Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Lão Tử và chữ Đạo: vật hỗn thành có trước trời đất

Đạo Học - Khuyên Thiện03/10/202611 phút đọc0 lượt đọc
Lão Tử và chữ Đạo: vật hỗn thành có trước trời đất

Sinh ra trước trời đất, nhìn không thấy, nắm không được, chỉ có thể gọi bằng chữ đại, chữ huyền: đó là cách năm nghìn chữ nói về cái gốc của muôn vật. Người đời sau vẫn cãi nhau xem cái ấy là vật hay là thần. Còn chính thân thế người viết ra nó thì…


Người khai sáng Đạo gia và năm nghìn chữ

Lão Tử là người khai sáng tư tưởng Đạo gia, đồng thời là một nhà tư tưởng triết học nổi tiếng của Trung Quốc. Quan điểm "đạo pháp tự nhiên", tức đạo noi theo tự nhiên, là tinh túy trong triết học của ông; cuốn Lão Tử phản ánh sức sống của nền triết học này. Nhưng quan điểm về xã hội của ông lại có phần tiêu cực, thụt lùi, do phản ánh tư tưởng suy tàn của tầng lớp chủ nô thời cổ đại.

Vô dục và vô vi là cốt lõi của tư tưởng trong cuốn sách ấy. Ông muốn xã hội hóa tư tưởng vô dục, vô vi của mình, và đó là nhược điểm lớn nhất, vì nó phủ nhận mối quan hệ trọng đại giữa cá nhân và xã hội; trên thực tế, ảnh hưởng của xã hội đối với con người còn quan trọng hơn cả tự nhiên.

Năm nghìn chữ của cuốn Lão Tử hàm chứa phép biện chứng sâu sắc. Ông tuy nhấn mạnh sự chuyển hóa nhưng lại bỏ qua điều kiện làm nảy sinh chuyển hóa, tất cả đều xuôi theo tự nhiên, nên mới gọi là "đạo pháp tự nhiên", và đó là nhược điểm trong tư tưởng của ông. Những quan điểm ấy, dù tiêu cực hay tích cực, đều có ảnh hưởng vô cùng sâu sắc đối với tư tưởng văn hóa Trung Quốc.

Thân thế mờ trong sương khói và bản văn năm nghìn chữ

Càng tìm kỹ người viết, càng thấy ông lùi sâu vào sương khói; chỉ còn lại những dòng chữ ngắn nằm lại.

Lão Tử, tên Đam, người nước Sở thời Xuân Thu, nay thuộc huyện Khổ tỉnh Hà Nam, tức quê ở Khúc Nhân, hương Đông, ấp Kim Lộc. Ông là nhà tư tưởng nổi tiếng thời cổ đại Trung Quốc, từng làm quan giữ sử của vương triều Chu, về sau từ quan đi ở ẩn. Ông sống trong bối cảnh lịch sử là xã hội nô lệ đang suy thoái và xã hội phong kiến bắt đầu hình thành, nên tư tưởng của tầng lớp đang xuống dốc được phản ánh khá đậm trong tư tưởng của ông.

Tư tưởng của Lão Đam được truyền lại cho hậu thế qua cuốn Lão Tử. Cuốn này có từ thời Chiến Quốc, được gọi là Đạo Đức Kinh hoặc Lão Tử ngũ thiên văn. Năm 1973, trong ngôi mộ cổ số 3 đời Hán ở Mã Vương, Trường Sa, Hồ Nam, người ta khai quật được bản Lão Tử viết trên lụa, chia làm hai thiên: Đạo kinh là thượng thiên, Đức kinh là hạ thiên.

Theo nghiên cứu, có ý kiến cho rằng cuốn ấy không phải do Lão Đam viết, nhưng về cơ bản phản ánh được tư tưởng của ông. Tác giả của cuốn Lão Tử hiện nay chưa được khảo cứu xong, nhưng chắc chắn không phải do một người sáng tác.

Lão Tử và Khổng Tử là người cùng thời Xuân Thu, nhưng bản văn Lão Tử lại xuất hiện sau Luận Ngữ và Dịch truyện, cùng thời với Mạnh Tử và Mặc Tử, về cơ bản là tác phẩm hình thành vào cuối thời Chiến Quốc; có người cho rằng bộ này hình thành vào khoảng giữa thời Tần và Hán. Ngay thân thế Lão Tử cũng có tranh luận: có người cho rằng Lão Tử là Lão Đam thời Xuân Thu, lớn tuổi hơn Khổng Tử; có người cho rằng ông là Lý Nhĩ thời Chiến Quốc; thậm chí có người gắn ông với một nhân vật đời Hán.

