Bài tổng quan
Luận Ngữ sống hơn hai nghìn năm nhờ chữ nhân và chữ lễ
Người xưa bảo chỉ cần nửa bộ Luận Ngữ cũng đủ trị thiên hạ. Nửa bộ ấy ôm trong tay hai chữ: một chữ nói về lòng yêu người, một chữ nói về cách cư xử giữa người với người. Hai chữ ấy nương vào nhau ra sao, và ai đứng trước ai…
Có người nói rằng những lời hay của người Trung Quốc thuở xưa đã được Khổng Tử nói hết rồi. Theo tác giả, nhận xét ấy không sai: Luận Ngữ là bộ kinh điển đạo đức vang xa nhất của Trung Quốc. Tư tưởng trong sách có ý nghĩa đầy đủ và tính phổ biến, nên mọi tầng lớp đều đón nhận, và qua các đời nó được ca ngợi là bộ kinh điển đạo đức chung xưa nay. Sách còn là một tác phẩm đồ sộ về xã hội học, nhất là về việc an bang trị nước, mang tinh thần hiện thực, chủ trương nhập thế tích cực. Người xưa nói: "Một nửa bộ Luận Ngữ trị được thiên hạ."
Bộ sách ghi lại tư tưởng của Khổng Tử
Khổng Tử được xem là biểu tượng của nền văn minh phương Đông, và tư tưởng của ông được các đệ tử, học trò ghi lại trong Luận Ngữ. Hơn hai nghìn năm nay, sách là kinh điển quan trọng của Nho học, được coi là tư liệu cần thiết cho quần thần, quan lại, học giả và nho sinh. Sau đời Tống, Luận Ngữ được xếp vào Tứ thư, trở thành khoa mục chủ yếu của khoa cử, của thi thăng chức, nên ảnh hưởng đến quá trình phát triển văn hóa Trung Quốc rất lớn.
Tác giả đặt một câu hỏi: học vấn khó nhất trên đời có lẽ là học làm người, mà Luận Ngữ bàn đúng về học vấn xử lý quan hệ giữa người với người và giữa người với xã hội. Toàn văn sách gồm hơn mười hai nghìn bảy trăm chữ, chia hai mươi thiên, trong đó những thiên được ca ngợi nhiều nhất là Học nhi, Vi chính, Tiên tiến, Nhan Uyên, Tử Lộ, Vệ Linh Công, Thuật nhi. Còn về xuất xứ, sách Hán thư, Nghệ văn chí nói Luận Ngữ xưa gồm ba mươi mốt thiên, ra đời trong thành lũy của Khổng Tử. Đó là những lời nói và ứng đáp giữa Khổng Tử với học trò, được đệ tử đương thời ghi lại; sau khi ông mất, các môn sinh cùng nhau soạn lại nên gọi là Luận Ngữ. Bản đáng tin cậy nhất truyền đến nay là Luận Ngữ tập chú của Chu Hy đời Tống, nằm trong Tứ thư tập chú.
Vì sao sức sống của tư tưởng Luận Ngữ lại bền như vậy? Tác giả nêu ba lý do.
Thứ nhất là tính phổ biến. Chân lý nào cũng có tính phổ biến và tính đặc thù. Tư tưởng của Khổng Tử rất phổ biến, không chỉ được quần thần nho sĩ tin dùng mà còn được đông đảo dân lao động coi trọng, nhất là phần đạo đức chung trong sách, nên có sức hút lớn. Trong lịch sử có quy luật: cái gì càng được quần chúng ưa thích thì càng tồn tại lâu, và Luận Ngữ hợp quy luật ấy.
Thứ hai là tính khoa học. Triết lý của Luận Ngữ là triết lý nhân sinh. Trọng điểm của nó không nằm ở việc đào sâu bản thể vũ trụ, mà ở việc nghiên cứu quan hệ giữa người với xã hội, giá trị xã hội của con người và ý nghĩa nhân sinh. Sách có ý nghĩa hiện thực đầy đủ, cách nhìn nhập thế tích cực và tinh thần phấn đấu không ngừng. Cái gì càng khoa học thì càng chịu được khảo nghiệm thực tế; Luận Ngữ đã chịu thử thách hơn hai nghìn năm, nếu không có tính khoa học cao thì không thể có sức sống mãnh liệt như thế.
