Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Mai Hoa

Bài tổng quan

Thể mạnh hay Dụng mạnh, và chỗ đứng đúng của từng hào

Bói Dịch - Mai Hoa21/10/202614 phút đọc0 lượt đọc
Thể mạnh hay Dụng mạnh, và chỗ đứng đúng của từng hào

Con cáo dụ đàn gà, ông chủ giao hết quyền cho phụ tá, người cưỡi ngựa bị hất văng xuống đất: mỗi cảnh ấy là một cách Thể và Dụng sinh khắc nhau. Chỉ cần biết bên nào mạnh, bên nào đứng sai chỗ, cả quẻ đã hé lộ kết cục...

Con cáo đứng ngoài chuồng dụ đàn gà. Ông chủ hãng giao hết quyền hành cho người phụ tá rồi để mặc hãng lụn bại. Người cưỡi ngựa bị chính con ngựa hất văng xuống đất. Ba cảnh ấy khác nhau mà cùng một cấu trúc: có một bên là chủ, một bên là khách, và cái quyết định kết cục là bên nào mạnh, bên nào sinh hay khắc bên nào.

Chọn bên nào làm chủ của quẻ

Khi đem Thể và Dụng vào xét một quẻ sáu hào, ta chia quẻ thành hai phần. Việc đầu tiên là chọn nội quái hay ngoại quái của quẻ chính làm Thể.

Nếu quẻ chính không có hào động, hoặc số hào động ở nội quái và ngoại quái bằng nhau, thì lấy nội quái làm Thể. Nếu một trong hai quái có nhiều hào động hơn thì lấy quái tĩnh hơn, tức quái ít hào động hơn, làm Thể.

Quẻ Thể là phần cốt lõi của việc đoán. Nó là chính ta nếu ta đoán cho mình, hoặc là nhóm người hay nhân vật chính nếu đoán cho người khác. Khi đã có quẻ Thể thì mọi quẻ còn lại, kể cả hộ quái và biến quái, đều là quẻ Dụng.

Đếm bạn của Thể và bạn của Dụng

Lấy ví dụ một quẻ có một hào động, thường thì quái làm Thể lặp lại ở ngoại quái của biến quái. Có năm quẻ Dụng: quái còn lại của quẻ chính, nội và ngoại của hộ quái, nội và ngoại của biến quái. Chúng không hoàn toàn khác nhau, và ta so sánh để tìm tương quan lực lượng giữa Thể và Dụng. Thể có bao nhiêu quái cùng loại trong các quẻ Dụng thì có bấy nhiêu người bạn. Một quẻ nào được lặp lại sẽ sinh năng lượng, còn quẻ không có bạn nào thì lực yếu đi. Nếu trong năm quẻ Dụng có từ hai quái giống nhau trở lên thì lực của Dụng mạnh hơn Thể.

Phép so sánh này hữu ích, nhưng còn đi xa hơn nữa khi bổ sung bằng Ngũ Hành. Đặt mỗi quẻ trong tám quẻ cạnh hành tương ứng: Kiền và Đoài thuộc Kim; Chấn và Tốn thuộc Mộc; Khảm thuộc Thủy; Ly thuộc Hỏa; Cấn và Khôn thuộc Thổ. Từ đó tám quẻ liên kết sinh động với nhau, và ta thấy những cặp cùng hành: Khôn với Cấn, Chấn với Tốn, Kiền với Đoài. Trong mỗi cặp, từng quẻ có đặc điểm riêng nhưng đi chung một hành.

Câu hỏi đặt ra là: Thể có bao nhiêu bạn cùng hành, và Dụng thì sao? Lấy một ví dụ cụ thể. Một quẻ có nội quái Kiền, ngoại quái Tốn, hào ngũ động. Nội quái không có hào động nên làm Thể, hành Kim. Hộ quái có nội quái hành Kim và ngoại quái hành Hỏa. Biến quái có nội quái Kiền hành Kim và ngoại quái hành Thổ. Vậy Thể có một nhóm ba quái hành Kim làm bạn, còn Dụng không có nhóm nào vì chẳng có hành nào lặp lại. Nên Thể mạnh hơn Dụng.

Sinh và khắc giữa chủ và khách

Ngoài việc đếm lực lượng, còn có nguyên tắc sinh khắc giữa Thể và Dụng. Trong ví dụ trên Thể Kim khắc Dụng Mộc. Quy ước tóm lại là:

Thể khắc Dụng thì tốt. Dụng khắc Thể thì xấu: Thể bị yếu tố bên ngoài làm phân tán mục tiêu, nhưng có thể vô hiệu hóa yếu tố ấy. Ví dụ chương trình truyền hình ở phòng bên cạnh rất hấp dẫn trong lúc ta đang cố tập trung làm việc. Muốn khỏi phân tâm, chỉ cần đóng cửa lại: tức ta "khắc" chuyện bật tivi. Nhưng nếu ta không kiểm soát được, chẳng hạn có người tới chỗ ta làm việc, bật tivi lên mà ta phải chịu trận, thì là xấu.

Dụng sinh Thể thì tốt. Thể sinh Dụng thì xấu. Có người sẵn lòng giúp đỡ trong công việc thì đương nhiên thuận tiện. Ngược lại, nếu buộc phải giúp người này rồi người khác, nay nhờ mai nhờ, ta sẽ bị lôi kéo xa rời công việc của riêng mình.

Trở lại ví dụ vừa nêu, ta xét sinh khắc trên cả bộ ba quẻ. Bản quái, hộ quái và biến quái đều có những chi tiết liên quan đến Thể. Tóm tắt các nhận xét: thứ nhất, Thể mạnh hơn Dụng nhiều. Thứ hai, bản quái tốt, vì Thể khắc Dụng. Thứ ba, hộ quái xấu nhưng không đến nỗi nguy hại, vì Dụng khắc Thể nhưng Thể mạnh nên có cơ hội vượt qua. Thứ tư, biến quái tốt, vì Dụng Thổ sinh Thể Kim. Kết luận: mọi sự thông suốt, đầu xuôi đuôi lọt.

Không phải quẻ nào cũng cần viện dẫn hết mọi mối liên hệ trong bản quái. Có cần hay không còn tùy vấn đề đang nhờ quẻ giải quyết.

Vài thế đứng điển hình của Thể và Dụng

Quan hệ giữa Thể và Dụng liên quan với nhau, đồng thời có công dụng khác nhau. Thể Hỏa mà Dụng Mộc thì Dụng sinh Thể, như người muốn làm việc mà tìm được người giúp đến nơi đến chốn. Hai bên liên kết chặt chẽ.

Dụng Hỏa mà Thể Mộc thì thành xấu, chẳng khác gì đưa dao cho kẻ ác, hay một chủ hãng giao trọn quyền hành cho tay phụ tá để người này mưu lợi riêng và bỏ hãng lụn bại. Ở đây Dụng cuốn hút Thể, giống con cáo dụ mấy chú gà ngố của bác nông dân.

Thể Hỏa mà Dụng Kim thì Thể làm chủ được Dụng, như người công nhân làm việc giúp chủ vì nếu không thì mất việc hay bị giáng chức, hoặc như sinh viên bị quyền lực và tài năng của thầy tác động mà chăm chú nghe giảng.

Nếu Thể và Dụng đổi vai cho nhau thì Thể giống người cưỡi ngựa bị ngựa hất văng. Dù Thể cố cách mấy để hoàn thành việc, Dụng vẫn không chịu làm theo, hoặc quá yếu, hoặc chống lại.

Gặp những trường hợp đặc biệt có nhiều tổ hợp quẻ và hành liên kết thì còn vận dụng được vô số chi tiết khác. Hơn nữa, các nhân tố tốt xấu kết hợp với nhau tùy lúc và đổi theo thời, nên mỗi trường hợp phải tùy nghi áp dụng. Nếu định làm một việc mà lấy được quẻ "tiền hung hậu kiết", rồi cậy vào quẻ mà không chuẩn bị gì khi khởi sự, vì nghĩ hung là hung, thì phần "tiền" đã không hoàn hảo, phần "hậu" cũng không thể kiết được.

Quẻ xấu thì các chi tiết chỉ cho ta biết nên làm gì. Quẻ tốt thì biết việc sẽ thành nếu tiến hành thuận lý, nhưng cũng có thể hỏng nếu làm qua loa, lơ là. Giao việc cho người phụ trách mà đối xử thô bạo khiến việc trì trệ, kém chất lượng, thì quẻ tốt cũng vô ích. Gặp quẻ tốt mà rụt rè e ngại hoặc ôm đồm quá cũng dẫn đến hỏng việc.

Từ đó có thắc mắc: quẻ tốt có ích gì nếu ta không đủ sức làm? Câu trả lời là khi tự biết mình yếu thì đương nhiên phải dốc hết tiềm năng để xoay chuyển tình thế. Quẻ tốt phát huy công dụng khi ta chỉnh đốn công việc cho hợp thời điểm. Cứ làm đi làm lại như thế thì chắc chắn thấy tiến bộ.

Bát Thuần Kiền: bốn bạn cùng hành

Trở lại quẻ Bát Thuần Kiền, lần này lấy hào sơ làm hào biến. Thể hành Kim có bốn Dụng cũng hành Kim, nên lực của Thể rất sung mãn. Ở biến quái, hành Kim khắc hành Mộc, nên xét toàn quẻ là thuận lợi.

Thử một lần nữa với hào nhị làm hào biến. Thể hành Kim bị một Dụng hành Hỏa chế ngự, nhưng nhờ có bốn quẻ Kiền giống nó hỗ trợ nên rất bền chắc. Ta cũng đoán ra kết quả của cuộc đối chọi giữa hai hành ấy: như trong một nhóm đông người, ai cũng chấp nhận bạn, chỉ một người rất có uy thế chống lại bạn.

Dùng cách đoán này kèm trí tưởng tượng sẽ giúp ta kiên trì học hỏi cách tiếp cận mới với đời sống. Nhờ đó nắm được kết quả cuối cùng của việc đang làm, trên nền tảng của Dịch. Công thức thì đơn giản, nhưng việc nghiên cứu nghĩa của các quẻ và hào động, còn gọi là hào biến, thì khá phức tạp và gian khổ.

Hào đứng đúng chỗ và hào ứng nhau

Trong dự đoán, ta xét các hào theo nguyên tắc chính vị. Lấy số lẻ làm Dương, số chẵn làm Âm. Vậy vị trí một, ba, năm là vị Dương; hào Dương đứng ở đó gọi là chính vị, nghĩa tốt. Hào không phải Dương, tức hào Âm, đứng ở một trong những vị ấy gọi là thất vị, nghĩa xấu. Tương tự, hào Âm đứng ở vị hai, bốn, sáu là chính vị, tốt; ở chỗ khác là thất vị, xấu. Lập bảng sáu hào: hào sơ vị Dương, hào Âm đứng đó thì xấu; hào nhị vị Âm, hào Dương đứng đó thì xấu; hào tam vị Dương, hào Dương đứng đó thì tốt; hào tứ vị Âm, hào Âm đứng đó thì tốt; hào ngũ vị Dương, hào Dương đứng đó thì tốt; hào thượng vị Âm, hào Dương đứng đó thì xấu.

Nhìn bảng ấy thấy vị trí hào đầu nội quái là Dương và hào đầu ngoại quái là Âm; vị trí hào thứ hai của nội và ngoại quái là Âm rồi Dương; vị trí hào thứ ba là Dương rồi Âm. Cứ vị trí giống nhau ở hai quẻ đơn thì có một cặp hai hào tương phản, như dây nóng dây nguội trong điện. Khi cả hai hào của một cặp đều chính vị thì gọi là hai hào tương ứng, và chúng tạo hiệu quả tốt đẹp. Chẳng hạn hào nhị là Âm và hào ngũ là Dương, cả hai chính vị và tương ứng. Hoặc hào tam là Dương và hào thượng là Âm cũng vậy.

Hai hào nhị và ngũ nằm ở giữa nội quái và ngoại quái. Nếu chúng đều chính vị thì gọi là chính trung, rất tốt; ngược lại là xấu. Nhớ đến Tam Tài, trời, đất, người, sẽ hiểu vì sao: hào nhị và hào ngũ chỉ con người trong hai quẻ nội và ngoại, nên vị trí ấy hết sức quan trọng. Triết học Nho gia có thuyết Trung Dung: Trung là ở giữa, Trung Dung nói về đạo người, con người ở giữa hai cực là trời và đất.

Dịch không phải một công thức đơn giản để giải mọi vấn đề, mà ta phải liên hệ điều quẻ nói với tình trạng của chính mình. Nếu quẻ có hào nhị Dương và hào ngũ Âm thì khoan nói tới chính vị, hãy xem sự tương ứng của hai hào ấy với nhau mà đoán tốt xấu. Hãy lấy một người đang đứng trước ngã ba nghề nghiệp: nếu say mê âm nhạc thì học nhạc là đúng năng khiếu; nếu chọn làm cho công ty lớn lương cao thì cũng tốt. Điều chính yếu là quyết định chọn nghề hợp nhất với mình và hiểu quẻ muốn nói gì.

Thuyết quái truyện của Dịch cho ta cái nhìn rõ hơn về những phép đối chiếu ấy:

Tích giả, thánh nhân chi tác Dịch dã, tương dĩ thuận tính mệnh chi lý; thị dĩ lập thiên chi đạo, viết âm dữ dương, lập địa chi đạo, viết nhu dữ cương, lập nhân chi đạo, viết nhân dữ nghĩa, kiêm tam tài nhi lưỡng chi, cố Dịch lục hoạch nhi thành quái, phân âm phân dương, điệt dụng nhu cương, cố Dịch lục vị nhi thành chương.

Ý nói: xưa kia bậc hiền soạn Dịch là để thuận theo lẽ của tính mệnh. Họ lập đạo của Trời là Âm và Dương, lập đạo của Đất là nhu và cương, lập đạo của Người là nhân và nghĩa. Gom cả ba tài rồi nhân đôi, nên trong Dịch sáu vạch thành quẻ, chia Âm chia Dương, thay nhau dùng nhu và cương, và sáu vị ấy đủ thành văn chương trọn vẹn.

Sáu hào chỉ sáu giai đoạn tiến triển của mỗi hiện tượng, như Hệ từ đã nói:

Hào giả, ngôn hồ biến giả dã.

Hào nói về sự biến đổi.

Bát quái thành liệt, tượng tại kỳ trung hĩ; nhân nhi trùng chi, hào tại kỳ trung hĩ; cương nhu tương thôi, biến tại kỳ trung hĩ.

Tám quẻ bày thành hàng thì tượng ở trong đó. Chồng các quẻ lên nhau thì hào ở trong đó. Cương và nhu đẩy nhau thì sự biến ở trong đó.

Hào dã giả, hiệu thiên hạ chi động giả dã. Thị cố cát hung sinh nhi hối lận trứ dã.

Hào bắt chước sự vận động trong cõi trời đất; vì thế sinh ra cát, hung, hối, lận.

Đến đây thấy vì sao hào động quan trọng đến vậy: nó làm đổi hai yếu tố chính vị và tương ứng của các hào. Nếu một quẻ mang nghĩa khó khăn nhưng hai hào sơ và tứ tương ứng nhau, thì hào động sẽ xóa ý khó khăn ban đầu.

Một quẻ đơn, hai bên đối diện nhau

Thay vì đoán cả một quẻ kép phức tạp, hãy dùng một quẻ đơn chỉ bản thân ta, nghĩa là lấy nội quái hay ngoại quái làm Thể, và quẻ đơn kia chỉ người giao tiếp với ta, tức Dụng. Xét hai quẻ đơn thấy ngay thế mạnh yếu của Thể và Dụng. Rồi xem hào động để biết biến động giữa ta và người trong tình thế mới tốt hơn hay tệ hơn. Ví dụ một cặp vợ chồng: người chồng tìm được việc mới phải vắng nhà thường xuyên, tình yêu gia đình phai lạt, cuộc hôn nhân có nguy cơ tan vỡ. Hoặc một cặp luôn bất hòa, sắp đổ vỡ, may tìm được căn nhà mới nên làm hòa và sống hợp lại.

Một quẻ đơn giản đòi hỏi trực giác và sự hiểu sâu, và hợp với một số người hơn là cả bộ ba bản quái, hộ quái, biến quái. Có khi ta thấy một quẻ đơn dễ hiểu, có khi bộ ba lại hợp hơn; cũng có khi ta mù tịt trước một quẻ phức tạp, mãi đến lúc xét kỹ từng hào mới hiểu quẻ nói gì. Càng biết nhiều chi tiết dùng được khi đoán thì càng dễ chọn phương pháp hợp với đề tài. Chuyện tình duyên, chuyện làm ăn và vô số chuyện khác đều chịu ảnh hưởng của "thời", nên phải tổng hợp các nhân tố trong quẻ mới có lời đoán chính xác.

Thời của quẻ: tám quẻ theo bốn mùa

Để thêm yếu tố thời, hãy dựa vào sơ đồ Hậu Thiên bát quái để tìm mùa ứng với quẻ. Chẳng hạn các tháng mùa xuân do quẻ Chấn rồi quẻ Tốn cai quản. Ta dùng chi tiết ấy để đánh giá Thể và Dụng, xem bên nào mạnh bên nào yếu.

Mùa xuân thuộc Mộc. Mộc khắc Thổ, mà Cấn hành Thổ thuộc mùa đông, Khôn cũng hành Thổ lại thuộc đầu thu: một bên là thời đã qua, một bên là tương lai xa. Nếu Thể là Mộc và Dụng Thổ chiếm ưu thế thì ý nghĩa của hai quẻ đơn không thêm vào hay bớt đi ý nghĩa căn bản của cả quẻ. Mộc sinh Hỏa. Tuy Hỏa thuộc tháng sau nối tiếp, nhưng nếu Thể là quẻ Ly thì ta biết điều lành sắp đến với mình.

Cũng có thể kiểm tra và mài sắc kỹ năng đoán bằng cách đoán thời tiết, với Thể làm ví dụ. Nếu Thể là Chấn, tượng sấm nổ và thay đổi bất chợt. Tốn là gió, hay len lỏi. Khảm là mưa, thời tiết ẩm ướt. Ly là trời nắng, mùa khô. Cứ thế mà suy. Giả sử đoán thời tiết và Thể là Chấn mà Dụng là Kiền Kim khắc Thể Mộc, thì vì Kim khắc Mộc nên ta ngờ rằng sẽ không có sấm.

Nguồn: Vưu Sủng Hoa, Mai Hoa Dịch Tân Biên.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Mai Hoa