Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Phân biệt con người Khổng Tử với hình tượng dựng quanh ông

Đạo Học - Khuyên Thiện03/10/202611 phút đọc2 lượt đọc
Phân biệt con người Khổng Tử với hình tượng dựng quanh ông

Trên cùng một ngôi miếu, người ta từng treo ông lên vị trí cao nhất, rồi có lúc lại đem ông ra phán xét. Một học giả nhắc rằng cần phân biệt người thật với hình tượng mà người sau tạo ra quanh ông. Còn trên khắp phương Đông, nếp sống nhân, lễ, trung, hiếu vẫn…


Một nhà cải cách bị khen, bị chê mà vẫn không thể bỏ qua

Có học giả coi Khổng Tử là nhà cải cách của tầng lớp chủ nô thời ông. Triết gia cận đại Phùng Hữu Lan nói rằng tác dụng của tư tưởng Khổng Tử thời bấy giờ là bảo thủ, nhưng ông là triết học gia số một của Trung Quốc xét về thời gian. Đã là nhà triết học số một thì tư tưởng của ông, tích cực hay tiêu cực, cũng đều ảnh hưởng hết sức sâu sắc đến sự hình thành của dân tộc Trung Hoa và sự phát triển của văn hóa nước này.

Trong bộ lịch sử triết học Trung Quốc của Tạ Vô Lượng có đoạn tôn ông là thánh nhân, cùng với Socrates và Thích Ca Mâu Ni thành ba vị thánh của thế giới cổ đại. Có học giả nói rằng dù Khổng Tử được coi là vị thánh nhân số một trong lịch sử Trung Quốc, đường của ông không hoàn toàn suôn sẻ: có lúc ông được đưa lên vị trí sùng bái tối cao, rồi có lúc lại bị đem ra bình phẩm. Điều ấy chứng tỏ vai trò của ông trong ý thức của người dân Trung Quốc. Phải đánh giá công tích của ông thế nào? Dù tích cực hay tiêu cực, tư tưởng của ông luôn có ảnh hưởng bền vững đối với văn hóa tư tưởng Trung Quốc.

Về vị trí của ông trong nền văn hóa Trung Quốc, học giả Lương Thấu Minh dẫn lời Hạ Tăng Hộ trong bộ lịch sử cổ đại Trung Quốc: con người Khổng Tử là cội nguồn của chính trị và giáo học của Trung Quốc, lịch sử Trung Quốc là lịch sử con người Khổng Tử. Trong bộ lịch sử văn hóa Trung Quốc, Liễu Di Trưng viết rằng ông là trung tâm của nền văn hóa Trung Quốc, không có ông thì không có nền văn hóa ấy; nền văn hóa có trước ông hàng nghìn năm nhờ ông mà được truyền đi, nền văn hóa sau ông hàng nghìn năm nhờ ông mà được mở ra. Vương Sung, triết gia đời Hán, cũng từng nói ông là người vĩ đại nhất trong số các chư tử.

Tư tưởng của ông không những có vị trí ở Trung Quốc mà còn nổi tiếng trên toàn thế giới. Ở phương Đông, ảnh hưởng ấy đến Triều Tiên, Việt Nam, Nhật Bản, Ấn Độ, Singapore, Philippines, Malaysia, Thái Lan, Miến Điện, Indonesia; ở phương Tây là Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Bỉ, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Áo, Thụy Sĩ, Canada, Đan Mạch, Thụy Điển, Phần Lan, Romania... Tư tưởng của ông truyền đến Triều Tiên, Việt Nam và Nhật Bản sớm nhất. Giáo sư Ngô Đức Diệu, viện trưởng viện nghiên cứu triết học Đông Á của Singapore, nói rằng một nhà tư tưởng, nhà giáo dục như ông là vô cùng hiếm thấy trong lịch sử nhân loại: trước ông không có ai và sau ông chưa thấy ai như vậy.

Tư tưởng ấy đóng góp lớn cho nền văn hóa giáo dục và văn minh đạo đức của thế giới. Tổng thống Mỹ Reagan từng nói rằng những triết lý cao quý và tư tưởng đạo đức luân lý của ông không chỉ ảnh hưởng ở Trung Quốc mà còn lan tỏa khắp thế giới, và rằng cần nâng niu, sùng kính những cống hiến của nhà tư tưởng này.

