép dạy người
Từ một bộ xem điềm, từng câu quẻ được lật ra để dạy người ta làm người.
Nho gia là học phái do ông sáng lập với tôn chỉ là dạy người. Hán Thư, thiên Nghệ Văn Chí viết rằng ông là bậc tiên sư của Nho gia, lấy lục kinh làm chuẩn mực để giáo hóa con người. Sử Ký có đoạn:
Lễ dĩ tiết nhân, nhạc dĩ phát hòa, thư dĩ đạo sự, thi dĩ đạt ý, dịch dĩ đạo hóa, xuân thu dĩ đạo nghĩa.
Trong đó câu "dịch dĩ đạo hóa", chữ hóa tức là giáo hóa, phong hóa luân lý. Ví như Dịch truyện có viết quân tử không ngừng tự cường, và đạo làm người chính là nhân và nghĩa. Sau khi Chu Dịch được coi là kinh điển của Nho gia, nó trở thành chuẩn mực giáo hóa của Nho gia. Nhờ sự khai phá của ông, ảnh hưởng của Chu Dịch trong Nho học ngày càng lớn mạnh. Chu Dịch là căn nguyên của Dịch học, Dịch học lại là mấu chốt quan trọng của tư tưởng học thuật Nho gia, Dịch và Nho hỗ trợ nhau, mang lại ảnh hưởng sâu sắc cho diện mạo tinh thần của dân tộc Trung Hoa.
Ba công lao của ông với Dịch học
Công lao ấy dồn lại ở ba chỗ.
Đóng góp của ông cho Dịch học chủ yếu thể hiện ở ba phương diện.
Thứ nhất, ông phát hiện ra Kinh Dịch và đưa vào bộ Lục kinh, khiến Chu Dịch trở thành một tác phẩm kinh điển nổi tiếng, qua đó có ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài đối với Nho học, Kinh học và Đạo gia đời sau, tạo cơ sở để Chu Dịch trở thành đại biểu của văn hóa Trung Hoa.
Thứ hai, ông chỉnh sửa Kinh Dịch, biên soạn Dịch truyện, kêu gọi nghĩa lý, đưa Chu Dịch thoát khỏi sự ràng buộc của bói toán, trở thành một bộ sách khoa học và triết học vĩ đại.
Thứ ba, ông có vai trò tích cực trong việc truyền bá Kinh Dịch, phát huy cao độ tác dụng của nó, ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài tới sự phát triển của văn hóa thế giới.
Tóm lại, công lao của ông đối với Chu Dịch hết sức vĩ đại và ảnh hưởng vô cùng sâu sắc. Quan hệ của ông với Chu Dịch rất mật thiết, nên muốn nghiên cứu Chu Dịch nhất thiết phải nghiên cứu tư tưởng của ông.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 2 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