Thứ ba là tính xã hội. Luận Ngữ đề xuất nhiều biện pháp quan trọng, lễ chế văn minh, nguyên tắc ngoại giao để an bang trị nước, nên mang tính xã hội cao. Hơn hai nghìn năm nay nó thúc đẩy sự phát triển của xã hội phong kiến, và có một số nguyên tắc trị nước còn hợp với thời nay. Trung Quốc đã qua vô số triều đại nhưng sức hấp dẫn của Luận Ngữ vẫn còn nguyên, đủ thấy giá trị bất hủ.
Về tư tưởng học thuật, tác giả nói Luận Ngữ có bốn điểm cơ bản: hạt nhân của tư tưởng luân lý là nhân, hạt nhân của chính trị là lễ, hạt nhân của giáo dục là "hữu giáo vô loại", và tư tưởng kinh tế là trọng nghĩa hơn lợi.
Chữ nhân: yêu người, và bắt đầu từ chính mình
Trong bốn điểm ấy, chữ nhân đứng đầu, vì mọi điểm còn lại đều tựa vào nó.
Nhân là mấu chốt của tư tưởng luân lý, cũng là chủ thể của tư tưởng học thuật trong Luận Ngữ. Chữ "nhân" xuất hiện một trăm lẻ chín lần, tập trung nhất ở các thiên Nhan Uyên và Lý nhân. Hai thiên này nói rõ con người đạt đến mức nào mới gọi là nhân. Thiên Nhan Uyên chép:
Phàn Trì vấn nhân. Tử viết: Ái nhân.
Nhan Uyên vấn nhân. Tử viết: Khắc kỷ phục lễ vi nhân. Nhất nhật khắc kỷ phục lễ, thiên hạ quy nhân yên.
Phàn Trì hỏi về điều nhân, Khổng Tử đáp: yêu người. Nhan Uyên hỏi về điều nhân, ngài đáp: nén mình, gạt bỏ dục vọng, làm cho lời nói và việc làm hợp lễ là điều nhân. Mỗi ngày nén mình theo lễ thì thiên hạ sẽ nhận người ấy là người có đức nhân.
Tác giả giải rằng nghĩa cao nhất của chữ nhân mà Khổng Tử đáp trong Luận Ngữ là "ái nhân", tức yêu mến và giúp đỡ người khác, cũng chính là tư tưởng làm lợi cho người. Nhưng sách còn nhấn mạnh một điều: việc đầu tiên là tự mình làm, tức tự kiềm chế mình. Lời nói và việc làm của bản thân phải hợp lễ, tự mình làm điều nhân thì mới có thể nhân ái với người khác. Sách Thuyết văn giải chữ nhân là quan hệ giữa hai người trở lên, như câu "nhân là thân vậy". Cho nên nội hàm cơ bản của nhân chỉ quan hệ giữa người với người, giữa cá thể với tập thể, giữa người với xã hội. Chữ nhân ở thiên Nhan Uyên phản ánh tư tưởng luân lý của Khổng Tử mang đặc trưng luân lý chính trị. Câu "người có nhân là yêu người" cho thấy mức cao nhất của nhân là nhân tính, và nhân là trung tâm tư tưởng luân lý của Nho học Khổng Tử.
Còn làm thế nào để đạt đến nhân, cũng tức là làm thế nào để đạt đến ái nhân? Thiên Ung dã chỉ ra:
Phù nhân giả, kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân.
Nghĩa là người nhân muốn tự lập thì cũng lo lập cho người khác, muốn mình thông đạt thì cũng lo cho người khác thông đạt. Thiên Nhan Uyên chỉ rõ thêm: điều mình không muốn thì đừng làm cho người khác. Thiên Lý nhân tiến thêm một bước: xóm ở chỗ có nhân hậu mới là xóm tốt; người chọn chỗ ở mà không chọn xóm nhân hậu thì sao gọi là có trí tuệ được. (Xóm hai mươi lăm nhà gọi là một lý; "lý nhân" là xóm có phong tục nhân hậu.) Thiên Vệ Linh Công còn nêu việc "sát thân thành nhân", nâng đạo nhân lên mức cao nhất của luân lý con người.
