Bài tổng quan
Chu văn công dịch thuyết, nơi cháu Chu Hi gom lời ông bàn Dịch
Những lời Chu Hi nói với học trò khi chuyện trò hay lúc giảng bài nằm rải rác khắp nơi, cho tới khi người cháu đích tôn ngồi gom lại. Trong đó có câu ông nói thẳng: trước hết, kinh Dịch là một cuốn để bói. Nhưng đó chưa phải lời cuối cùng của ông...
Chu Hi để lại Chu Dịch bản nghĩa, nhưng những lời ông nói về Dịch với học trò lúc chuyện trò, lúc giảng bài lại nằm rải rác trong Chu Tử ngữ lục. Người cháu đích tôn của ông là Chu Giám đã ngồi gom chúng lại thành Chu văn công dịch thuyết. Bộ sách vì thế được xem như phần bổ sung cho Bản nghĩa, và cùng Bản nghĩa làm nên bộ mặt Dịch học của Chu Tử.
Chu Giám sống từ năm 1150 đến năm 1238, tự Tử Minh, làm quan đến chức Hồ Quảng tổng lãnh. Bộ sách của ông có hai mươi ba cuốn theo cách chép của Tứ khố toàn thư. Hai cuốn đầu là các chuyên luận về Hà đồ, Lạc thư, thái cực, lưỡng nghi, tứ tượng, phương vị bát quái, sáu mươi bốn quẻ, Càn Khôn. Các cuốn từ ba đến sáu chú thích phần kinh thượng và hạ; cuốn bảy chép Thoán truyện, cuốn tám Tượng truyện; từ cuốn chín đến mười bốn là Hệ từ truyện, hai cuốn tiếp là Văn ngôn truyện; cuốn mười bảy là Thuyết quái, Tự quái, Tạp quái. Phần còn lại gồm những bài tạp luận về cách làm Dịch và cách đọc Dịch, phần chú giải Tham đồng khế, phần bói toán và cách đếm cỏ thi, cuối cùng là những lời đáp học trò và lời bàn về Dịch truyện của họ Trình.
Lời của người thầy được gom thành một bức tranh đủ đầy
Bản nghĩa là bản chính thức, còn lời đối đáp mới cho thấy ông nghĩ gì khi không còn ngồi trước giấy bút.
Chu Hi chủ trương tượng số và nghĩa lý phải đi cùng nhau. Ông viết Chu Dịch bản nghĩa, Dịch học khải mông, Cổ Dịch âm huấn, nhưng những lời bàn Dịch cùng đệ tử lại nằm trong Chu Tử ngữ lục. Chu Giám gom chúng về một chỗ, bổ cho chỗ khuyết của Bản nghĩa. Nhờ vậy, Dịch học của Chu Hi hiện ra khá trọn vẹn, từ đồ thuyết, chú kinh, bói toán đến Dịch truyện.
Dịch đồ: Hà Lạc có thật, thái cực là lý
Nếu sông Hà chưa từng hiện ra bức đồ nào, tại sao Khổng Tử lại thở than về nó?
Về Hà đồ, Lạc thư, Chu Giám ghi lại lập trường của Chu Hi là khẳng định chúng. Ôn Công cho Hà đồ và Lạc thư là giả. Chu Hi đáp lại bằng một câu hỏi: nếu không có, sao Phu Tử lại than rằng chim phượng không đến, sông Hà không hiện đồ? Ông cũng sắp xếp lại tên gọi, sửa chỗ nhầm của Lưu Mục. Theo truyền thuyết, các số từ một đến chín là Hà đồ, từ một đến mười là Lạc thư; nhưng đối chiếu sách xưa thì ngược lại. Ông còn nói Hà đồ là thường số, Lạc thư là biến số.
Về thái cực, Chu Giám chép: đạo của phu tử như thái cực, mọi việc trong trời đất như vạn vật, vật tuy nhiều nhưng thái cực chỉ có một. Thái cực là lý. Nó không phải một vật riêng tách khỏi âm dương: trong âm dương có ngũ hành, trong ngũ hành có vạn vật, và trong vạn vật lại chỉ là một lý. Vì là cái cùng tột nên gọi là thái cực. Đây là chỗ Chu Hi đưa thái cực lên làm bản thể của vũ trụ, dù thuộc về cách nhìn duy tâm khách quan, nhưng có ý nghĩa lớn với sự phát triển của đồ thuyết.
Dịch lý: nói chuyện vô hạn bằng vài chữ
Một bộ kinh ngắn mà giải thích được thiên văn, địa lý, nhạc luật, binh pháp, toán học: bí quyết là sự trừu tượng.
