Bài tổng quan
Ba vạch không gian, ba vạch thời gian, năm mươi thẻ tre

Người xưa trải một chiếc án thư trước cửa sổ hướng Nam, thắp hương, quỳ xuống khấn rồi thả hai mảnh tre xuống đất. Nếu cả hai cùng ngửa thì buổi hỏi Dịch dừng lại, chờ lúc khác. Sau nghi lễ ấy là cách đếm thẻ để ra một quẻ, và trước nghi lễ là một câu hỏi lớn hơn: vì sao sáu vạch lại nhìn được cả thời gian...
Mục lục · 8 phần
Thử kẻ một đường thẳng nằm ngang, đánh dấu một điểm gốc ở giữa. Bên phải gốc là phía dương, bên trái là phía âm. Bất cứ chỗ nào trên đường ấy đều gọi tên được chỉ bằng cách nói nó nằm về phía nào so với gốc. Chỉ một hào, âm hoặc dương, đã đủ để chỉ một vị trí. Từ cái hạt giống nhỏ ấy, người xưa dựng lên cả cách nhìn về không gian, thời gian và chính trực giác của con người.
Câu hỏi nằm sau mọi lần gieo quẻ
Ai học Dịch số cũng gặp những thắc mắc quen thuộc: vì sao dự đoán được, dự đoán bằng cách nào, vì sao dùng sáu vạch, và vì sao yếu tố "thời" lại quan trọng đến thế. Muốn trả lời, hãy quay lại Thái Cực đồ để xem nó mô tả thế giới này ra sao. Trước hết là Vô Cực bất biến, kế đến là Thái Cực, lúc mầm biến động nhú lên. Từ đó có biến đổi và bất biến, tức hai dạng của Lưỡng Nghi, và để vẽ hai dạng ấy ta kẻ một trục ngang như trên.
Trong đời thường, hiếm khi ta nghĩ theo hai hướng của một trục. Thường ta chỉ nhìn một hướng. Đi từ tỉnh này sang tỉnh kia thì chỉ nhắm một đích. Làm một việc gì thì hình dung ra đoạn đường từ chỗ mình đứng đến mục đích, rồi tự nhủ: hôm nay chưa tiến thêm bước nào, hoặc sắp xong rồi.
Từ một hào đến ba chiều của thế giới
Kẻ thêm một trục cắt ngang trục cũ thì ra mặt phẳng quen thuộc của hình học, nơi người ta xác định mọi điểm theo hai số. Hai trục ấy tương ứng hai hào, mỗi hào có thể âm hoặc dương, và bốn tổ hợp chính là Tứ Tượng.
Dù sống trong không gian ba chiều, ta vẫn hay dùng bản đồ hai chiều để mô tả mặt đất hay vẽ sơ đồ ngôi nhà. Thêm một trục thứ ba từ điểm gốc thì ra không gian, và hai hào cũ được thêm một hào thứ ba: đó là quẻ đơn, ba vạch. Nếu dùng khối cầu thay cho khối vuông thì ta chia bề mặt trái đất thành những mảnh mà mỗi cạnh là một hào. Hình ba chiều đơn giản đến mức một đứa trẻ cũng nhìn ra, dù chưa nghe ai gọi nó là không gian ba chiều.
Vậy tại sao lại vẽ đến sáu vạch? Câu trả lời là có một chiều nữa, mang tên Thời gian, nối với năng lực của trí tuệ và tinh thần. Ta có thể gọi nó là chiều thứ tư. Ai ý thức trọn vẹn được chiều ấy thì chẳng khác bậc thánh nhân, vì nó gồm cả quá khứ, hiện tại và tương lai. Nhưng chiều thứ tư không thể kẻ thêm vào hình không gian kể trên, nên ta phải quan sát và tưởng tượng.
Thời gian chỉ chạy một chiều
Ta biết gì về thời gian? Ta biết gì về tinh thần? Câu trả lời nghe như nghịch lý. Thời gian có mặt cùng mọi việc ta làm, vậy mà ta không biết diễn tả nó thế nào. Các đường trong không gian có đi có lại, tức có hai chiều; riêng thời gian chỉ đi một chiều, từ quá khứ qua hiện tại tới tương lai. Hiện tại thì chỉ là một điểm nhỏ trên đường ấy.
Thế giới tinh thần lại càng kỳ lạ. Linh hồn, cảm giác, ý chí đều là những thứ ta không nhìn, không nghe, không sờ được. Trong thế giới hiện tượng, màu vàng là màu vàng, ai cũng đồng ý. Trong thế giới tinh thần, người ta khó đồng ý với nhau, và chỉ giới thi sĩ cùng các thuật sĩ mới thường xuyên nhắc tới.
Có lẽ con người nhỏ bé của chúng ta giống một cái bóng quen sống ở bình diện hai chiều, là một phần của chiều thứ ba. Ta sống nhờ hít thở sinh khí từ chiều thứ ba, và chế ra đồng hồ để đo thời gian, như cách phản chiếu chiều thứ tư vào thế giới ba chiều. Nhưng dù vặn ngược kim đồng hồ thì thời gian cũng không vì thế mà thụt lùi.
Sự trùng hợp và trực giác
Ai trong chúng ta cũng từng trải qua những điều gọi chung là "sự trùng hợp". Bỗng nghĩ đến một người bạn, đúng lúc ấy chuông cửa hay chuông điện thoại reo, mở ra thì gặp chính người ấy. Hoặc nghĩ về ai đó với cảm giác lạ rằng sắp có chuyện gì dù chưa có dấu hiệu rõ ràng, rồi chợt buột miệng: "Hình như cô ấy sắp lấy chồng." Việc ấy không giải thích được. Nhưng ta cảm nhận được những đổi thay rất nhỏ trong thái độ, cử chỉ của cô, bởi người ta làm việc gì cũng để lộ chân tướng trong cách cư xử hằng ngày. Cho nên khi cô gái bất ngờ giới thiệu vị hôn phu với bạn bè cùng sở, khoảng một tuần sau cái linh cảm kia, ta cũng chẳng lấy làm lạ.
Có khi ta tự nhiên giải thích được tâm tư và việc làm của vợ, của chồng hoặc một người bạn thân khi được người khác hỏi, dù chỉ nắm lờ mờ qua vài câu nói, vài cử chỉ. Nếu ta bồi dưỡng cho những lần trùng hợp ấy ngày càng sắc, càng chính xác, cuối cùng ta sẽ không còn gọi chúng là trùng hợp nữa mà gọi là trực giác.
Có người nghĩ: tôi không điều khiển được nó, nó chỉ tới bất chợt. Nhưng nếu cứ nghĩ về nó nhiều hơn thì nó xảy ra thường hơn. Cứ thế, vô hình trung ta tiến tới mức kiểm soát được nó, nhờ tích cực bồi dưỡng.
Mọi sinh vật đều tiến hóa: từ những sự sống nhỏ bé chỉ biết máy động, thành những dạng như sao biển cảm nhận được ánh sáng, rồi đến loài có mắt và tự sinh sản được. Nếu cuộc sống tiến hóa thì mỗi cá thể cũng dự phần vào cuộc tiến hóa chung. Ta có ngũ quan là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và đôi lúc có những lần trùng hợp. Nuôi dưỡng chúng thì chúng nảy nở. Hồi trẻ, đời đẹp biết bao; lớn lên mà còn nhạy cảm thì đời vẫn đẹp trọn như thuở nào, chỉ khác là ta đã chín chắn hơn, biết thể xác và tinh thần luôn biến đổi. Trực giác hay khả năng dự đoán, nếu được luyện tập và trau dồi đúng cách, sẽ phát triển đến mức điều khiển và dùng được như một công cụ hữu hình.
Ba vạch dưới là không gian, ba vạch trên là thời gian
Trong một quẻ kép, ba hào nội quái mô tả không gian, ba hào ngoại quái mô tả thời gian. Có đủ hai yếu tố ấy, người ta dùng quẻ như một tấm kính soi từng vấn đề của đời sống để giải quyết mọi việc.
Người xưa dùng cỏ thi, đồng tiền, điềm báo và thời gian để hệ thống các ý nghĩa, rồi dùng những ý nghĩa ấy để dự đoán. Có khi ta đọc được tin các nhà khoa học khám phá khả năng phi thường của con người qua thôi miên. Điều đó làm ta nghĩ rằng ta chưa thật hiểu những hành động của chính mình. Theo triết lý của Dịch, đời sống con người cần hài hòa với Trời Đất, và mọi hành động đều phải thuận theo quy luật của Trời Đất.
Khi thêm các hào chỉ về thời gian, tính cách của chúng được suy ra để ta hiểu chiều thứ tư qua cảm nhận. Vì thế ta quay về hai dạng của Lưỡng Nghi và thêm ba hào làm ngoại quái để hợp với nội quái, thành quẻ kép. Ba hào ngoại quái mang nghĩa thời gian dịch chuyển: hào đầu chỉ quá khứ, hào giữa chỉ hiện tại, hào trên chỉ tương lai. Như con người đứng giữa trời và đất, hiện tại cũng nằm giữa quá khứ và tương lai.
Sơ đồ sáu hào ấy là một cái khung trống mô tả toàn cảnh thế giới hiện tượng. Sáu mươi bốn quẻ có thể đặt vào khung ấy, như sáu mươi bốn cuộn phim trắng chưa chụp: chụp cảnh nào thì cảnh đó hiện lên rõ ràng, giúp ta tùy nghi ứng phó. Muốn hiểu ngôn ngữ của Dịch, hãy nghiên cứu sáu mươi bốn quẻ, thường xuyên áp dụng và chiêm nghiệm hệ thống minh triết này trong đời sống.
Khi dành trọn thời gian học Dịch, hiểu biết của ta ở nhiều mặt sẽ tiến chậm hơn ở số ít mặt khác. Dùng quẻ để dự đoán là phải vận dụng nhiều điều rút ra từ đời sống hằng ngày, phối hợp thành một phán đoán có hệ thống nhờ cấu trúc của quẻ dẫn đường. Có lúc ta dùng Hậu Thiên bát quái với những lời giải rõ ràng dễ hiểu. Có lúc tự giải đáp những biến cố lớn của chính mình. Có lúc ham học Dịch như đọc truyện trinh thám Sherlock Holmes mà trong tay chỉ có vài dữ kiện. Dù muốn đi sâu một ngành hay đi vào lĩnh vực chung, Dịch đều đáp ứng được. Chớ tự giới hạn mình trong những kết quả đã đoán được; phải tiếp tục học sâu hơn mãi.
Dịch luôn chỉ ra những cơ hội lớn của đời sống và con đường nắm lấy chúng. Nhưng để đạt thành quả và hưởng được cái thú của Dịch lý, người học cần giữ quyết tâm ban đầu và sống thuận theo Dịch, dần cải đổi đời sống tinh thần bên trong, nhất là tính khiêm cung. Đó là cách căn bản, dễ và đơn giản để sống hòa hợp với cuộc đời, và nhờ đó ảnh hưởng của ta lan ra những người quanh mình. Hiệu quả của lối sống giản dị này phải tự thực nghiệm trong một thời gian đủ dài mới thấy.
Nghi lễ không phải là mê tín mà là trình tự
Nghi lễ hỏi Dịch của người xưa không phải những động tác mê tín vô nghĩa mà là một trình tự cần thiết. Giống như khi hai người gặp nhau bàn việc quan trọng, họ cũng không bỏ qua phần lễ tối thiểu là chào hỏi nhau. Nghi thức cổ truyền ấy vẫn dùng được trong thời nay, miễn giữ lại tinh thần đơn giản, hợp với người hiện đại, và đồng thời gợi lại tính truyền thống của việc dự đoán.
Người xưa thường dành riêng một nơi để học và hành, ít nhất là một chỗ biệt lập, yên tĩnh, không bị quấy rầy, để cất sách vở và đồ dùng. Để tập trung tinh thần, họ treo trên tường trước chỗ học bức tranh năm vị thánh nhân đã khởi nguồn cho Dịch: Phục Hy, Văn Vương, Chu Công, Khổng Tử và Đại Vũ, vị vua cổ đã giúp dân trị thủy, đào kênh rạch chống lũ lụt.
Đồ đạc gồm một án thư, loại bàn chân thấp, vừa đủ rộng để làm việc. Sau án thư đặt một chiếc bàn nhỏ, dài và hẹp, để bình hương và các món dùng xong. Có năm mươi thẻ tre mỏng; khi cất thì bọc lụa đào, bỏ vào túi lụa đen rồi đặt trong một cái tráp, tức một ống tre hay gỗ có nắp. Cái tráp để sau án thư. Trước tráp là hai mảnh tre tròn, mặt cong, cỡ lọt lòng bàn tay, rồi một chiếc bình gốm hay đồng dùng đựng thẻ khi làm lễ, và một lư hương. Để ghi quẻ có bút, nghiên, mực, giấy, tức "văn phòng tứ bảo". Ngoài năm mươi thẻ còn có sáu thẻ tre khác làm cho sáu hào: một mặt khắc nét đứt màu đen cho Âm, mặt kia khắc nét liền màu đỏ cho Dương. Trước khi hỏi, người ta xếp sáu thẻ này thành quẻ Địa Thiên Thái.
Án thư thường đặt trước cửa sổ, quay về hướng Nam. Nghi thức nghiêm trang để tập trung tư tưởng không thể thiếu, gần như những thao tác trang trọng của Trà Đạo Nhật Bản. Đầu tiên là thanh tẩy: để bụng trống và tắm rửa cho tinh thần sảng khoái, thường vào buổi sáng, trước bữa điểm tâm. Kế đến thắp hương, thắp nến để tỏ lòng thành kính. Rồi người hỏi quỳ trên một tấm nệm và đọc lời nguyện đại ý như sau:
Thiên Địa vô ngôn, tôi tin rằng Trời Đất cảm nhận được tâm thành mà soi sáng cho tôi được rõ nẻo cát hung.
Khấn xong, người ta thả hai mảnh tre tròn xuống đất. Nếu cả hai cùng ngửa hoặc cùng sấp thì chưa được: phải ngồi yên, định tĩnh một lát rồi thả lần nữa. Lần nữa vẫn không được thì buổi lễ kết thúc, coi như chưa lấy được quẻ, phải chờ lúc khác. Một sấp một ngửa thì tiếp tục. Lúc ấy người hỏi mở tráp, lấy thẻ ra khỏi lụa bọc, cầm năm mươi thẻ trên hai tay và hơ qua một vòng trên lư hương.
Tất cả những nghi thức tưởng chừng không liên quan gì đến quẻ ấy đều giúp người hỏi tập trung tư tưởng vào vấn đề, rèn cho tư duy đi sâu và thoát khỏi vướng mắc khi đoán.
Cách đếm thẻ để ra một quẻ
Người hỏi rút một thẻ ra khỏi bó, cắm vào bình gốm. Việc này tượng trưng cho sự biến đổi từ Vô Cực sang Thái Cực: thẻ ấy đại diện cho Thái Cực, nguồn của Âm Dương và mọi biến dịch, và không được đụng đến nữa cho tới khi lấy xong quẻ. Rồi chia số thẻ còn lại ngẫu nhiên làm hai nhóm, nhóm trong tay trái đặt bên trái bình, nhóm trong tay phải đặt bên phải bình. Hai nhóm ấy tượng trưng cho Lưỡng Nghi.
Để tìm nội quái, người ta lấy một thẻ từ nhóm bên phải, kẹp giữa ngón út và ngón áp út của tay trái. Rồi cũng từ nhóm bên phải lấy ra mỗi lượt hai thẻ, bốn lượt thành bốn tụ, mỗi tụ hai thẻ, tổng cộng tám thẻ. Hai thẻ tượng trưng Âm Dương, bốn tụ tượng trưng Tứ Tượng, tám thẻ tượng trưng Bát Quái. Rồi lặp lại việc lấy từng đợt tám thẻ, cho đến khi nhóm bên phải còn từ không đến bảy thẻ. Tới lúc ấy, thẻ đang kẹp ở tay trái được bỏ vào nhóm còn lại, và số thẻ của cả nhóm là số quẻ.
Các quẻ được đánh số từ một đến tám: một là Kiền, hai là Đoài, ba là Ly, bốn là Chấn, năm là Tốn, sáu là Khảm, bảy là Cấn, tám là Khôn. Ví dụ, nhóm còn hai thẻ, cộng thẻ kẹp ở tay thành ba, thì được quẻ Ly, làm nội quái. Người hỏi dùng sáu thẻ hào xếp sẵn theo quẻ Địa Thiên Thái, đổi ba hào dưới, tức quẻ Kiền, thành hình quẻ Ly.
Tìm ngoại quái thì gom cả bốn mươi chín thẻ lại, làm đúng quy trình ấy nhưng lần này lấy ở nhóm bên trái. Ví dụ nhóm còn sáu thẻ, cộng thẻ kẹp thành bảy, thì được quẻ Cấn, đặt làm ngoại quái lên trên nội quái Ly. Vậy có một quẻ kép.
Tới bước cuối, người ta lại lấy bốn mươi chín thẻ, chia hai nhóm đặt hai bên bình, lấy nhóm bên phải, nhưng lần này chia thành từng đợt sáu thẻ, mỗi đợt ba tụ, mỗi tụ hai thẻ. Nhóm cuối còn từ không đến năm thẻ, cộng với thẻ kẹp ở tay trái thì được số chỉ hào biến. Hào biến làm quẻ chính đổi thành quẻ biến. Ví dụ nhóm còn bốn thẻ, cộng một thành năm, thì hào ngũ biến. Quẻ vừa tìm được ghi lại bằng bút mực, và suốt lúc lấy quẻ cùng lúc suy đoán, người ta tuyệt đối giữ im lặng, nghiêm trang.
Ba đồng tiền của Kinh Phòng
Vào đầu đời Hán, khoảng từ năm 206 trước Công nguyên đến năm 24 sau Công nguyên, Kinh Phòng bày ra cách gieo quẻ bằng ba đồng tiền. Dùng một ống tròn có nắp để đựng ba đồng. Nghi thức giữ như cách dùng thẻ, chỉ khác là thay vì bưng tráp thì nâng hộp tiền: đọc lời khấn, tập trung tinh thần vào câu hỏi, lắc đều rồi đổ ra bàn.
Hai đồng sấp gọi là Sách, tức hào Dương. Hai đồng ngửa gọi là Đan, tức hào Âm. Ba đồng ngửa gọi là Giao, tức Thái Âm biến sang Dương. Ba đồng sấp gọi là Trùng, tức Thái Dương biến sang Âm. Lần đổ đầu cho hào sơ, lần thứ hai cho hào nhị, cứ thế cho đến đủ ba hào làm nội quái. Rồi nguyện lần nữa và đổ thêm ba lần để có ngoại quái. Cách này đôi khi chỉ cho một quẻ kép mà không có hào biến, đôi khi cho hai quẻ kép với đủ sáu hào biến. Thường thì người ta nhận được một quẻ rất khó đoán và phải tốn công tìm hiểu sâu.
Với người học Dịch ở bậc cao, quẻ còn được phối với Thiên Can, Địa Chi, Ngũ Hành, năm, tháng, ngày, giờ âm lịch. Nhờ phối hợp nhiều mặt như vậy mà quẻ dù khó cách mấy cũng mở ra một giải đáp ổn thỏa và trọn vẹn. Từ đời Tống trở đi, việc lập quẻ giản đơn hơn rất nhiều.
Nguồn: Vưu Sủng Hoa, Mai Hoa Dịch Tân Biên.