Nhậm Kế Dũ cho rằng cuốn Lão Tử kỳ thực chẳng phải lời của một người, sách của một đời. Sớm thì có thể từ thời Tiên Tần, muộn thì có thể cuối Tần đầu Hán, nhưng nội dung chủ yếu hình thành vào thời Chiến Quốc. Việc nó thẩm thấu và tác động qua lại với các tác phẩm cùng thời như Dịch truyện, Mặc Tử, Kinh Dịch là điều tất yếu. Nhưng các tư tưởng chủ đạo như quan niệm về thiên đạo, quý nhu và phép biện chứng chủ yếu phản ánh tư tưởng của Lão Tử.

Điểm sáng và điểm tối của một hệ thống

Cùng một bàn tay vừa mở ra cánh cửa nhìn trời đất, vừa kéo ông lùi lại khỏi phố chợ.

Thành tựu về tư tưởng biện chứng, tư tưởng vô thần luận và quan niệm vũ trụ tự nhiên trong hệ thống học thuật của ông rất lớn. Còn quan điểm xã hội của ông có phần tiêu cực, thụt lùi, vì gắn mật thiết với cuộc sống ẩn sĩ của ông. Đặc điểm tư tưởng ấy là: cá nhân phải vô vi, bất tranh; quan hệ giữa người với người phải như hàng xóm cùng nghe tiếng gà kêu, chó sủa, nhưng đến già chết cũng chẳng qua lại với nhau. Đối với quốc gia, ông hy vọng trở về thời thị tộc kết thằng, ăn hang ở lỗ thuở xa xưa. Vì vậy, dù phần phép biện chứng và quan niệm vũ trụ tự nhiên của ông rất rực rỡ, nó vẫn bị che phủ bởi quan điểm xã hội sai lầm của chính ông. Đó là nguyên nhân của sự tranh nghị về sức ảnh hưởng của Đạo gia Lão Tử trong lòng nhân dân Trung Quốc.

Lão Tử là nhà tư tưởng triết học nổi tiếng của Trung Quốc cổ đại. Ông là người theo thuyết vô thần rõ ràng; xét tổng thể, quan niệm vũ trụ tự nhiên của ông là duy vật, sáng tỏ; tư tưởng biện chứng còn thô sơ của ông có vị trí nhất định trong lịch sử triết học Trung Quốc. Nhưng quan điểm xã hội của ông lại tiêu cực, thụt lùi. Đó chính là điểm then chốt khiến vị trí của Lão Tử trong lịch sử văn hóa Trung Quốc kém Khổng Tử.

Đạo: gốc của muôn vật

Giữa cái có tên và cái không tên, ông đặt một chữ để chỉ nơi muôn vật bắt đầu.

Vũ trụ quan của ông rõ ràng và duy vật. Ông là người vô thần, và tư tưởng biện chứng của ông rất phong phú. Đạo là phạm trù trung tâm của hệ thống tư tưởng ấy. Quan điểm chủ yếu được chép trong Đạo Đức Kinh:

Đạo khả đạo phi thường đạo, danh khả danh phi thường danh. Vô danh thiên địa chi thủy, hữu danh vạn vật chi mẫu. Thường vô dục dĩ quan kỳ diệu, thường hữu dục dĩ quan kỳ khiếu. Thử lưỡng giả, đồng xuất nhi dị danh, đồng vị chi huyền. Huyền chi hựu huyền, chúng diệu chi môn.

Nghĩa là: đạo có thể nói được chẳng phải đạo thường; danh mà gọi được thì không phải danh thường; trời đất thuở đầu không có tên; có tên là khi muôn vật đã được sinh ra. Thường không có dục vọng sẽ thấy được chỗ huyền diệu; có ham muốn chỉ thấy được chỗ quanh co. Hai điều đó cùng một nguồn mà khác tên, đều gọi là Huyền. Huyền mà lại huyền là cửa ngõ của muôn điều huyền diệu. Ông chỉ ra đạo là cái sinh ra muôn vật. Ông còn nói đạo là gốc rễ của trời đất.

Lão Tử cho rằng đạo tồn tại trước cả trời đất và muôn vật, như chương 25 của Đạo Đức Kinh chép: sinh ra trước trời đất, thuở muôn vật còn hỗn mang. Ông tin rằng đạo ấy chính là một vật. Chương 21 chép: trong đó có vật, trong đó có tượng, trong đó có tinh, trong tinh ấy có chân thật, trong đó có tin. Vậy vật ấy thực chất là gì, bản thân ông cũng không nói rõ. Ông cho rằng đó là vật hỗn độn, nhìn không thấy, nắm không được. Đúng như chương 21 chép: đạo là vật, nó chớp nhoáng, nó thoang thoảng; thoang thoảng mà chớp nhoáng. Chỉ có thể dùng chữ "đại" là to lớn, chữ "huyền" là mờ ảo, sâu thẳm để biểu ý.