Tóm lại, chữ nhân quán xuyên cả tác phẩm, nhất là các thiên Nhan Uyên, Ung dã, Lý nhân. Nội hàm và ngoại diên của nó chỉ rõ cơ sở lý luận của Nho gia và có ảnh hưởng không nhỏ trong việc tạo dựng phong thái luân lý của dân tộc Trung Hoa.
Nhân đứng cùng lễ, hiếu, trung, tín, nghĩa
Một chữ nhân đứng một mình thì chưa đủ, vì ngay trong Luận Ngữ nó đã đi kèm một đoàn đức tính khác.
Luận Ngữ bàn về nhân tất cả năm mươi bảy điều. Ngoài những chỗ bàn riêng về nhân, sách còn gắn nó chặt với lễ, nhạc, trung, tín, nghĩa. Luân lý Nho học trong sách lấy nhân làm cốt lõi, lấy lễ, nhạc, trung, tín làm vẻ ngoài. Ví dụ thiên Bát dật hỏi: người mà chẳng nhân thì dùng lễ thế nào được? Thiên Học nhi nói hiếu đễ là cội rễ của điều nhân. Hai câu ấy nói lên quan hệ giữa nhân với lễ, nhân với hiếu, và nhấn mạnh nhân là gốc của lễ cùng hiếu đễ. Còn quan hệ với trung, tín, nghĩa thì sách chưa bàn trực tiếp nhưng đã bao hàm ý nghĩa sâu sắc. Chẳng hạn câu "muốn lập mình thì lập cho người". Về nghĩa, thiên Vệ Linh Công nói "lấy nghĩa làm chất", tức coi nghĩa là chất của con người, với cách nhìn nghĩa cao hơn lợi: quân tử trọng nghĩa, tiểu nhân trọng lợi, như thiên Lý nhân đã đề cao đến mức phân biệt quân tử với tiểu nhân.
Từ đó tác giả nhận ra Luận Ngữ xác lập nhân làm hạt nhân, rồi lấy lễ, trung, hiếu, nghĩa, dũng làm tư tưởng luân lý chính trị, nương nhau mà tồn tại. Trên cơ sở ấy, tư tưởng Khổng Tử được dựng lên, nhất là nối quan hệ giữa xã hội phong kiến Trung Quốc xưa với xã hội trung đại về sau.
Chữ lễ: hạt nhân của tư tưởng chính trị
Nếu chữ nhân là phần hồn thì chữ lễ là phần hình.
Lễ là quy phạm hóa văn minh tinh thần của xã hội loài người, là hạt nhân của tư tưởng chính trị trong Luận Ngữ. Nó thấm khắp tác phẩm, trong đó hai thiên quan trọng nhất về lễ là Tiên tiến và Học nhi. Thiên Học nhi viết:
Cung cận ư lễ, viễn sỉ nhục dã; lễ chi dụng, hòa vi quý.
Cung kính người cho hợp lễ thì người ta không khinh mình, mình cũng khỏi bị sỉ nhục. Dùng lễ lấy hòa làm quý. Vì vậy nghĩa của chữ lễ trong Luận Ngữ gồm khiêm, cung, hòa, kiệm. Mục đích của lễ, thiên Tiên tiến viết: "vì nước mà dùng lễ". Tác giả giải rằng tôn chỉ của lễ là phục vụ chính trị, gắn bó và thúc đẩy quan hệ giữa cá nhân với xã hội, điều hòa quan hệ giữa cá nhân với tập thể.
Làm thế nào để đạt đến lễ? Thiên Nhan Uyên chỉ ra: "khắc kỷ phục lễ". Khắc kỷ là cưỡng chế bản thân để thực hiện lễ, tức việc thực hiện lễ phải tự mình làm. Lễ được phục là lễ nhà Chu mà Khổng Tử tin sùng, cũng gọi là chế độ lễ nhạc do Chu Công đặt ra. Nhưng Khổng Tử không hoàn toàn theo nguyên bản lễ Chu mà có sửa đổi, như thiên Vi chính nói về chuyện thêm bớt: nhà Ân theo lễ nhà Hạ, nhà Chu theo lễ nhà Ân, phần bớt thêm đều có thể xét biết; nếu có triều nào nối nhà Chu, thì dù trăm đời sau cũng đoán được. Về việc tăng giảm lễ Chu, Khổng Tử chủ yếu đề ra đức trị: "Lấy đức dẫn dắt dân, lấy lễ chỉnh lại dân" (Vi chính).
Quan hệ giữa lễ và nhân, theo tác giả, là quan hệ giữa hình thức và nội dung, thống nhất ở nhân. Luận Ngữ đề cao lễ ngang với nhân; thiên Nhan Uyên viết rằng nén mình theo lễ là nhân, và mỗi ngày nén mình theo lễ thì thiên hạ nhận ta là người nhân. Cho nên sách chỉ ra: không hợp lễ thì chớ nhìn, không hợp lễ thì chớ nghe, không hợp lễ thì chớ nói, không hợp lễ thì chớ làm. Nhân và lễ đều là hạt nhân của Luận Ngữ, nhưng nhân đứng vị trí đầu. Thiên Bát dật nói: người không có lòng nhân thì sao biết dừng ở lễ, sao biết nhạc. Mặt khác, sách lại nêu: chỉ thực hành lễ mới đạt nhân. Lễ trong Luận Ngữ nhấn mạnh sự phân chia đẳng cấp, do chịu ảnh hưởng của xã hội phong kiến; tác giả nói đó là điều tất nhiên của lịch sử, giống như khi đánh giá lịch sử nói chung. Tóm lại, lễ liên hệ mật thiết với nhân, tùy thuộc vào nhân, đồng thời quy phạm hóa chữ nhân, phản ánh hệ thống lý luận chính trị Nho học lấy nhân làm chủ đạo, lấy lễ làm mối liên hệ.
Lễ và nhạc: tiếng chiêng trống chưa phải là nhạc
Lễ có thêm một người bạn thân, đó là nhạc, và Khổng Tử rất khó tính với người bạn này.
Lễ trong Luận Ngữ có quan hệ mật thiết với nhạc. Đặc điểm chính của nó là dùng lễ ràng buộc nhạc, lý luận hóa và chính trị hóa nhạc, đưa nhạc theo hướng văn minh. Lễ và nhạc của Trung Quốc gắn với lễ chế, nhạc chế của Chu Công, và sự phối hợp lễ nhạc thể hiện ở tính đẳng cấp của lễ; mặt khác nói rõ lễ của Trung Quốc từ xưa đã trang nghiêm và thần kỳ. Thiên Dương hóa viết: nói về lễ, nói về lễ, đâu phải chỉ là ngọc quý và lụa tốt; nói về nhạc, nói về nhạc, đâu phải chỉ là chiêng và trống. Ý là lễ còn quan trọng hơn gấm vóc bày trên bàn, nhạc không chỉ là tiếng chiêng trống, đàn hát; lễ nhạc cực kỳ trang nghiêm thần kỳ.
Khổng Tử chủ trương chính nhạc, phản đối âm thanh dâm loạn. Khi nghe nhạc Thiều ở nước Tề, ngài ba tháng không biết mùi thịt (Thuật nhi). Còn khi thấy nhạc vũ không hay thì ngài rất ghét; thiên Bát dật chép chuyện đại phu họ Quý dùng tám hàng nhạc công múa ở sân nhà riêng, ngài nói việc ấy mà nhẫn tâm làm được thì việc gì cũng nhẫn tâm làm được. Nên ngài thề chỉnh lý nhạc khúc. Ngài nói: sau khi từ nước Vệ trở về Lỗ, ta chỉnh nhạc, nhã và tụng đều có chỗ của nó.
Luận Ngữ còn ghi nguyên tắc của Khổng Tử về âm nhạc là tận thiện, tận mỹ, vui mà không dâm. Thiên Bát dật viết: vui mà chẳng quá vui, thương mà chẳng quá thương. Ngài bàn nhạc Thiều thì nói rằng nó hết thảy là đẹp, lại hết thảy là thiện. Từ những điều ấy, tác giả kết lại rằng nhân và lễ đều là then chốt của tư tưởng Nho gia, có ảnh hưởng quyết định tới việc tạo nên hình thái ý thức của xã hội phong kiến Trung Quốc kéo dài hàng nghìn năm.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 2 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