Tóm lại, ông mở trường dạy học, truyền bá văn hóa, chỉnh sửa kinh điển, kế thừa truyền thống, coi trọng quan hệ giữa con người với xã hội, quan tâm chính trị, yêu nước thương dân, khởi xướng các tư tưởng nhân, lễ, trung, hiếu, trí. Những tư tưởng chói sáng, những tình cảm lớn lao ấy sống mãi trong mọi thời đại. Dĩ nhiên ông cũng có mặt bảo thủ, nhưng đó là điều kiện của lịch sử. Điều gì cần phê phán thì phê phán, điều gì cần phát huy thì phát huy, tùy từng giai đoạn mà kế thừa con người vĩ đại ấy cùng những tư tưởng của ông một cách chuẩn xác.

Phẩm chất cao nhất theo ông suốt đời

Giữa những cuộc tranh luận đúng sai, có một điều ít ai chối: ông đã sống rất nhọc nhằn vì người dân.

Phẩm chất cao cả nhất theo suốt cuộc đời ông là tình yêu nước thương dân: quan tâm đến sự tồn vong của đất nước, thấu hiểu nỗi khổ của người dân, phát triển văn hóa truyền thống, gây dựng tố chất luân lý cho dân tộc, sáng lập nền giáo dục dân tộc. Vì những việc này ông đã bỏ ra biết bao công sức và tâm huyết. Cuộc đời ông bôn ba chìm nổi, từng đi du thuyết sáu nước, từng chịu cảnh đói rét. Những năm cuối đời, ông còn viết, dựng học thuyết và chỉnh sửa các văn bản cổ. Do điều kiện lịch sử, đặc biệt là những ý tưởng chính trị của ông không được trọng dụng, nhưng cả đời ông dành cho việc nghiên cứu đạo làm người và xã hội. Ông là người đi đầu trong việc nghiên cứu mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng.

Dù ông phục vụ cho tầng lớp nào, tư tưởng của ông vẫn để lại những dấu ấn sâu đậm trong nền văn minh của dân tộc Trung Hoa. Điều đó chứng tỏ những ý nghĩa tích cực ẩn trong tư tưởng ấy, nên không thể nhất loạt phê phán. Thực tế, dù cổ hay kim, mới hay cũ, truyền thống hay hiện đại, hễ có lợi cho dân tộc, cho đất nước thì phải biết giữ gìn và phát huy. Nhân dân thế giới còn sùng kính ông đến vậy, thì sao người Trung Quốc, những hậu thế của ông, lại không biết học những điều ích lợi trong tư tưởng của ông.

Con người Khổng Tử và hình tượng Khổng Tử

Một bức tượng trên bàn thờ và một người thật đi giữa bụi đường, có khi không phải cùng một người.

Ngoài ra, còn có sự khác biệt giữa con người Khổng Tử và hình tượng Khổng Tử. Như Lý Đại Chiêu từng nói, đối với xã hội đương thời, ông là trung tâm của xã hội, là ông thánh của thời đại. Điều Lý Đại Chiêu phê phán là hình tượng và quyền uy mà chế độ quân chủ đương thời dựng lên cho ông, chứ không phải con người thật của ông.

Vì vậy, khi đánh giá ông, cần phân biệt con người Khổng Tử với hình tượng Khổng Tử thì mới có cái nhìn khách quan. Ông một mình viết nên những trang đời của mình, còn những trang lịch sử về ông không phải một mình ông sáng tác. Cho nên cá nhân ông không thể chịu hoàn toàn trách nhiệm về vai trò lịch sử của ông, dù tích cực hay tiêu cực.

Đóng góp cho văn hóa thế giới

Từ một ngôi nhà nhỏ ở nước Lỗ, những lời dạy ấy đi qua biên giới tự lúc nào không ai nhớ.

Những cống hiến của ông đối với văn hóa nhân loại sớm vượt khỏi biên giới và lan tới nhiều quốc gia, nhất là đã ảnh hưởng sâu sắc, lâu dài tới văn hóa tư tưởng cũng như kinh tế chính trị của các nước Đông Nam Á. Cuốn niên giám phổ thông do Mỹ xuất bản đã đưa ông vào vị trí số một trong mười nhà tư tưởng lớn của thế giới và gây chú ý cho dư luận thế giới. Điều này chứng tỏ vị trí và ảnh hưởng của ông trên thế giới.

Về vị trí ấy, một đại diện của UNESCO có nói: chỉ cần suy nghĩ một chút người ta sẽ nhận ra ý nghĩa của tư tưởng ông đối với xã hội đương thời. Thật đáng kinh ngạc vì từ hơn hai nghìn năm trăm năm trước, ông đã tìm ra những nhu cầu căn bản của xã hội loài người cùng những thay đổi nhỏ bé của nó. Dù chúng ta tiến bộ hay chưa tiến bộ, một xã hội như ngày nay vẫn đang tồn tại trên nền rất nhiều quan niệm giá trị xã hội mà ông đã mô tả. Trong nhiều thế kỷ gần đây, người ta từng ca ngợi, tán dương ông hoặc công kích, xem nhẹ ông, nhưng dù thế nào cũng không thể phủ nhận vai trò lịch sử của ông. Ông là nhà tư tưởng, nhà chính trị, nhà văn hóa kiệt xuất, được tôn vinh là nhà văn hóa vĩ đại của thế giới.