Lão Tử tuy chưa nói rõ đạo là gì, nhưng ông xác định đạo là vật. Cái sinh ra, tạo hóa trời đất là vật chứ không phải thần linh, và điều đó cho thấy vũ trụ quan của ông là duy vật, dù còn thô sơ nhưng đã mở ra một thời đại mới. Về nguồn gốc của thế giới, đó là vật hay thần linh chính là tiêu chuẩn căn bản để phân biệt hai lập trường triết học lớn: coi tinh thần có trước hay coi thế giới tự nhiên có trước.

Ông nhấn mạnh đạo là khởi nguồn của muôn vật từ xa xôi vô cùng; đạo nhìn không thấy, nắm không được. Ông khẳng định cái sinh ra muôn vật là thứ có tính vật chất, bởi vì ông đưa ra câu "hữu vật hỗn thành", nên đạo của ông là nhấn mạnh vật chất, chứ không phải thứ tinh thần tuyệt đối. Vì vậy, quan niệm xưa nay cho vũ trụ quan của ông là duy tâm khách quan là chưa khách quan; quan điểm duy vật rực rỡ trong vũ trụ quan của ông cần được khẳng định rõ ràng. Dĩ nhiên ông không chỉ ra vật ấy cụ thể là gì, nhưng đó cũng là hạn chế của điều kiện lịch sử đương thời, nên cần xét một cách khách quan.

Đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh ba

Một chữ đi từ không đến có, từ có trở về không, vòng trở lại nơi tĩnh lặng.

Quá trình đạo sinh ra vạn vật theo ông là:

Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật.

Thêm nữa: vật trong thiên hạ sinh từ có, có sinh từ không; muôn vật từ có, có lại trở về không, không trở về nơi tĩnh lặng. Ý nghĩa là sự vật đi từ vô đến hữu, từ hữu đến vô, từ vô đến sinh, từ sinh đến tử: đó là quá trình sinh trưởng và tiêu vong của sự vật, cũng là quá trình chuyển hóa từ động đến tĩnh.

Đạo mà ông nói là một dạng bản thể của vũ trụ, một vật tồn tại khách quan, biểu thị quan niệm thiên đạo về sự hình thành và đổi thay của vũ trụ muôn vật. Bởi vậy ông chỉ ra tông chỉ của đạo là khởi nguyên của sự vật, thừa nhận sự vật là vật chứ không phải những thứ mang tính tinh thần.

Nhưng cũng cần nói rằng ông cho rằng vật ấy sinh ra muôn vật, gọi không thành tên, ẩn hiện vô hình, lại "tồn tại độc lập, không hề thay đổi" như chương 25 chép. Tức là ông cho đạo, cái sinh ra muôn vật, là tồn tại độc lập, nằm ngoài sự vận động của muôn vật, từ đầu đến cuối không đổi. Nếu xem chương 21 lặp đi lặp lại rằng đạo là vật, thì có thể hiểu có một động lực nguyên thủy nào đó nằm ngoài sự vận động của vật chất. Quan điểm này được Trang Tử phát triển thêm, nên mầm sai lầm càng lớn; chủ yếu nó nằm ở chương 42:

Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật. Vạn vật phụ âm nhi bão dương, xung khí dĩ vi hòa.
(Đạo sinh một, một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh muôn vật; muôn vật mang âm mà ôm dương, khí xung hòa mà thành hòa thuận.)

Câu này là lời trình bày của Đạo Đức Kinh về đạo. Nhưng chỗ vướng của vấn đề cũng nằm ở đó: coi cái Một tượng trưng cho âm dương bao bọc nhau của muôn vật, mà lại cho rằng đạo sinh ra Một. Đó là nói đến cái có trước cả sự vận động của âm dương và sự sinh hóa của muôn vật, tồn tại khách quan, mà còn độc lập và bất biến. Ông tách đạo khỏi sự vận động của muôn vật; tuy ông cũng thừa nhận vật ấy luôn vận động, nhưng lại cho rằng nó vận động mà không đổi. Quan điểm đứng yên, lặng, độc lập ấy đem đến sắc thái siêu hình cho đạo. Đạo của ông bao quát hai khái niệm là quy luật vận động và bản thể vũ trụ; khi bàn về bản thể vũ trụ, thì đạo chỉ bản tính của vũ trụ, nên đạo là bản thể vũ trụ ấy mang tính duy vật thô sơ, vô thần luận, nhưng lại là hình nhi thượng học.

Vì vậy, cuốn Đạo Đức Kinh phản ánh quan điểm của ông là mâu thuẫn: đã là duy vật nhưng lại ẩn chứa yếu tố duy tâm; có tư tưởng biện chứng phong phú nhưng ở vấn đề quan trọng lại siêu hình, nhất là chữ đạo. Nếu xem từng chương cú riêng lẻ trong đó, người ta đều thấy trở ngại của duy tâm khách quan; chỉ khi xem toàn bộ Đạo Đức Kinh trên tổng thể mới thấy được tính duy vật của nó.

Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 2 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện