Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Bì Tích Thụy: Khổng Tử chế Dịch, viết Dịch và truyền Dịch

Đạo Học - Khuyên Thiện03/10/20264 phút đọc2 lượt đọc
Bì Tích Thụy: Khổng Tử chế Dịch, viết Dịch và truyền Dịch

Một chữ Dịch vừa là đổi thay, vừa là không đổi. Một nhà kinh học đời Thanh đã chia riêng kinh Dịch thành ba mươi chuyên đề để trả lời câu hỏi ấy. Và ông đưa ra một ý táo bạo: chính Khổng Tử đã chế, đã viết và đã truyền Dịch...


Một chữ Dịch vừa là đổi thay, vừa là không đổi; một bộ kinh vừa là sách bói, vừa là đạo làm người. Bì Tích Thụy, nhà kinh học đời Thanh, đem cả năm bộ kinh ra bàn trong Kinh học thông luận, và riêng phần kinh Dịch ông chia thành ba mươi chuyên đề. Cuốn này được xem là điển tích quan trọng, trình bày toàn diện tinh túy của Dịch học, đặc biệt nhấn mạnh mối quan hệ giữa Khổng Tử và kinh Dịch.

Kinh học thông luận gồm các phần về Dịch kinh, Thư kinh, Thi kinh, Tam lễ và Xuân Thu, mỗi phần là một loạt chuyên đề.

Biến dịch và bất dịch song hành

Đổi thay mãi mãi, nhưng cái đang đổi lại có một cái gì đó không đổi.

Theo Bì Tích Thụy, muốn sửa kinh thì trước hết phải biết nghĩa chính của kinh. Với kinh Dịch, nghĩa chính là biến dịch và bất dịch, hai ý ấy đi song song. Ông dẫn Dịch vĩ, Càn tạc độ, chép rằng một chữ Dịch hàm chứa ba nghĩa: giản dịch, biến dịch, bất dịch. Vì thế trong Hệ từ có câu về Càn, Khôn: Càn dễ nên dễ biết, Khôn giản nên dễ theo.

Từ đó ông nhấn mạnh: Dịch tuy có nghĩa cùng thì biến, biến thì thông, thông thì lâu bền, nhưng vẫn có bất dịch nằm trong đó; tức là trong biến dịch có bất dịch. Ông giải thích sâu sắc mối quan hệ vừa đối lập vừa thống nhất giữa dịch và bất dịch.

Phục Hi vẽ tám quẻ để làm gì

Lúc đất trời còn hỗn mang, cuộc sống của người và vật đều tiều tụy, thì người đầu tiên vẽ ra tám nét.

Ông trình bày gọn nguồn gốc bát quái của Phục Hi bằng cách dẫn lời của Nguyễn Tự Tông trong Thông Dịch: Dịch là gì? Là sự thay đổi lớn của thời xưa. Khi trời đất còn hỗn mang, người vật tiều tụy, lợi lộc cạn, phép tắc mờ, đức của thần minh không thông, tình của vạn vật không còn, Bào Hy bèn vẽ tám quẻ, dẫn dắt để trình bày âm dương, cương nhu, núi, chằm, lửa, nước; nó phồn tạp nhưng thống nhất, có biến mà thông.

Bì Tích Thụy nhấn mạnh mục đích Phục Hi lập tám quẻ là để biết làm Dịch, để mở đầu việc giáo hóa, sắp đặt đạo lý giữa người với người, và làm rõ nghĩa của vương đạo. Với ông, nguồn gốc của bát quái mang ý nghĩa nhân luân chứ không chỉ là tượng của trời đất.

Khổng Tử và kinh Dịch

Quẻ đã có từ lâu, nhưng lời quẻ thành đạo là nhờ một bàn tay.

Bì Tích Thụy cho rằng sáu kinh, trong đó có kinh Dịch, nhờ Khổng Tử sửa mà mới được truyền lại. Ông còn cho rằng lời quẻ và lời hào xưa nay được nói là do Văn Vương và Chu Công viết nhưng chưa đủ chứng cứ rõ ràng, và nghiêng về việc cho đó là do Khổng Tử viết. Ông dẫn lời trong Văn hiến thông khảo: Dịch tuy dựa vào việc bói, nhưng tinh vi tột lý, không phải điều người mới học có thể nói; còn Xuân Thu tuy bày ra việc ghi chép, nhưng cũng không phải điều dân thường có thể nhìn vào. Vì thế, theo ông, đương thời Dịch tuy đã có quẻ và hào nhưng chưa có lời; mặc dù đã có sách bói, đến khi Khổng Tử giải nghĩa rõ nghĩa lý, đưa nó vào việc người, thì đạo Dịch mới thành tác phẩm. Việc truyền Dịch cũng nhờ học trò Khổng Tử.

Ông tiếp tục cho rằng Khổng Tử làm lời quẻ, lời hào, Thoán, Tượng, Văn ngôn, và là người tự viết rồi tự giải. Ông nói gọn: những gì Khổng Tử làm gọi là kinh, những gì đệ tử làm gọi là truyện. Về việc truyền Dịch, ông dẫn Sử ký: Khổng Tử truyền Dịch cho Thương Cù, Thương Cù truyền cho người nước Sở, và cứ sáu đời như thế đến Điền Hà đất Tề.

Như vậy, qua sáu chuyên đề bàn về quan hệ giữa Khổng Tử và Chu Dịch, ông nhấn mạnh Thoán, Tượng đều do Khổng Tử viết, còn Hệ từ, Văn ngôn có thể do học trò. Ông đặc biệt nhấn mạnh Khổng Tử chế Dịch, viết Dịch và truyền Dịch. Tuy chưa phải chứng cứ tận gốc, nhưng trước những cuộc khai quật gần đây, đó vẫn là một luận cứ có sức nặng cho mối quan hệ giữa Khổng Tử và Dịch.

Nhận định chung

Một bộ luận đứng được qua nhiều đời khi mỗi ý trong đó đều có chỗ dựa.

Ngoài ra, Bì Tích Thụy còn giải thích nhiều tranh luận về Dịch Hán, Dịch Tống, Dịch Thanh; đó là kiến giải riêng của ông và là tài liệu quan trọng để nghiên cứu Dịch học. Kinh học thông luận, phần Dịch kinh, là một bộ thông luận có trình độ cao, và những người đời sau giải Dịch đã lấy đó làm căn cứ.

Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 3, thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện