Bài tổng quan
Chu Hi và chữ lý có trước trời đất, thái cực chính là lý
Người cha chỉ lên bảo "kia là trời", cậu bé Chu Hi hỏi ngay: thế trên trời có gì? Câu hỏi ấy theo ông suốt đời, rồi thành một lời đáp táo bạo: trước cả trời đất đã có một cái lý. Nhưng cái lý không hình không tiếng ấy là gì, và nó gặp khí ở chỗ nào…
Mục lục · 8 phần
- 01Cậu bé hỏi trên trời có gì
- 02Người học trò đời thứ tư của họ Trình
- 03Chưa có trời đất, đã có lý
- 04Lý đứng trên hình, khí nằm dưới hình
- 05Lý cũng là đạo: từ Dịch, từ Lão Tử
- 06Lý cũng là thái cực: mỗi người một thái cực, mỗi vật một thái cực
- 07Thái cực của Dịch động, thái cực của Chu Hi tĩnh
- 08Lý và khí nương nhau, nhưng lý đi trước
Cậu bé hỏi trên trời có gì
Chu Hi sống từ năm 1130 đến năm 1200, là nhà Nho và nhà tư tưởng lớn của thời Nam Tống. Trong con mắt người xưa, danh tiếng của ông chỉ đứng sau Khổng Tử; ông được tôn là bậc thánh nhân của đời sau. Tư tưởng của ông về sau trở thành hạt nhân của bốn triều đại Tống, Nguyên, Minh, Thanh, đại diện cho thành tựu cao nhất của lý học Tống Minh. Với ông, điều trung tâm là chữ "thiên lý", nơi triết học, chính trị và luân lý gặp nhau.
Chuyện kể rằng ông xuất thân trong một gia đình quan lại và tỏ ra thông minh hơn người từ rất nhỏ. Một lần người cha chỉ lên và bảo: "Kia là trời." Cậu bé lập tức hỏi lại: "Thế trên trời có cái gì?" Người cha vô cùng ngạc nhiên, liền dạy con học từ Tứ thư Ngũ kinh. Cha ông là Chu Tùng, vốn làm quan trong triều, vì dâng thư phản đối việc giải hòa với người Kim nên bị đuổi khỏi triều, phải ra làm quan địa phương. Dưới sự dạy dỗ của cha, ngay từ bé cậu đã học Luận Ngữ, Mạnh Tử, Dịch Kinh, Kinh Thi, Thượng Thư, Xuân Thu, Lễ Ký.
Lớn lên, ông viết rất nhiều và tác phẩm nào cũng có giá trị: "Chu Dịch bản nghĩa", "Tứ thư tập chú", "Thái cực đồ thuyết giải", "Thi tập truyện", "Thông thư giải", "Chu Tử ngữ loại", "Chu Tử đại toàn"... đều là những công trình tiêu biểu của văn học, sử học và triết học. Ông là người lấy hai thiên "Đại học" và "Trung dung" trong bộ Lễ Ký ra, ghép với Luận Ngữ và Mạnh Tử thành "Tứ thư", đặt cạnh Ngũ kinh trong hàng kinh điển của Nho gia. "Tứ thư tập chú" của ông được xem là công trình đầy uy quyền của Nho học thời Nam Tống, về sau thành giáo trình dùng cho thi cử. "Chu Dịch bản nghĩa" là một trong những kiệt tác của Dịch học, từng được nhiều nhà Dịch học đời sau tôn trọng. Còn "Chu Tử ngữ loại", bộ ghi lời ông giảng với học trò, thu gom tinh hoa triết học của đời Tống và là một tài liệu quan trọng của tư tưởng Nho giáo.
Cuộc đời ông có một điều đáng ngẫm. Lúc còn sống, ông chưa được coi trọng; vài năm sau khi mất, người ta mới chú ý rồi tôn sùng, truy phong ông là Chu Văn Công. Sau đó "Tứ thư tập chú" được dùng làm chuẩn cho khoa cử và làm giáo trình ở học đường, triều đình ra chiếu cho thờ ông trong đền Khổng Tử, và người ta gọi ông là Khổng Tử tái thế. Triều Nguyên lấy lý học của ông làm tư tưởng chủ chốt, lấy Tứ thư Ngũ kinh làm giáo trình. Triều Minh có câu trọng Chu Tử tức là trọng Khổng Tử, và thờ ông như một bậc học giả vĩ đại. Đến đời Thanh, vua Khang Hi hết mực kính phục ông. Trong gần bảy trăm năm, Chu Tử là bậc thánh của bốn triều đại lớn của Trung Hoa.
Người học trò đời thứ tư của họ Trình
Mọi hạt giống lớn đều có đất của nó. Cái cây Chu Hi trồng nảy ra từ đất mà họ Trình đã cày.
