Bài tổng quan
Dịch truyện mang dấu bút của Khổng Tử hay của môn nhân?
Mười thiên giải thích kinh Dịch lưu truyền hơn hai nghìn năm dưới một cái tên. Đặt từng thiên cạnh Xuân Thu và Luận ngữ, ta thấy mỗi thiên thở theo một nhịp khác nhau. Vậy ai thật sự đã cầm bút?
Mười thiên giải thích kinh Dịch và câu hỏi về người cầm bút
Bên cạnh phần chính của Chu Dịch là quẻ và lời quẻ, còn có mười thiên giải thích mà người xưa gọi là Dịch truyện, hay Thập dực, nghĩa là “mười cánh” nâng kinh Dịch bay lên. Mười thiên ấy gồm bảy loại văn bản: Thoán, Tượng, Hệ từ, Văn ngôn, Thuyết quái, Tự quái và Tạp quái, trong đó Thoán, Tượng và Hệ từ mỗi loại chia thành thiên trên và thiên dưới.
Từ hơn hai nghìn năm nay, chính sử đã ghi tên một người cầm bút. Sử ký nói Khổng Tử về già thích Dịch, thích các phần Thoán, Hệ, Tượng, Thuyết quái, Văn ngôn. Hán thư viết rằng ông soạn Thoán, Tượng, Hệ từ, Văn ngôn, Tự quái, cộng thành mười thiên. Tùy thư kể ông viết thêm Tạp quái và truyền lại cho Tử Hạ. Nhiều đời học giả tin như thế, vì một áng văn nghĩa lý sâu sắc đến vậy dường như không ai ngoài Khổng Tử đủ tầm để viết.
Nhưng khi đem từng thiên ra so với những văn bản chắc chắn thuộc về Khổng Tử và môn đồ, câu trả lời trở nên tinh tế hơn. Có thể phân biệt ra hai lớp: Thoán và Tượng là lớp xưa nhất, còn Hệ từ và Văn ngôn là lớp đến sau.
Thoán và Tượng cùng nhịp với Xuân Thu
Hai văn bản khác thể loại hoàn toàn, vậy mà đọc kề nhau, tiếng gõ chữ của chúng giống nhau đến lạ.
Có hai tác phẩm gắn với Khổng Tử mà người đời ít nghi ngờ: Xuân Thu, tương truyền do chính ông biên soạn, và Luận ngữ, do môn đồ ghi lời ông. Khi so Thoán, Tượng với Xuân Thu, điều dễ thấy là bút pháp: lời gọn, nghĩa sâu, đúng lối hành văn hàm súc của cuối thời Xuân Thu.
Xuân Thu là biên niên sử nước Lỗ. Mỗi năm nó chỉ ghi vài dòng: ai thề ước ở đâu, nước nào đánh nước nào, thiên vương cử người đến nước nào. Còn Thoán và Tượng là luận văn giải thích quẻ. Ví dụ ở quẻ Càn, Thoán nói: lớn lao thay khí dương khai sáng, muôn vật nhờ nó mà sinh ra, nó thống lĩnh cả trời; mây bay mưa rơi, vạn vật lưu chuyển thành hình. Tượng nói: trời vận hành mạnh mẽ, người quân tử do đó mà tự cường không nghỉ.
Thể loại khác, nhưng cái nén chữ, cái cách nhường chỗ cho ý nằm ngoài lời thì cùng một hơi thở. Cả hai đều ra đời vào một thời. Hơn nữa, đây chính là thời Khổng Tử đang chỉnh lý Thi, Thư, Lễ, Nhạc và soạn Xuân Thu. Dịch lại là thứ ông đọc đến nỗi ngồi có sách trên chiếu, đi có sách trong túi. Nếu ông đã chỉnh lý hết thảy cổ thư để dạy học trò, thì khó có chuyện ông bỏ qua kinh Dịch. Vì thế dù Thoán, Tượng có thể có tay môn nhân sửa soạn, lời cốt lõi trong đó hẳn là của ông. Chúng không có chữ “Tử viết”, nghĩa là người viết không phải đang ghi lại lời một người khác, và trình độ học thuật cao của chúng cũng cho thấy phải là người rất uyên bác mới viết nổi.
Hệ từ và Văn ngôn cùng giọng với Luận ngữ
Với Hệ từ và Văn ngôn thì khác. Đọc kỹ sẽ thấy cả hai và Luận ngữ có chung một cách dẫn lời: “Khổng Tử nói”. Luận ngữ trả lời theo lối hỏi đáp, còn Văn ngôn, Hệ từ trình bày thành luận văn, nhưng nhiều đoạn đều mở bằng “Tử viết”.
Một ví dụ cho thấy sự tương ứng. Trong Văn ngôn, có người hỏi hào sơ của quẻ Càn, “rồng lớn ẩn mình chưa thi thố được tài năng”, nghĩa là gì? Khổng Tử đáp: ví với người có đức như rồng mà phải ẩn cư, không bị thế tục làm thay đổi tiết tháo, không bị công danh mê hoặc, lánh đời mà chẳng buồn, vắng mặt với đời cũng chẳng buồn; vui thì làm, lo thì bỏ. Hào chín hai, hào chín ba, hào chín năm cũng đều có “Khổng Tử nói” giải thích. Trong Hệ từ hạ có câu: kẻ tiểu nhân không biết xấu hổ, không thấy lợi thì không gắng sức, không thấy uy thì không răn mình; và câu nổi tiếng: người quân tử lúc yên không quên nguy, lúc còn không quên mất, lúc trị không quên loạn, như vậy thân yên mà nước vững. Hay: đức mỏng mà ngôi cao, trí nhỏ mà mưu lớn, sức yếu mà gánh nặng, ít khi tránh khỏi tai họa.
Những câu có “Khổng Tử nói” mở đầu như thế chính là dấu hiệu môn nhân là người chấp bút, giống Luận ngữ. Hệ từ và Văn ngôn có thể không phải thủ bút của ông, nhưng chúng thông với quan điểm của ông. Mối quan hệ giữa Khổng Tử và Dịch truyện, về thực chất, không khác mối quan hệ giữa ông và Luận ngữ.
Cùng một cội nguồn, đi hai con đường
Khi hai áng văn nhìn cùng một vật bằng hai ánh mắt, điều đáng kể không phải chỗ chúng khác nhau, mà là chỗ chúng chung một người thầy.
Luận ngữ thiên về luân lý chính trị, Dịch truyện thiên về triết lý tự nhiên. Vì vậy cùng một chữ nhưng hai nơi có sắc thái khác nhau, song mạch ngầm vẫn chung.
Chữ “đạo”: trong Luận ngữ, đạo chủ yếu là lễ, nhân, đức, như đạo trung dung của người quân tử, đạo làm người, đạo thầy trò, đạo làm cha. Trong Dịch truyện, đạo thiên về triết lý tự nhiên: một âm một dương gọi là đạo; có đạo trời, đạo người, đạo đất; cái ở trên hình gọi là đạo, cái ở dưới hình gọi là khí.
Chữ “thiên”: trong Luận ngữ là thiên mệnh, như sống chết có mệnh, giàu sang do trời; hoặc là thượng đế, như câu “trời ghét ta”, “trời hại ta”; hoặc chỉ trời xanh. Trong Dịch truyện, trời chủ yếu là thiên nhiên: ngẩng xem nhật nguyệt tinh tú, trời rủ hình tượng, Dịch rộng lớn sánh cùng trời đất.
Chữ “khí”: trong Luận ngữ là phẩm chất, tài năng, như lời nói với một học trò rằng anh như một món đồ dùng. Trong Dịch truyện là vật thể hữu hình, đối với đạo là phần vô hình.
Bấy nhiêu điểm khác cho thấy hai tác phẩm cùng một cội nguồn nhưng đi hai con đường.
Cùng một khí chất của người dám vào đời
Còn về khí chất thì hai tác phẩm lại giống nhau đến mức gần như cùng một giọng. Cả hai đều chủ trương nhập thế, dự việc chính trị, khuyến khích ý chí phấn đấu bền bỉ. Luận ngữ có những câu như: ba quân có thể bắt mất chủ soái, nhưng không thể bắt một người thường mất chí; say mê đạo lý đến quên ăn, vui đến quên buồn, không biết tuổi già sắp đến; kẻ có chí và người có nhân không vì tham sống mà hại điều nhân, có khi hy sinh thân mình để thành điều nhân; mọi sự đổi dời như nước chảy, ngày đêm không ngừng.
Dịch truyện có những câu hô ứng: trời vận hành mạnh mẽ, người quân tử do đó tự cường không nghỉ; đạo lập trời là âm và dương, đạo lập đất là mềm và cứng, đạo lập người là nhân và nghĩa; ngày một đổi mới là đức lớn, sinh rồi lại sinh là Dịch.
Người ta còn đặt hai bên so sánh từng câu. Luận ngữ: thấy người làm điều thiện thì sợ mình kém, thấy điều bất thiện thì tránh như tránh nước sôi; điều gì không hợp lẽ thì đừng nhìn, đừng nghe, đừng nói, đừng làm. Tượng truyện: người quân tử nên trau dồi văn chương đạo đức để đợi thời; lấy kiệm ước làm đức để tránh nạn; ngăn điều ác, nêu điều thiện; tự xét mình, sửa đức; tích lũy hiền đức, cải thiện phong tục; đứng một mình không sợ, trốn đời không buồn. Tượng truyện còn nhiều lời cùng giọng ấy: thế đất dày và thuận, người quân tử tăng dày đức đẹp để dung chứa muôn vật (quẻ Khôn); người quân tử ra sức trị lý thiên hạ (quẻ Truân); người quân tử quả đoán hành động để vun đức (quẻ Mông); người quân tử hao tâm tổn trí giáo hóa dân, phát huy đức đẹp để dung dưỡng dân chúng (quẻ Lâm); người quân tử cẩn trọng lời nói để dưỡng đức, tiết chế ăn uống để nuôi thân (quẻ Di); người quân tử xa lánh kẻ tiểu nhân, không tỏ vẻ căm ghét mà tỏ vẻ uy nghiêm (quẻ Độn). Hai bên đang nói về cùng một con người.
Một lời kết dè dặt và tiếng chuông báo trước
Cái đáng giá của câu trả lời không nằm ở chỗ nó chỉ đúng một tên người, mà ở chỗ nó giữ đủ hai phần của sự thật.
Từ các so sánh ấy có thể rút ra kết luận thận trọng: Thoán và Tượng do Khổng Tử viết và được môn đồ bổ sung, còn Hệ từ và Văn ngôn do môn nhân biên soạn dựa trên tư tưởng của ông. Nhà nghiên cứu Kim Cảnh Phương cũng nói tương tự: mười thiên Dịch truyện về cơ bản là Khổng Tử viết, nhưng trong đó có phần ghi lại điều nghe của người trước, có phần là lời ghi của đệ tử, có phần do người sau xen vào, còn chỗ mất, chỗ sai thì không kể. Sự thật lịch sử chính xác ra sao còn cần khảo thêm. Dù thế, ít nhất có thể khẳng định mối quan hệ giữa Khổng Tử và Dịch truyện rất mật thiết, nếu không phải thủ bút của ông thì cũng là tư tưởng của ông qua tay môn nhân. Vì vậy hơn hai nghìn năm nay người ta vẫn coi Dịch truyện là của Khổng Tử, và điều đó đã nâng giá trị của Dịch truyện lên rất cao.
Chu Dịch về sau chia làm hai dòng: nghĩa lý và tượng số. Từ trước người ta cho rằng người mở ra dòng nghĩa lý là Vương Bật đời Ngụy Tấn, mà không để ý đến vai trò của Khổng Tử. Thực ra ngay từ Xuân Thu, ông đã gióng lên tiếng chuông báo trước. Tờ lụa Chu Dịch khai quật ở Mã Vương Đôi ghi lời ông: ta xem về đức và nghĩa của nó; ta không yên tâm khi dùng nó để bói, nhưng thích lời lẽ của nó; ta với các thầy bói cùng đi một đường mà đến khác nơi. Ông gọi kinh Dịch là lời để lại của người xưa, một bộ sách đã manh nha từ thời Ân Chu. Ảnh hưởng của những câu ấy rất lớn, rất nhiều người nghiên cứu Dịch đời sau tán dương chúng.
Chú giải của Vương Bật quả là sự kiện lớn của dòng nghĩa lý, nhưng tiếng chuông của Khổng Tử không thể coi nhẹ. Chu Dịch chính nghĩa của Khổng Dĩnh Đạt là một tập đại thành, hợp tượng số và nghĩa lý làm một, song dưới ảnh hưởng của Khổng Tử thì nghĩa lý vẫn là chủ. Chính Khổng Dĩnh Đạt đã nói: lấy Trọng Ni làm tôn chủ thì nghĩa lý là phải lẽ.
Nhìn lại, công của Khổng Tử đối với Chu Dịch là đặt nền móng cho việc nó trở thành bộ kinh hàng đầu của kinh học và Nho học, nhờ xếp nó vào sáu kinh; là chỉnh lý, giảng dạy, truyền bá và soạn Dịch truyện để giữ gìn tác phẩm văn hóa quý giá này; và là mở ra một chân trời mới khi đề cao nghĩa lý. Gọi ông là cha đẻ của Dịch học là điều xác đáng, và vì vậy, người muốn nghiên cứu kinh Dịch nên bắt đầu bằng việc tìm hiểu Khổng Tử.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 3 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
