Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Gieo quẻ

Bài tổng quan

Du Lớn, Du Nhỏ chạy trong tám quẻ và hào động

Bói Dịch - Gieo quẻ03/10/202613 phút đọc4 lượt đọc
Du Lớn, Du Nhỏ chạy trong tám quẻ và hào động

Có một ngôi sao phải ba mươi sáu năm mới qua được một cung, và một ngôi sao khác chỉ ba năm đã đổi quẻ. Nơi hai sao ấy dừng lại, ở hào nào của quẻ nào, người xưa đọc được vận một đời vua và vận một năm thường. Đến cả mười hai tháng cũng được chia hào…


Trong vòng Thái Ất có hai sao cứ đi mãi quanh tám quẻ: một sao đi chậm, một sao đi nhanh. Sao đi chậm ở mỗi cung đến ba mươi sáu năm, sao đi nhanh thì ba năm đã sang quẻ khác. Nơi hai sao ấy dừng lại, ở hào nào của quẻ nào, người xưa đọc được cả thời vận của một đời vua, một thế hệ, và cả một năm bình thường.

Tám quẻ thu mầm vào mười can

Trước khi theo hai sao ấy, cần biết cách tám quẻ ôm lấy mười can mười hai chi, gọi là nạp giáp. Mỗi quẻ có phần trong và phần ngoài, mỗi phần ôm ba địa chi, và mỗi quẻ đi cùng một can.

Kiền nạp ở Giáp và Nhâm: quẻ trong gồm Giáp Tý, Giáp Dần, Giáp Thìn, quẻ ngoài gồm Nhâm Ngọ, Nhâm Thân, Nhâm Tuất. Khôn nạp ở Ất và Quý: trong là Ất Mùi, Ất Tỵ, Ất Mão, ngoài là Quý Sửu, Quý Hợi, Quý Dậu. Chấn nạp ở Canh: trong là Canh Tý, Canh Dần, Canh Thìn, ngoài là Canh Ngọ, Canh Thân, Canh Tuất. Cấn nạp ở Bính: trong là Bính Thìn, Bính Ngọ, Bính Thân, ngoài là Bính Tuất, Bính Tý, Bính Dần. Tốn nạp ở Tân: trong là Tân Sửu, Tân Hợi, Tân Dậu, ngoài là Tân Mùi, Tân Tỵ, Tân Mão. Ly nạp ở Kỷ: trong là Kỷ Mão, Kỷ Sửu, Kỷ Hợi, ngoài là Kỷ Dậu, Kỷ Mùi, Kỷ Tỵ. Khảm nạp ở Mậu: trong là Mậu Dần, Mậu Thìn, Mậu Ngọ, ngoài là Mậu Thân, Mậu Tuất, Mậu Tý. Đoài nạp ở Đinh: trong là Đinh Tỵ, Đinh Mão, Đinh Sửu, ngoài là Đinh Hợi, Đinh Dậu, Đinh Mùi.

Mỗi can chi còn mang một con số khi nạp giáp: Giáp, Kỷ, Tý, Ngọ là chín. Ất, Canh, Sửu, Mùi là tám. Bính, Tân, Dần, Thân là bảy. Đinh, Nhâm, Mão, Dậu là sáu. Mậu, Quý, Thìn, Tuất là năm. Tỵ và Hợi là số bốn đơn.

Con số của bốn tượng

Mỗi quẻ mang sẵn một con số, như một cái cân đặt sẵn để cân đời người.

Khi quẻ trong và quẻ ngoài của sao Du Lớn chồng lên nhau, người xưa gọi là quẻ trùng và chia theo bốn tượng. Kiền là lão dương, mang ba mươi sáu sách. Khôn là lão âm, mang hai mươi bốn sách. Chấn, Khảm, Cấn là thiếu dương, mang hai mươi tám sách. Tốn, Ly, Đoài là thiếu âm, mang ba mươi hai sách. Đó là số sách của bốn tượng, rồi lấy can chi nạp giáp mà cộng thêm vào.

Du Lớn: ba mươi sáu năm một cung, sáu năm một hào

Muốn biết Du Lớn đang ở đâu, lấy tổng số năm đã tích từ thượng cổ đến năm cần xét, cộng một số sai nhỏ, rồi trừ theo các vòng lớn nhỏ, phần còn lại chia theo cung xuất ba mươi sáu. Cung Du Lớn đang đi vạch thành quẻ trong. Số trời cộng được bao nhiêu thì vạch thành quẻ ngoài. Trong ngoài thông nhau thành quẻ trùng.

Thứ tự đi của Du Lớn là bảy, tám, chín, một, hai, ba, bốn, sáu, không vào cung năm. Mỗi cung ba mươi sáu năm, và trong quẻ ba mươi sáu năm ấy chia ra thì sáu năm là một hào. Nghĩa là từ năm thứ nhất đến năm thứ sáu là hào sơ động, tới năm thứ bảy trở đi là hào hai động. Quẻ ngoài thì mười năm mới qua một cung.

Ví dụ lấy năm Canh Thìn, hiệu Sùng Trinh thứ mười ba, tức năm 1640 theo lịch Tây. Tích năm từ thượng cổ Giáp Tý đến đó, cộng thêm số sai ba mươi bốn, được mười triệu một trăm năm mươi lăm nghìn năm trăm chín mươi mốt. Trừ vòng lớn, trừ vòng nhỏ, còn một trăm ba mươi lăm. Chia theo cung xuất ba mươi sáu, được ba lần, còn hai mươi bảy. Vậy Du Lớn đã vào quẻ trong Kiền được hai mươi bảy năm.

Với quẻ ngoài, làm tương tự và còn dư bảy mươi mốt, chia ra thì rơi một năm vào cung Đoài. Trong là Kiền, ngoài là Đoài, gặp nhau thành quẻ Trạch Thiên Quyết. Rồi trở lại xét hai mươi bảy năm trong quẻ trong: trừ hai mươi bốn, tức bốn hào mỗi hào sáu năm, còn dư ba năm, vậy đang ở hào năm. Dùng hào năm, và dùng can chi nạp giáp của hào ấy để đoán. Nơi khác phỏng theo cách đó.

Du Nhỏ: hai mươi bốn năm một quẻ trong, ba năm một quẻ ngoài

Du Nhỏ đi nhanh hơn nhiều. Lấy tích năm từ thượng cổ Giáp Tý đến năm cần xét, trừ theo vòng quẻ một trăm chín mươi hai, rồi lấy cung xuất hai mươi bốn. Phần còn lại cho biết Du Nhỏ vào quẻ nào, đi từ Kiền một thuận theo tám quẻ theo thứ tự một, hai, ba, bốn, sáu, bảy, tám, chín. Hai mươi bốn năm Du Nhỏ qua một quẻ trong, hai mươi bốn nhân tám bằng một trăm chín mươi hai.

Quẻ ngoài của Du Nhỏ thì tính khác: trừ vòng kỷ ba trăm sáu mươi, rồi trừ vòng hai mươi bốn, cuối cùng lấy suất quẻ ba. Cũng đi từ Kiền một, thuận tám quẻ, cứ ba năm qua một quẻ ngoài.

Khi cần tìm hào động, đặt Du Nhỏ vào quẻ trong và quẻ ngoài. Hai mươi bốn năm chia ra thì bốn năm qua một hào. Từ năm thứ nhất đến năm thứ tư là hào sơ động, từ năm hai mươi mốt đến hai mươi bốn là hào sáu động. Chỗ khác suy theo lệ ấy.

Hào cùng cực và độ dài của một đời vua

Hào càng lên cao càng gần chỗ chẳng còn lên được nữa, và người xưa đã đo sự dài ngắn của một thời cuộc bằng chính chỗ ấy.

Muốn xem thời thế dài hay ngắn, người xưa tích năm vua sáng nghiệp lên ngôi, rồi đem trừ theo vòng Du Lớn sáu trăm bốn mươi. Lấy số sách của mỗi năm ấy, sáu hào quẻ trùng trong ngoài, theo lão âm, lão dương, thiếu âm, thiếu dương mà trừ. Phần dư cộng với Du Lớn, hào động và can chi nạp giáp thì được kỳ số lịch dài ngắn.

Khi Du Lớn đứng ở hào ba hoặc hào năm là ngôi trung chính, con số can chi nạp giáp của hào đó được nhân gấp bội. Ở hào sơ hoặc hào bốn thì chỉ cộng thêm số của can chi mỗi hào. Còn hào ba là hào cùng cực của quẻ trong, hào sáu là hào cùng cực của quẻ ngoài, thì không có số bội, mà là số đoản. Chỗ ấy không bội cũng không cộng. Cùng cực ở trong thì chậm, cùng cực ở ngoài thì nhanh.

Phàm quẻ Du Lớn đến hào cùng cực của trong hoặc ngoài, nếu năm ấy là Thái Dương lại gặp Chủ Âm thì đó là kỳ thọ hết, lộc cùng. Nếu thêm năm gặp chặn, giam, ếm, ép, cách, đối, kích, cắp thì ắt có họa binh lửa, tang tóc, đoạt ngôi. Sự việc đều lấy mười can mà quyết: Giáp Ất là phương Đông, Bính Đinh là phương Nam, Canh Tân là phương Tây, Mậu Kỷ là nước ở giữa, Nhâm Quý là phương Bắc. Dưới những phương ấy sinh ra những chuyện kẻ dưới soán giết.

Đoạn này còn dặn thêm cách tìm tên họ. Lấy địa chi quy ra năm âm: Tý và Ngọ là âm Cung; Sửu, Mùi, Dần, Thân là âm Chủy; Mão và Dậu là âm Vũ; Thìn và Tuất là âm Thương; Tỵ và Hợi là âm Giốc. Rồi dùng tượng của tám quẻ trong ngoài để xem, lấy phương đã khởi làm gốc, thí dụ Giáp Ất là phận bên Đông. Lại xem Du Lớn và Thiên Mục đứng ở cung trong hay ngoài. Nếu sáu hào không gặp thế hung nào thì hai thần ấy dựng nên hình thể như đứng giữa cung trong ngoài. Được thần trợ thì còn đạo, khuyết thì mất đạo.

Ở các hào hai và năm, vua được bề tôi trợ, ơn đức rộng với quân dân, đời giàu thịnh lớn. Gặp hào sơ hoặc hào bốn mà kỵ năm bị chặn, giam, ếm, kích thì chẳng phải đất yên lành. Gặp hào cùng cực của trong ngoài là lúc đổ vỡ nguy hại, không còn quay chân lại được. Nếu bên dưới còn có Thái Dương Chủ Âm thì vua đang tu đức làm ơn, sửa sang chính sự, sợ mệnh trời, có thể miễn được tai ương.

Thêm một cách xét: đời yên hay loạn

Đặt số năm vua lên ngôi vào quẻ trong và quẻ ngoài đã tìm được, rồi xem năm đó Du Lớn đang đi ở hào nào. Ở hào sơ, hai, bốn, năm thì ngôi vua dài. Ở hào ba, sáu thì ngôi vua ngắn. Hào dương có ứng thì vua có bề tôi giúp, hào âm không ứng thì vua không có người trợ. Du Lớn ở quẻ trong thì số lịch dài, ở quẻ ngoài thì số lịch ngắn. Cực ở trong thì tai nạn nhẹ, cùng ở ngoài thì tai nạn nặng. Vì vậy phải xét thật kỹ năm lên ngôi, xem dưới Thái Dương Chủ Âm là kỳ hội ách. Nếu vào hào cực trong ngoài thì sự nghiệm càng rõ.

Nếu năm ấy lại gặp Tiểu Du, ếm, kích, tù, ép, cách, cắp ở hào cực của quẻ trong thì có binh qua, trộm cướp, nạn nước nạn lửa. Ở hào cực của quẻ ngoài thì có nạn mất đất mất nước. Gặp thêm năm đầu cuối của chín dương, một trăm lẻ sáu thì tai họa càng sâu. Du Lớn vào quẻ thì sáu năm một hào, ba mươi sáu năm là một vòng trời.

Du Nhỏ giữ quẻ, giữ hào, giữ rủi may

Kinh nói rằng Du Nhỏ thống quẻ và chủ việc rủi may. Trước rõ ở quẻ, sau rõ ở hào. Quẻ giữ việc, hào giữ thời, tượng nói lành dữ. Tượng Lớn nói rằng nói điều lành thì sau sẽ tới điều lành, nói điều hung thì sau sẽ tới điều hung. Trước xem thể trong, rồi suy tượng ngoài, tỏ điều đã qua, xét điều sắp tới thì thấy lành dữ.

Khi Du Nhỏ gặp hào hai hoặc hào năm là đời bằng yên. Qua hào sơ hoặc hào bốn, nếu toán hòa có ứng thì lành. Nếu không hòa, không ứng thì vua không có tôi trợ, đời không yên. Ở hào cùng cực của trong ngoài thì việc nhiều hung biến: lý trời thì trời biến, mặt trăng mất sáng, lý đất thì gió sấm lệch kỳ, lúa không thành, lý người thì người ốm đau, đời thiếu thốn. Gặp thêm năm chặn, giam, ép, kích, cắp, đối thì hạn nước, gươm đao, đói khổ, bệnh tật, dân bỏ làng. Cực ở trong thì nhẹ, cùng ở ngoài thì nặng.

Sau hào động còn xem can nạp giáp. Dưới Giáp Ất thì gió mưa, bệnh dịch, lưu vong. Dưới Bính Đinh thì lửa, hạn, cháy, điều quái, miệng tiếng, lời gở, trong hậu cung có chuyện. Dưới Mậu Kỷ thì sâu lúa, việc thổ công, thiên hạ có tang lớn. Dưới Canh Tân thì binh qua, trộm cướp. Dưới Nhâm Quý thì mưa bay tối tăm, nước lớn ngập sông, bà hậu phi không yên. Trong mười hai chi, lấy hào động mà xem. Dưới các phương ấy tất có binh qua, tật bệnh, nước hạn, tai biến, nên sửa đức, sáng chính, giảm tội, nạp gian, trừ yêu để tiêu tan tai biến.

Quẻ của năm: mỗi năm một quẻ, mỗi hào một tháng

Sau cùng, mọi con số lớn rơi xuống một năm cụ thể và hiện ra thành một quẻ cho mười hai tháng.

Để tìm quẻ của năm, tích năm từ thượng cổ Giáp Tý đến năm cần xét được bao nhiêu thì trừ theo vòng sáu mươi bốn quẻ. Phần dư không hết thì khởi từ quẻ Kiền làm đầu, mỗi năm một quẻ, đếm đến hết số thì ra quẻ lưu niên. Muốn biết hào động thì xem địa chi của năm. Năm dương dùng hào dương, đếm từ dưới lên trên, hết vòng trở lại, không lấy hào âm; số đến địa chi của năm thì dừng, đó là hào động. Thân, Tý, Thìn, Dần, Ngọ, Tuất là năm dương. Năm âm dùng hào âm, đếm từ trên xuống dưới, hết vòng trở lại, không lấy hào dương; số đến địa chi của năm thì dừng. Tỵ, Dậu, Sửu, Hợi, Mão, Mùi là năm âm.

Muốn xem việc trong từng tháng, lấy quẻ gốc làm sáu tháng đầu, quẻ biến làm sáu tháng sau, và hào động là nơi bắt đầu, gọi là kỳ chính.

Ví dụ năm Bính Ngọ, tức 1786. Lấy tích năm trừ vòng sáu mươi bốn quẻ thì còn ba mươi mốt, được quẻ Hàm, đó là quẻ lưu niên. Bính Ngọ thuộc dương nên dùng hào dương, đếm từ dưới lên, bắt đầu từ hào chín ba là Tý, lên tới hào chín năm là Dần, quay lại chín ba là Tỵ, rồi chín ba là Ngọ, trùng với địa chi năm Bính Ngọ. Vậy hào động ở đó, và quẻ Hàm biến ra quẻ Tụy, còn gọi là quẻ Toái.

Trong quẻ Hàm, hào chín ba là tháng giêng ứng với Tý, hào bốn là tháng hai ứng Sửu, hào năm là tháng ba ứng Dần, hào sáu là tháng tư ứng Mão, hào sơ là tháng năm ứng Thìn, hào hai là tháng sáu ứng Tỵ. Đến đó hết vòng quẻ Hàm. Sang quẻ biến, hào sáu ba là tháng bảy ứng Ngọ, hào bốn là tháng tám ứng Mùi, hào năm là tháng chín ứng Thân, hào sáu là tháng mười ứng Dậu, hào sơ là tháng mười một ứng Tuất, hào hai là tháng mười hai ứng Hợi. Hết vòng quẻ biến cũng là hết mọi việc của một năm.

Chỗ khác dùng chuẩn này. Hào hai và hào năm là nhất tốt vì được trung chính. Hào sơ và hào bốn là tốt hạng nhì. Điều đáng sợ là hào cùng cực của trong ngoài. Lấy rõ tượng của quẻ rồi nói lành dữ cho từng việc. Năm dương tháng dương được hào dương ba mươi sáu sách, tháng âm được hào âm hai mươi bốn sách. Bù trừ cho nhau thì mỗi tháng được ba mươi sách. Quẻ nói về việc, hào nói về thời, tượng nói lành dữ.

Thứ tự sáu mươi bốn quẻ, thuộc lòng bằng thơ

Để khi đếm tới số nào là đọc ra quẻ ấy ngay, người xưa nhớ thứ tự sáu mươi bốn quẻ bằng một bài vần. Bài ấy mở đầu bằng Kiền, Khôn rồi Truân, Mông, đi qua Nhu, Tụng, Sư, Tỷ, Tiểu Súc, Lý, Thái, Bĩ, Đồng Nhân, Đại Hữu, Khiêm, Dự, Tùy, Cổ, Lâm, Quan, Phệ Hạp, Bí, Bác, Phục, Vô Vọng, Đại Súc, Di, Đại Quá, và dừng nửa đường ở Khảm, Ly. Nửa sau bắt đầu từ Hàm, Hằng, Độn, Đại Tráng, Tấn, Minh Di, Gia Nhân, Khuê, Kiển, Giải, Tổn, Ích, Quải, Cấu, Tụy, Thăng, Khốn, Tỉnh, Cách, Đỉnh, Chấn, Cấn, Tiệm, Quy Muội, Phong, Lữ, Tốn, Đoài, Hoán, Tiết, Trung Phu, Tiểu Quá, và khép lại bằng hai quẻ Ký Tế, Vị Tế.

Nguồn: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thái Ất thần kinh.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Gieo quẻ