Chu Hi nói Dịch khác Thi, Thư. Thi và Thư kể chuyện cụ thể; Dịch nói lẽ vô cùng tận của trời đất, chỉ vài chữ là đã một đạo lý. Dịch là một vật nhưng không có thật, không phải một vật cụ thể, như nói rồng mà không phải rồng thật; Dịch là vật không có hình ảnh. Kinh Dịch vì vậy khái quát cao và trừu tượng, đủ làm khung cho mọi chuyện. Tứ khố toàn thư tổng mục có câu: đạo Dịch rộng lớn, thiên văn, địa lý, nhạc luật, binh pháp, toán học đều có thể giải thích bằng Dịch. Chu Giám đã nối tiếp và phát huy ý này.
Bói toán: lớp áo đầu tiên của Dịch
Ông nói thẳng cái người đời hay ngại nói: trước hết kinh Dịch là một cuốn để bói.
Chu Hi cho rằng Dịch là sách bói, ngày xưa chỉ quan thái sử, thái bốc dùng nó để xem lành dữ, chưa ai suy rộng ra, đến Khổng Tử mới bàn tới đạo lý của nó. Thánh nhân làm ra Dịch là để bói, nhưng trong ngôn ngữ đã bao hàm nghĩa lý. Khổng Tử sợ người đời chỉ chú trọng việc bói nên mới dùng nghĩa lý để giải thích. Bức hình tám quẻ vốn dùng để bói; Phục Hi vẽ tám quẻ chỉ là việc tình cờ, không nói gì thêm; Văn Vương chồng các quẻ làm lời quẻ, Chu Công làm lời hào cũng đều để bói; đến Khổng Tử mới thành đạo lý.
Từ đó Chu Giám đi đến chỗ giữ thế quân bình: ông phản đối cách bỏ tượng cầu nghĩa, nhưng cũng không đồng tình với việc trọng nghĩa khinh tượng. Ông chủ trương tượng và nghĩa ngang nhau, và đó là tinh thần của Chu Hi.
Kinh và truyện, một bên là cội nguồn, một bên là bậc thang
Kinh và truyện cách nhau cả trăm năm, và người đọc phải biết mình đang đứng ở tầng nào.
Từ Dịch kinh đến Dịch truyện cách nhau hàng trăm năm, nhưng truyện là lời giải thích cho kinh và là sự thăng hoa dựng trên kinh. Cả hai cùng đại diện cho cách nhìn Dịch của Chu Công và Khổng Tử. Chu Hi coi trọng sự thống nhất của kinh và truyện, đồng thời nói giữa chúng có chỗ khác nhau, không thể lấy truyện thay kinh; nghiên cứu lịch sử Dịch học phải để ý đến từng giai đoạn của nó. Ông cũng khẳng định trình độ triết lý của truyện cao hơn kinh nhiều, kinh là cội nguồn triết lý của truyện.
Về phần bói của Văn Vương và Chu Công, về sau Khổng Tử cho rằng có sách thì có nghĩa lý, vì vậy từ âm dương, hư thực mà dựng nên đạo lý tiến thoái, được mất. Có người hỏi Chu Hi rằng thánh nhân làm Dịch chỉ để nêu lý cương nhu, âm dương, tốt xấu thôi sao. Ông đáp rằng đúng như vậy, và Phục Hi tuy chỉ vẽ tám quẻ nhưng trong đó đã bao hàm đạo lý của âm dương, cương nhu, tốt xấu.
Điều Chu Giám để lại cho người học Dịch
Gom lời người đi trước là việc nhỏ, nhưng gom đúng thì cả một hệ tư tưởng được giữ lại.
Công của Chu văn công dịch thuyết nằm ở ba điểm. Thứ nhất, nó nối tiếp tư tưởng phát triển toàn diện về Dịch học của Chu Hi: đưa những quan điểm đối lập mà thống nhất của ông về đồ thuyết, tượng số và nghĩa lý vào một chỗ, uốn nắn lại sự lệch lạc của Dịch Hán và Dịch Ngụy Tấn, khiến Dịch Tống phát triển toàn diện và biện chứng hơn. Thứ hai, nó bổ sung Chu Dịch bản nghĩa bằng tư tưởng Dịch học trong Chu Tử ngữ lục. Thứ ba, cùng với Bản nghĩa, nó thành tác phẩm cốt lõi của Dịch học Chu Tử, giúp học thuyết ấy lưu truyền ở Trung Hoa và có ảnh hưởng sâu xa tới Nhật Bản, Đông Nam Á. Đây là tài liệu đáng tham khảo khi nghiên cứu Chu Tử Dịch học và Dịch Tống.
Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 3, thuật lại có lược bớt.