Hạt nhân của văn hóa phương Đông

Nếp sống của cả một vùng đất thường mang dấu vết của một vài câu nói ngắn.

Nền văn hóa phương Đông, với những dòng chính là văn hóa Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, có cốt lõi là hệ tư tưởng Nho Dịch của ông, nền móng của văn hóa Trung Hoa. Các tư tưởng nhân, lễ, nghĩa, trung, hiếu của ông đã đặt cơ sở vững chắc cho văn hóa phương Đông, ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài đối với nền văn minh nơi đây. Tinh thần dân tộc vĩ đại và nếp nghĩ của người dân các nước phương Đông luôn gắn liền với tư tưởng của ông.

Lối sống trong quần thể

Hạt nhân của hệ tư tưởng ấy là nhân nghĩa. Nhân là yêu người, nghĩa là vì người. Nhân nghĩa là chuẩn tắc sơ đẳng nhất trong quan hệ giữa những người cùng chung sống, và cũng là đạo đức căn bản nhất của đời sống xã hội. Nếu không có lòng nhân nghĩa thì con người không thể duy trì các mối quan hệ, tình cảm bị hủy diệt, nền văn minh sẽ xuống cấp ngay. Hình thái xã hội lấy nhân nghĩa làm trung tâm ở các nước phương Đông có quan hệ chặt chẽ với sự truyền bá và ảnh hưởng lâu dài của tư tưởng ông ở những nước này.

Hòa vi quý và văn minh Đông phương

Tư tưởng "hòa vi quý" do ông đề xướng là sự xã hội hóa trên cơ sở các quan điểm trung hành, trung chính trong Kinh Dịch, và cũng là sự mở rộng của đức Trung Dung. Tư tưởng ấy hình thành một mỹ đức quan trọng của văn hóa phương Đông: nhiều dân tộc ở các nước phương Đông có nét ôn hòa, dung dị, trái hẳn với sự cứng rắn mạnh mẽ của phương Tây. Điều này gắn với ảnh hưởng lâu dài của các tư tưởng quý hòa, Trung Dung của Nho gia.

Trước hết, khái niệm hòa của ông là sự hòa hợp giữa người với người, chứ không phải giữa con người với trời đất. Cũng không phải sự hòa hợp giữa con người với tự nhiên như theo Hoàng Lão Đạo gia. Cùng với những biến chuyển của xã hội, vấn đề hòa giữa con người và xã hội cũng không ngừng được gọt giũa. Tư tưởng "hòa vi quý" của ông có tác dụng hữu hiệu trong việc làm giảm xung đột, ảnh hưởng sâu sắc đến nếp nghĩ chung sống hòa bình giữa mọi người và giữa các quốc gia.

Trọng lễ nhạc là phương thức chính để thực hiện hòa vi quý. Vì ông trọng lễ nhạc nên điều đó có tác dụng quan trọng trong việc đưa các nước phương Đông thành những quốc gia của lễ nghĩa, đồng thời đặt cơ sở cho sự hòa hợp giữa các nền văn minh của những nước này.

Thân thân, tôn tôn

Hệ tư tưởng Nho gia của ông có mấu chốt là quan hệ huyết thống. Ông nhấn mạnh hiếu đạo thân thân, nhận định hiếu là gốc rễ của luân lý con người, là giới hạn cao nhất của luân lý gia đình, bảo đảm cho sự êm ấm và ổn định của gia đình. Sở dĩ quan niệm gia đình của phương Đông mạnh mẽ và tính ổn định của xã hội cũng bền vững hơn là nhờ đạo hiếu thân thân ấy.

Từ đạo hiếu giữa những người cùng gia đình, ông phát triển thành đạo trung hiếu giữa những người không có quan hệ huyết thống, ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng tôn quân và trung quân ở phương Đông. Vì rất tôn quân, trung quân nên các quốc gia không rơi vào cảnh giáo hội lũng đoạn chính quyền. Cho đến nay, truyền thống tôn quân, trung quân vẫn còn tồn tại ở các nước, thậm chí ở một số nước chịu ảnh hưởng sâu của văn hóa Đông phương, và đó là do lịch sử khách quan.

Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 2 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện