Bài tổng quan
Tám cuộc đời trong tám quẻ: từ sợ vợ đến lương 530 tệ
Có người sáu hào mà năm hào cùng động, có người Thế nhập Mộ ngay chỗ Tài, có người lương cả tháng chỉ 530 tệ và con số ấy cũng nằm sẵn trong quẻ. Tám người gieo tám quẻ để hỏi chuyện cả đời, và mỗi dấu hiệu trong quẻ về sau đều hiện thành một đoạn đời có thật...
Mục lục · 8 phần
- 01Năm hào cùng động: đời người không yên ổn
- 02Quẻ lục xung, Thế nhập Mộ ở Thê Tài: người sợ vợ vào tù rồi được thả
- 03Quan Quỷ trì Thế được Nguyệt sinh: người phụ nữ làm việc trong nhà, hợp lòng cấp trên
- 04Câu Trần trì Thế, Quan Quỷ hưu tù: người lười, độc thân và cha mất năm Ất Hợi
- 05Tử Tôn và Đằng Xà trì Thế: người phụ nữ ham nghệ thuật, làm chức phó
- 06Thế thuộc mộc lâm Thanh Long, Tài nhập Mộ: người hiền, ăn chậm, lương ba trăm năm mươi tệ
- 07Tử Tôn trì Thế phát động: chàng trai ham chơi, không giữ được việc cố định
- 08Quẻ lục xung mà Thế an tĩnh: nhà báo làm con thừa tự, gặp nạn xe, mắc bệnh tim
Tám người, đàn ông có đàn bà có, mỗi người gieo một quẻ để hỏi chuyện cả đời. Người thì sáu hào có năm hào cùng động, người thì quẻ lục xung, người thì Thế nhập Mộ ngay chỗ Tài. Mỗi dấu hiệu ấy sau này đều hiện thành một đoạn đời có thật.
Năm hào cùng động: đời người không yên ổn
Một người đàn ông gieo quẻ vào ngày Canh Thân, tháng Tân Tỵ, năm Ất Hợi, được Sơn Hỏa Bí biến Thiên Thủy Tụng, Không Vong là Tý và Sửu.
Sáu hào có tới năm hào phát động. Quẻ có quá nhiều hào động là thông tin của một đời sống không yên ổn.
- Quan vận: Quan Quỷ Mão mộc tuy trì Thế nhưng hưu tù lại hóa thoái, cả đời không có quan vận. Quan Quỷ lâm hào sơ, mà hào sơ là cấp dưới, là quần chúng, nên anh ta chỉ là một người bình thường.
- Sức khỏe: Quan Quỷ trì Thế hưu tù lại lâm Bạch Hổ. Cả Quan Quỷ lẫn Bạch Hổ đều mang nghĩa bệnh tật, nên cơ thể nhiều bệnh.
- Tiền bạc: hào Tài lưỡng hiện, Tý thủy Không Vong, Hợi thủy Nguyệt phá, lại có Huynh Đệ ở hai tầng cùng phát động khắc Tài. Cả đời tài vận không tốt. Có điều ngày là đất Trường Sinh của hào Tài nên sinh hoạt cơ bản không thành vấn đề, chỉ khó có tiền để dành.
- Hôn nhân: Thế khắc Ứng nên lập gia đình muộn. Tài sinh Thế, một hào lâm Thanh Long, một hào hóa hồi đầu sinh, nên có người vợ lo toan việc nhà.
- Anh em: Huynh Đệ có hai tầng, hào hai lại hóa ra một hào nữa, trong nhà nhiều anh em. Huynh Đệ Sửu thổ Không Vong, bị Quan Quỷ Mão mộc khắc, lại Tuyệt ở nguyệt kiến, nên trong anh em có người chết sớm. Sửu thổ động hóa Mộ, Tuất thổ lâm Chu Tước bị Mão mộc khắc và hợp, nên trong anh em có người vướng họa lao ngục.
Kết quả: anh ta kết hôn năm hai mươi tám tuổi, vợ là người đức hạnh. Hai vợ chồng sống ở một thị trấn nhỏ, anh là nhân viên bình thường. Cả hai đều yếu, nhiều bệnh, mỗi năm ba phần thu nhập đổ vào thuốc men. Nhà có năm anh em, một người bệnh chết, một người vào tù.
Quẻ lục xung, Thế nhập Mộ ở Thê Tài: người sợ vợ vào tù rồi được thả
Một người đàn ông sinh năm 1955 gieo quẻ vào ngày Tân Mùi, tháng Quý Mùi, năm Ất Hợi, được Thiên Lôi Vô Vọng biến Trạch Lôi Tùy, Không Vong là Tuất và Hợi.
- Vận đời: quẻ chính là lục xung nên nửa đầu cuộc đời lên xuống thất thường.
- Hôn nhân: Ứng khắc Thế nên lấy vợ muộn. Thế nhập Mộ ở Thê Tài nên sợ vợ. Thê Tài Tuất thổ phát động, vừa gặp trị vừa gặp hợp, đối chiếu với tuổi của anh thì đoán kết hôn năm 1982, năm Nhâm Tuất.
- Tai họa: Thế lâm Chu Tước, mà Chu Tước là khẩu thiệt, kiện tụng. Thế nhập Mộ ở Thê Tài Tuất thổ, Mộ lại lâm Đằng Xà, mà Đằng Xà là dây thừng, là trói buộc. Vậy có họa lao ngục, và vì Mộ nằm ở Tài nên là vì tiền mà vào tù. Phải giữ mình tuân thủ pháp luật.
- Quan vận: Quan Quỷ Thân kim ở hào năm, được nhật nguyệt sinh phù nên vượng tướng. Hào năm là ngôi tôn quý, vị trí lãnh đạo, quan vận tốt đẹp.
- Tính cách: Thế lâm Chu Tước, mà Chu Tước chủ văn chương, học thuật, nên anh hiếu học. Nhập Mộ thì như mê như say. Mộ lại lâm Đằng Xà, mà Đằng Xà có nghĩa kỳ lạ, thần bí, nên anh thích văn hóa thần bí và các môn huyền thuật.
- Cha mẹ: Phụ Mẫu Tý thủy ở hào sơ lâm Bạch Hổ, Không Vong, bị nhật nguyệt khắc thương. Phụ Mẫu là cha mẹ, Bạch Hổ chủ tử vong, hào sơ là lúc nhỏ, nên cha mẹ mất sớm.
- Về sau: hào Thế là Tử Tôn, là lục thân khắc Quan Quỷ. Quẻ biến thành quẻ du hồn, hào Tài độc phát. Sau này anh sẽ bỏ chức vụ mà theo đuổi kinh doanh.
Kết quả: anh kết hôn năm 1982, rất sợ vợ, thích khí công và Kinh Dịch. Năm 1995 anh làm lãnh đạo một đơn vị. Tháng Ngọ năm 1996 anh vào tù vì một vụ án kinh tế, cuối năm được thả vì vô tội. Cha anh mất năm 1973, mẹ mất năm 1975. Năm 1999 anh mở nhà hàng nhưng không có lãi nên đã sang nhượng.
Quan Quỷ trì Thế được Nguyệt sinh: người phụ nữ làm việc trong nhà, hợp lòng cấp trên
Một người phụ nữ sinh năm 1962 gieo quẻ vào ngày Giáp Tuất, tháng Quý Hợi, năm Mậu Dần, được Địa Trạch Lâm biến Lôi Trạch Quy Muội, Không Vong là Thân và Dậu. Ở đây một quẻ được đọc ra nhiều việc, mỗi việc đổi một dụng thần.
- Công việc: lấy Quan Quỷ làm dụng thần, tháng là cấp trên, ngày là đồng nghiệp. Quan Quỷ Mão mộc trì Thế, được nguyệt sinh phù nên vượng tướng, sự nghiệp thành công. Quan Quỷ ở hào hai, hào hai là nhà, nên làm việc trong nhà. Quan Quỷ lâm Chu Tước, Chu Tước chủ văn thư, nói năng, nên làm nghề liên quan đến sách vở, tài liệu. Thế được nguyệt kiến sinh phù, hào năm cũng sinh Thế, mà hào năm là vị trí lãnh đạo, nên rất được cấp trên xem trọng. Thế hợp với nhật thần nên sống với đồng nghiệp hòa hợp.
- Tiền bạc: lấy hào Tài làm dụng thần. Thê Tài Hợi thủy được nguyệt kiến tỉ phù, tĩnh mà sinh Thế, tài vận tốt, thu nhập ổn định. Tài lâm hào Ứng, Ứng là ngôi của chồng, hào năm lại là ngôi tôn quý, nên đàn ông nắm quyền trong nhà và giữ tiền. Hào Tài bị nhật thần và hào động Sửu thổ khắc chế, nên có tiền vào là phải tiêu ra, trong nhà không tích trữ được.
- Hôn nhân: lấy Quan Quỷ làm dụng thần, xem thêm hào Ứng. Năm 1986 là năm Bính Dần, ngũ hành giống Quan Quỷ, hợp với Ứng là ngôi của chồng, nên năm ấy bắt đầu yêu. Quan Quỷ Mão mộc hợp với nhật, mà chỗ hợp gặp xung: năm 1988 Mậu Thìn xung nhật thần Tuất thổ, Quan Quỷ hết bị hợp, nên đoán kết hôn năm 1988. Hào Ứng lâm Bạch Hổ, tính khí chồng không tốt, hay nóng nảy. Ứng sinh Thế, Quan Quỷ và Thế cùng ở một hào, nên vợ chồng đằm thắm, đồng lòng.
- Con cái: Tử Tôn Dậu kim Không Vong, nhập Mộ ở hào động Sửu thổ, nên từng sảy thai. Tử Tôn lâm Huyền Vũ, con hiện nay hướng nội. Nhập Mộ ở Sửu thổ nên con có sở thích riêng, say mê một việc. Tử Tôn sinh hào Ứng, con gần gũi với cha.
- Sức khỏe: Địa Trạch Lâm thuộc cung Khôn, Khôn là thổ, thổ chủ dạ dày. Tài là ăn uống, lại là nguyên thần của Thế, nhưng bị hào bốn Huynh Đệ Sửu thổ phát động khắc thương. Hào bốn là ngôi của tỳ vị, nên tỳ vị không tốt. Tài còn chủ về máu và lâm Bạch Hổ, mà Bạch Hổ cũng chủ máu, nên ý nghĩa ấy càng mạnh. Bị khắc thì thiếu sức sinh Thế, nên tuần hoàn máu kém. Hào sáu là kỵ thần, hào sáu là đầu, lại lâm Huyền Vũ chủ chóng mặt, nên có hiện tượng chóng mặt.
- Cha mẹ: Phụ Mẫu Tỵ hỏa ở hào sơ bị Nguyệt phá, nhập Mộ ở nhật, lâm hào dương là cha, nên cha đã mất.
Kết quả: bà là kế toán một công ty máy tính, năm 1986 có người yêu, năm 1988 kết hôn, nay có một con gái, cha mất năm 1993. Những điều còn lại cũng khớp với thực tế.
Câu Trần trì Thế, Quan Quỷ hưu tù: người lười, độc thân và cha mất năm Ất Hợi
Một người đàn ông sinh năm 1957 gieo quẻ vào ngày Ất Mùi, tháng Mậu Thìn, năm Kỷ Mão, được Phong Sơn Tiệm biến Tốn Vi Phong, Không Vong là Thìn và Tỵ.
- Tính cách: Phong Sơn Tiệm thuộc cung Cấn, Cấn là dừng lại, thêm Câu Trần trì Thế nên người này lười biếng. Quan Quỷ Mão mộc ở hào sáu là cừu thần, hào sáu là đầu, mộc là thần kinh, nên có tố chất thần kinh.
- Công việc: lấy Quan Quỷ làm dụng thần. Quan Quỷ Mão mộc hưu tù, cả đời không có việc tốt. Quan Quỷ lâm Huyền Vũ, Huyền Vũ chủ bẩn thỉu, nên môi trường làm việc cũng kém. Tử Tôn trì Thế là lục thân khắc Quan Quỷ, bản thân không muốn đi làm.
- Hôn nhân: lấy Thê Tài làm dụng thần. Nguyên thần của dụng thần trì Thế, bản thân khao khát phụ nữ. Nhưng Tài bị nhật nguyệt khắc thương, hào Phi là Tuyệt của Tài, nên kém duyên với người khác giới. Phụ Mẫu Ngọ hỏa tượng trưng cho tờ giấy kết hôn, động rồi hóa hồi đầu khắc, hóa Tuyệt, nên cả đời không có hôn nhân.
- Cha mẹ: Phụ Mẫu Tỵ hỏa Không Vong, Ngọ hỏa động hóa hồi đầu khắc, nên trong cha mẹ chắc chắn có một người đã mất. Năm 1995 là năm Ất Hợi, chính là hào Ngọ hỏa biến ra, nên mất vào năm 1995.
Kết quả: anh làm ở một xưởng rửa than, hay nói dối ốm để khỏi đi làm. Anh vừa lười vừa hơi bất thường về thần kinh. Cha anh mất năm 1995 và đến nay anh vẫn sống độc thân.
Tử Tôn và Đằng Xà trì Thế: người phụ nữ ham nghệ thuật, làm chức phó
Một người phụ nữ gieo quẻ vào ngày Ất Sửu, tháng Nhâm Ngọ, năm Canh Thìn, được Thủy Thiên Nhu biến Thủy Phong Tỉnh, Không Vong là Tuất và Hợi.
- Tính cách: Tử Tôn và Đằng Xà cùng trì Thế. Tử Tôn là giải trí, nghệ thuật, Đằng Xà chủ kỹ nghệ, nên bản thân thích nghệ thuật, tính hiếu kỳ rất mạnh. Thế nhập Mộ ở nhật, mà Đằng Xà lại là thần kỳ, quái lạ, nên rất có hứng thú với những hiện tượng khác thường và với tôn giáo.
- Công việc: lấy Quan Quỷ làm dụng thần. Quan Quỷ Dần mộc ở hào hai, hào hai là nhà, là nội thất, tức ngồi trong văn phòng. Quan Quỷ lâm Chu Tước, Chu Tước là văn thư. Thê Tài Tý thủy lâm Thanh Long phát động sinh Quan Quỷ, Thanh Long là tượng cao quý, có chức vụ. Nhưng hào vị của Quan Quỷ thấp, nên chỉ là chức nhỏ. Quan Quỷ lại là Dần mộc, mà Dần, Thân, Tỵ, Hợi là chức phó.
- Hôn nhân: lấy Quan Quỷ làm dụng thần. Tử Tôn trì Thế thì hôn nhân khó mỹ mãn. Quan Quỷ là mộc, mộc chủ hiền lành, nên chồng là người rất hiền. Thế khắc Quan Quỷ, nên bản thân nếu không thường xuyên mắng chồng thì cũng hay nói móc.
- Anh chị em: Huynh Đệ Tuất thổ Không Vong, bị nhật thần hình, lại lâm Bạch Hổ, mà Bạch Hổ chủ tử vong, nên trong anh chị em có người mất sớm. Thế nhập Mộ ở nhật, mà nhật cũng là Huynh Đệ, nhập Mộ là tượng bị quản thúc, nên bản thân không phải con cả.
- Con cái: Thủy Thiên Nhu là quẻ du hồn, mang nghĩa đi ra ngoài. Xét theo nguyệt thì Tử Tôn là Dịch Mã, nên con hiếu động, tinh nghịch.
Kết quả: bà làm việc ở một tòa án, giữ chức phó phòng. Trong anh chị em, một chị gái và một anh trai đã mất. Vợ chồng bất hòa, con cái quậy phá không nghe lời.
Thế thuộc mộc lâm Thanh Long, Tài nhập Mộ: người hiền, ăn chậm, lương ba trăm năm mươi tệ
Một người đàn ông gieo quẻ vào ngày Ất Mùi, tháng Quý Mùi, năm Canh Thìn, được Trạch Thủy Khốn biến Trạch Phong Đại Quá, Không Vong là Thìn và Tỵ.
- Tính cách: Thế thuộc mộc lại lâm Thanh Long, nên người hiền lành, lễ độ. Tài là ăn uống, Thanh Long chủ tiệc tùng, ẩm thực. Tài nhập Mộ ở nhật, lại là quẻ lục hợp, mà hợp là chậm chạp, nên đoán anh ăn thì nhai kỹ nuốt chậm. Hào Tài là vợ, lâm Thế, bị vợ lấn át, lại nhập Mộ là tượng bị người quản thúc, nên sợ vợ.
- Công việc: lấy Quan Quỷ làm dụng thần. Quan Quỷ Ngọ hỏa hưu tù, nguyên thần Thê Tài nhập Mộ, Thế lại ở hào sơ, nên cả đời không có quan vận, là người thường dân.
- Tiền bạc: nhật nguyệt khắc chế Tử Tôn nên không có sức sinh trợ hào Tài, Tài lại nhập Mộ, nên tài vận kém, thu nhập thấp đến thê thảm. Một người bạn cùng học Dịch đứng cạnh bổ sung thêm một câu: lương của anh chỉ có 530 tệ. Con số này lấy từ số tiên thiên của hào Tài. Thế đóng ở Mậu Dần, Mậu là 5, số ngũ hành của Dần mộc là 3, đọc thẳng thành 530. Hào hưu tù thì lấy số nhỏ.
- Sức khỏe: Tài nhập Mộ nên tiêu hóa kém. Quẻ biến thành du hồn nên tinh thần không tốt. Nhập Mộ thì như mê như say, đầu óc không tỉnh táo, hay lờ đờ.
- Nhà ở: Thế nhập Mộ ở Mùi thổ, mà Mùi thổ là Phụ Mẫu, Phụ Mẫu chủ nhà cửa, nên Phụ Mẫu Mùi thổ chính là ngôi nhà anh đang ở. Phụ Mẫu Mùi thổ ở hào sáu bị hào bốn Ngọ hỏa hợp, dưới hợp trên, nên là nhà trệt.
Kết quả: tất cả những điều trên đều ứng nghiệm.
Tử Tôn trì Thế phát động: chàng trai ham chơi, không giữ được việc cố định
Một thanh niên sinh năm 1981 gieo quẻ vào ngày Nhâm Dần, tháng Giáp Thân, năm Canh Thìn, được Địa Sơn Khiêm biến Trạch Hỏa Cách, Không Vong là Thìn và Tỵ.
- Tính cách: hào Thế phát động nên hiếu động, tính hướng ngoại. Thế nhập Mộ ở Phụ Mẫu Thìn thổ, mà Phụ Mẫu là bậc trên, nên rất ỷ lại vào người lớn. Tử Tôn trì Thế, Tử Tôn là thần giải trí, nên ham chơi. Phụ Mẫu hưu tù, Thìn thổ động hóa hồi đầu khắc, lại bị nhật thần Dần mộc khắc thương, nên không thích học, học không giỏi.
- Việc học: xem Quan Quỷ và Phụ Mẫu. Quan Quỷ Ngọ hỏa được nhật sinh nên vượng, nhưng Tử Tôn trì Thế động mà khắc Quan, nếu dựa vào sức mình thì rất khó đỗ đại học. Tuy nhiên Phụ Mẫu ở hai tầng cùng phát động, chế phục Tử Tôn, nhờ sức cha mẹ thì có thể vào đại học. Nhưng Phụ Mẫu hưu tù, nên vào được cũng khó lấy bằng.
- Sự nghiệp: lấy Quan Quỷ làm dụng thần. Quan Quỷ lâm Ứng, tuy được nhật sinh nhưng là quan của người khác. Thế khắc Quan nên bản thân không đi làm thuê cho ai. Kỵ thần động ở hào Thế, nên cả đời không có công việc cố định.
- Tiền bạc: lấy Thê Tài làm dụng thần. Hào Tài Mão mộc phục tàng nhưng được nhật thần trợ giúp, hào Thế lại động mà sinh Tài, nên cả đời tài vận rất tốt, tự kinh doanh nhất định phát tài.
- Sức khỏe: lấy hào Thế làm dụng thần. Thế ở hào năm, hào năm là ngũ quan, thủy là miệng, bị hai Phụ Mẫu thổ khắc, nên cổ họng có bệnh, như viêm họng. Hào Thế động hóa Mộc Dục, Mộc Dục có nghĩa trai giới, nên đoán anh thích ăn chay, không ưa đồ nhiều dầu mỡ.
Kết quả: anh không đỗ đại học. Cha mẹ bỏ tiền cho anh vào đại học nhưng anh ham chơi, không thích học, nhiều môn không đạt. Những điều về tính cách và bệnh tật đều đúng, còn sự nghiệp thì phải chờ về sau mới nghiệm.
Quẻ lục xung mà Thế an tĩnh: nhà báo làm con thừa tự, gặp nạn xe, mắc bệnh tim
Một người đàn ông sinh năm 1962 gieo quẻ vào ngày Canh Thân, tháng Nhâm Thân, năm Kỷ Mão, được Chấn Vi Lôi biến Trạch Địa Tụy, Không Vong là Tý và Sửu.
Quẻ chính là lục xung, nên nửa đời trước hơi bấp bênh. Nhưng hào Thế an tĩnh, nửa đời sau sẽ an nhàn hơn.
- Tiền bạc: lấy Thê Tài làm dụng thần. Hào Tài trì Thế, được nhật, nguyệt và hào động tạo thành ba điểm Trường Sinh, hào sơ Tý thủy lại là đất Đế Vượng, nên tiền không chỉ đến từ một nơi, cả đời không thiếu tiền tiêu. Tài Trường Sinh ở Quan Quỷ, mà Quan Quỷ là chính quyền, cơ quan, nên làm việc ở cơ quan nhà nước, kiếm tiền từ nhà nước.
- Công việc: lấy Quan Quỷ làm dụng thần. Quan Quỷ được nhật nguyệt tỉ phù, lại động hóa tiến thần, sự nghiệp ngày một phát triển. Quan Quỷ ở hào năm, có chức vụ, hóa tiến thì chức vụ lần lượt lên cao.
- Hôn nhân: lấy Thê Tài làm dụng thần, xem quan hệ Thế Ứng. Thế Ứng tương xung nên vợ chồng bất hòa. Kỵ thần Huynh Đệ Dần mộc bị Nguyệt phá, Nhật phá lại an tĩnh, không đủ sức khắc Tài, nên tuy bất hòa nhưng không ly hôn. Hào sơ động hóa ra Thê Tài, bản thân có chuyện ngoại tình. Hào Tài hưu tù, mà năm 1989 Kỷ Tỵ và năm 1990 Canh Ngọ sinh trợ hào Tài, nên kết hôn vào một trong hai năm ấy.
- Con cái: lấy Tử Tôn làm dụng thần. Tử Tôn là Ngọ hỏa, nên con ra đời năm 1990. Tử Tôn Ngọ hỏa là Dịch Mã, lại lâm Chu Tước, nên con hoạt bát, hiếu động, nói giỏi.
- Tính cách: hào Thế là Mộ khố của Tử Tôn lại lâm Đằng Xà, mà Tử Tôn và Đằng Xà đều chủ nghệ thuật, nên bản thân có tài hoa, thích nghệ thuật. Quẻ lục xung nên thiếu khả năng tự kiềm chế.
- Sức khỏe: lấy hào Thế làm dụng thần. Nguyên thần Tử Tôn bị Phụ Mẫu Tý thủy ở hào sơ khắc thương. Phụ Mẫu là xe, hào sơ là bánh xe, lại lâm Bạch Hổ mà Bạch Hổ là đường đi, đó là thông tin tai nạn xe cộ. Phụ Mẫu Tý thủy Không Vong, năm 1996 là năm Bính Tý, gặp thực không, nên năm ấy có thể xảy ra tai nạn xe. Tử Tôn Ngọ hỏa ở hào bốn, hào bốn là ngôi của tim, hỏa cũng là tim, bị Phụ Mẫu khắc nên tim có bệnh. Phụ Mẫu Tý thủy bị hào biến Mùi thổ khắc chế, năm 1997 là năm Đinh Sửu xung mất Mùi thổ, Tý thủy không còn bị chế nên khắc thẳng Tử Tôn, năm ấy mắc bệnh tim.
- Anh chị em: lấy Huynh Đệ làm dụng thần. Huynh Đệ khắc Thế nên khó nhờ cậy anh em.
- Cha mẹ: lấy Phụ Mẫu làm dụng thần. Phụ Mẫu vượng tướng nhưng động mà khắc nguyên thần, duyên với mình mỏng. Hào Thế ở hào sáu lại là thổ, nên được người khác nhận làm con thừa tự.
Kết quả: anh là phóng viên một tòa soạn, thích vẽ, là cán bộ cấp phòng. Từ nhỏ anh đã được người khác nhận làm con thừa tự. Anh kết hôn năm 1989, sinh con gái năm 1990, gặp tai nạn giao thông năm 1996 và nhập viện vì bệnh tim năm 1997.
Nguồn: Vương Hổ Ứng, Tế thuyết Lục hào dự trắc học.