Chu Hi là học trò đời thứ tư của Trình Di; ông từng tôn Lý Đồng, học trò đời thứ ba của họ Trình, làm thầy. Tư tưởng của ông là sự kế thừa và phát triển học thuyết của họ Trình, nên người ta hay ghép tên hai bên mà gọi là lý học Trình Chu. Nhưng Chu Hi cũng có nhiều sáng tạo, nhiều đóng góp riêng cho học thuyết ấy, lại dựng được một hệ thống độc lập nên về sau người ta còn gọi riêng là lý học Chu Hi. Nền lý học này lấy chữ lý làm hạt nhân, hòa thêm tư tưởng Phật và Đạo, tạo nên một hệ thống lớn hơn lý học của họ Trình.
Chưa có trời đất, đã có lý
Trong triết học của Chu Hi, "lý" là phạm trù cao nhất. Ông nói lý là thứ vừa thực vừa hư, như một vật vừa có vừa không. Điều ông nhấn mạnh là: từ thuở sơ khai của vạn vật, lý đã có rồi, và lý chính là nguồn gốc của vạn vật, có vai trò quyết định đối với vạn vật. Ông nói rất rõ, nhiều lần, ở nhiều chỗ khác nhau:
Cái có trước khi có trời đất là lý. Có cái lý này thì mới có trời đất; nếu không có lý này thì không có trời đất, không có người, cũng không có vật.
Tuy chưa có vật, nhưng đã có cái lý của vật.
Có cái lý này thì mới có cái khí này. Mọi hình hài của muôn vật trong trời đất, có cái gì mà không sinh ra từ cái lý này.
Với ông, lý không chỉ là bản thể của vạn vật mà còn là cội nguồn của cả đạo đức luân lý trong xã hội loài người. Ông hay lấy chiếc quạt làm ví dụ:
Như cái quạt này, nó có đạo lý của nó. Quạt được làm như thế, gấp lại cũng dùng như thế; đó chính là đạo lý của nó.
Giả như cái quạt này là vật này, thì phải có cái lý của quạt; quạt được làm như vậy là hợp với cách dùng như vậy. Đó là cái lý nằm phía trên hình tượng.
Hiểu cho gọn: chiếc quạt phe phẩy ra làn gió mát, nhưng trước khi người ta làm ra chiếc quạt, luồng khí lạnh bay tới vẫn thành gió lạnh; nghĩa là cái đạo lý ấy đã có sẵn. Khi chưa có ai nghĩ ra chiếc quạt thì cái "lý" của chiếc quạt đã tồn tại từ lâu rồi. Ông gọi đó là "hình nhi thượng chi lý", cái lý nằm ở trên hình. Hạt nhân cách nghĩ của ông gói lại trong một câu: chưa có vật đã có lý; nói khác đi, lý quyết định vật, và tinh thần đứng ở hàng đầu còn vật chất đứng ở hàng sau.
Nếu hỏi ngược lại, người ta vẫn có thể nghĩ rằng đạo lý của chiếc quạt vốn cũng sinh ra từ đời sống: con người từng dùng lá sen, vỏ cây, lá chuối quạt vào không khí rồi mới làm ra chiếc quạt, và cái lẽ ấy cũng có thể xuất phát từ những vật khác ngoài chiếc quạt. Nhưng Chu Hi nhìn theo hướng khác: ông xem cái lý ấy là có trước, bất kể vật nào.
Ông còn nói thẳng như vậy với học trò. Học trò hỏi: khi trời đất chưa có, ở dưới đã có vạn vật chưa? Ông đáp: đã có lý. Học trò hỏi tiếp: khi trời đất chưa phân thì trong đó đã có vạn vật chưa? Ông đáp: chỉ có cái lý ấy thôi. Nghĩa là trước khi có trời đất, lý của vạn sự vạn vật đã có đủ rồi. Ông nói thêm: có trước trời ắt là cái lý này có trước. Cả hệ thống lý học của ông dựa trên cách nhìn ấy, lấy Nho gia làm chủ, trộn thêm một chút quan điểm của Phật học, và tư tưởng trung tâm là lý làm gốc duy nhất.
Lý đứng trên hình, khí nằm dưới hình
Nếu lý có trước và đứng cao như vậy, nó đứng ở đâu so với những thứ ta nhìn thấy được?
Câu trả lời của Chu Hi dựa trên một câu của Hệ Từ: cái ở trên hình gọi là đạo, cái ở dưới hình gọi là khí. Ông viết rằng cái ở trên hình là đạo, cái ở dưới hình là vật; nói đến vật dưới hình thì đã có đạo trên hình ấy. Ông còn nói thêm:
Cái ở trên trời đất là đạo lý, cái ở dưới trời đất là khí. Trong cái khí dưới trời đất có đạo lý ở trên trời đất. Nếu coi khí dưới trời đất là đạo thì không thể được.
Như vậy ông xếp trời đất vào bậc "hình", xếp lý (đạo) ở trên cả trời đất, còn vạn vật trong trời đất thuộc "khí". Thứ bậc ấy, ông nhấn mạnh, không thể đảo ngược. Nếu coi khí là đạo thì sai. Nghĩa là lý đã có từ lâu trước khi có trời đất và vạn sự vạn vật. Ông cũng cho rằng đạo vốn không có thể xác, không có tiếng, không có mùi, bất sinh bất diệt, không hình không thể: cái gì không âm thanh, không mùi vị, đó chính là đạo.
Lý cũng là đạo: từ Dịch, từ Lão Tử
Chữ "đạo" mà Chu Hi dùng có hai nguồn xa. Một là Chu Dịch, nơi gọi sự vận hành của âm dương là đạo: một âm một dương gọi là đạo. Điều đó có nghĩa là sự vận động của âm dương là nguồn gốc sinh ra vạn sự vạn vật, một nhận định rất rực rỡ và là mệnh đề giàu triết lý mà người xưa vẫn hay nói về đạo.
Nguồn thứ hai là Lão Tử, người nói đạo mà nói ra được thì không phải đạo thường hằng, tên mà gọi ra được thì không phải tên thường hằng; không tên là buổi đầu của trời đất, có tên là mẹ của muôn vật. Đạo ở đây là điểm khởi đầu của trời đất và là mẹ của vạn vật; dù là "có" hay "không" cũng lấy đạo làm gốc, nên đạo vừa là nguồn chung của mọi vật trong vũ trụ vừa là chỗ biến hóa giữa có và không.
Đến Chu Hi, đạo là "hình nhi thượng", nghĩa là lý là nguồn gốc của vạn vật, là tổ tông của vạn sự vạn vật, gồm cả sự hình thành của giới tự nhiên lẫn nguồn gốc các giá trị trong xã hội. Lý của Chu Hi vì vậy cũng chính là đạo. Gốc của chữ lý này nằm ở Chu Dịch: "hình nhi thượng giả vị chi đạo", cái ở trên hình gọi là đạo, và đạo của Dịch là một âm một dương. Có điều, Chu Hi không đi tiếp theo hướng vận động của âm dương ấy mà nhấn mạnh về cái ở trên hình, một quan niệm tuyệt đối đứng cao hơn mọi vật thể, gắn với luân lý.
Lý cũng là thái cực: mỗi người một thái cực, mỗi vật một thái cực
Chữ "thái cực" nghe thì xa xôi, nhưng Chu Hi nói nó ở ngay trong từng con người, từng sự vật.
Ông còn nói lý cũng chính là thái cực. Cơ sở của ý này bắt nguồn từ Thái cực đồ thuyết của Chu Đôn Di. "Thái" là rất lớn, "cực" là cùng cực: lý là nguồn gốc chung của vạn sự vạn vật, là chỗ tận cùng của mọi sự vật và cũng là chuẩn mực cao nhất của tất cả. Ông viết:
Mọi vật đều có chỗ cùng cực của nó, đó là chỗ tận cùng của lý: đức nhân của bậc làm vua, đức kính của kẻ làm tôi chính là cực. Gộp tất cả cái lý của vạn vật trong trời đất lại thì gọi là thái cực.
Nói gọn: lý của từng sự vật cụ thể thì gọi là "cực", lý chung của vạn sự vạn vật thì gọi là thái cực. Vì thế ông có hai câu liền nhau:
Thái cực chỉ là một chữ lý.
Lý của cả trời đất vạn vật chính là thái cực.
Trong mắt ông, thái cực là một đạo lý vượt khỏi cảm giác, vượt khỏi hình thể, không có phương hướng, không có hình dáng, không có chỗ nhất định để đặt vào. Nó nằm ngoài thời gian và không gian, là bản thể chung của vũ trụ vạn vật, đồng thời là chuẩn mực cao nhất của mọi sự vật. Cho nên ông kết luận: người người đều có một thái cực, vật vật đều có một thái cực. Cái toàn thể và cái riêng từng phần không tách rời nhau: toàn thể là một đạo lý, mỗi vật lại mang trọn đạo lý ấy trong mình.
Thái cực của Dịch động, thái cực của Chu Hi tĩnh
Chữ thái cực vốn xuất phát từ Dịch, nơi viết rằng Dịch có thái cực, thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái. Thái cực trong Chu Dịch là thái cực ở trạng thái động, là sự vận động của âm dương, nhờ đó vạn vật sinh ra và biến hóa, thay đổi. Còn thái cực của Chu Hi lại nghiêng về trạng thái tĩnh.
Chu Dịch nói một âm một dương gọi là đạo, tức bản thân đạo chính là sự vận động của khí âm dương. Chu Hi thì tách đạo lý ra khỏi khí âm dương, cho rằng trước khí âm dương còn có một đạo, tức thái cực, đứng ra chi phối khí âm dương. Ông viết:
Thái cực là lý, âm dương là khí. Khí sở dĩ biết động biết tĩnh là vì có lý làm chủ.
Đây là một chỗ rẽ quan trọng. Đối với Chu Dịch, chuyển động và biến hóa vốn sinh ra từ chính khí âm dương. Đối với Chu Hi, có một cái lý ở trước, đứng sau, làm chủ sự động tĩnh ấy. Khi giải thích sự tác động qua lại của thái cực và âm dương, ông đặt chuyển động và vật chất ở hai phía, một bên là cái lý tĩnh, một bên là khí động. Hiểu chỗ này, người học Dịch sẽ thấy vì sao cùng nói thái cực mà hai nền tư tưởng lại dẫn tới hai cách nhìn khác nhau về vũ trụ.
Lý và khí nương nhau, nhưng lý đi trước
Một cái lý không có chỗ bám thì chỉ là bóng. Muốn thành vạn vật, lý cần một người bạn đồng hành mang tên khí.
Chu Hi rất coi trọng quan hệ giữa lý và khí. Lý của ông là thứ vừa thực vừa hư, nhưng đồng thời phải nương vào khí mới có chỗ tác dụng. Lý và khí hợp lại mới sinh ra vạn vật, nên theo ông hai thứ ấy dựa nhau, không thể tách rời: lý là hình thức, khí là vật chất, hai thứ tác động lẫn nhau mà thành muôn vật. Ông viết:
Trong trời đất có lý có khí. Lý là đạo ở trên hình, là gốc sinh ra vật; khí là vật ở dưới hình, là phương tiện sinh ra vật. Nên cái sinh ra người và vật ắt phải nhận cái lý ấy rồi sau mới có tính, phải nhận cái khí ấy rồi sau mới có hình.
Thiên hạ không có khí rời khỏi lý, cũng không có lý rời khỏi khí.
Khí đi thì lý cũng đi; hai bên nương vào nhau, chưa từng rời xa.
Ông còn nói lý ngụ trong khí. Nhưng ông cũng nhấn mạnh thứ tự: lý có trước, khí có sau, khí sinh ra từ lý. Có câu ông nói về chỗ này: có lý rồi mới có khí; và khi đã có khí, lý mới có chỗ yên. Lý chỉ huy khí, khí chịu sự chi phối và giới hạn của lý. Ông cho rằng chỉ ở nơi khí này ngưng tụ thì mới có lý nằm giữa; nếu chỉ có lý thì thế giới là một khoảng trống trong trẻo, không hình thể, không dấu vết, còn có khí thì có lý ở trong. Trước có lý sau mới có khí, nên mọi việc lấy lý làm chủ. Học trò hỏi: có lý này làm chủ khí, vậy khí có thể làm như thế được chăng? Ông đáp: được.
Nhìn từ Chu Dịch thì lại khác. Trong Dịch có câu "tinh khí làm thành vật, du hồn làm nên biến", chỉ ra rằng bản thân đạo chính là sự tác dụng lẫn nhau của khí âm dương, không có gì vượt khỏi khí âm dương. Còn lý của Chu Hi là một quan niệm tuyệt đối đứng cao hơn cả khí. Ông đưa ra thuyết lý là gốc duy nhất: bên trên khí vẫn còn lý thoát khỏi vật chất, lý ấy vượt qua thời gian và không gian, không sinh không diệt, và chi phối khí cấu thành thế giới cụ thể có sinh có diệt, bị giới hạn bởi không gian và thời gian.
Thuyết lý và khí của ông được dựng trên nền họ Trình. Hai anh em họ Trình chưa nói rõ lý và khí cái nào có trước, nhưng đã nhìn lý là bản chất của khí, và phản đối ý "thái hư tức khí" của Trương Tái, cho rằng khí chỉ là thứ "ở dưới hình", không thể ngang với đạo "ở trên hình". Chu Hi đi tiếp: ông nói lý lấy khí làm dụng, khí lấy lý làm gốc, và làm sống động cái "đạo lý" khá cứng nhắc của họ Trình bằng ý rằng vạn vật sinh ra là do lý và khí tác động lẫn nhau. Tóm lại, lý đứng thứ nhất, khí là cái bị chi phối đứng thứ hai; nhưng nhờ có khí, lý của Chu Hi mang nội dung cụ thể hơn lý của họ Trình rất nhiều.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 2 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
