Bài tổng quan
Xác bỏ hoang dã, mộ quanh nhà và nỗi lo ô nhiễm

Có dân tộc từng trói thi thể lên bệ tre trong phòng ở, đốt lửa bên dưới cho khô rồi ba năm sau mới chôn ngay dưới nền nhà. Người xưa chưa hề nghe đến vi khuẩn, nhưng cái giá phải trả bằng bệnh tật đã dạy họ dời nấm mộ ra xa dần…
Mục lục · 6 phần
Thuở chưa biết chôn: ném xác xuống vực, để thi thể trong hang
Tập tục mai táng của Trung Quốc rất đa dạng, nhưng nhìn tổng quát thì tục nào, thời nào cũng thấy nó gắn chặt với chuyện giữ vệ sinh nơi ở. Có lúc mối liên hệ ấy lộ rõ, có lúc lại phức tạp. Vệ sinh môi trường tự nó là một môn khoa học, vậy mà trong việc chôn người chết, nó phải khoác thêm chiếc áo thần linh và tôn giáo mới phát huy được tác dụng.
Chính việc con người từng bước để ý đến vệ sinh đã sinh ra tục chôn cất. Hồi đầu và giữa thời đồ đá cũ, loài người chưa biết mai táng: người ta ném xác xuống vực, hoặc để thi thể nằm ngay trong hang mình ở. Mạnh Tử kể lại thuở ấy:
"Trên thế gian đã từng có người không mai táng người thân, người thân chết thì mang đi vứt."
Sách Ngô Việt Xuân Thu cũng chép:
"Người xưa giản dị, sau khi chết được gói trong cỏ rồi mang đi, để xác ở nơi hoang dã. Những đứa con hiếu thảo thì không nhẫn tâm nhìn cầm thú ăn thịt xác cha mẹ nên đã tìm cách bảo vệ nó không bị cầm thú quấy nhiễu."
Hong thi thể trên bệ tre và chôn dưới nền nhà
Hơn ba trăm năm trước, vẫn còn người sống chung mái nhà với người đã khuất suốt nhiều năm.
Dấu vết của thời chưa có tục chôn còn nhiều. Cách đây hơn ba trăm năm, một số dân tộc ở Đài Loan vẫn để người chết trong nhà rất lâu. Người Tây La Nhã thuộc tộc Bình Phụ ở miền nam đảo trói chặt chân tay người chết, đặt lên một chiếc bệ tre trong phòng và đốt lửa bên dưới cho thi thể khô dần. Chín ngày sau họ gói thi thể bằng chiếu, dời sang một chỗ khác trong nhà chừng ba năm, rồi chôn ngay trong nhà.
Cách phổ biến hơn là chẳng xử lý gì, cứ đặt thi thể vào hang hoặc trong căn nhà nơi người sống vẫn đi lại, sinh hoạt. Xác mục nát tất làm hại môi trường và sức khỏe người ở. Qua lao động và đời sống, người xưa dần nhận ra điều đó nên mới sinh ra tục chôn.
Ban đầu họ chôn người chết ngay trong nhà. Đến thời cận đại, một số chi hệ dân tộc Cao Sơn ở Đài Loan như người Thái Nhã, Bố Y, Tào, Lỗ Khải, Bi Nam vẫn giữ lệ ấy. So với việc để xác nằm trên mặt đất thì chôn đã là tiến một bước. Nhưng vi khuẩn từ thi thể thối rữa vẫn phát tán quanh nhà, nên người ta lùi thêm một bước nữa: chôn quanh nhà.
Mộ quanh nhà rồi mộ chung ngoài thôn
Chỉ cần lật lưỡi cuốc là thấy xương người; vậy mà đó vẫn là một bước tiến.
Văn hóa Ngưỡng Thiều có tục chôn xương cốt trẻ nhỏ quanh nhà, một tàn dư của lối chôn còn cổ hơn cả mộ chung thời thị tộc. Người Nộ đến nay trong một số hộ giàu vẫn chôn người chết quanh chỗ ở. Họ truyền cho nhau rằng làm thế để hồn người khuất giữ nhà, phù hộ con cháu. Lâu ngày, quanh nhà đâu đâu cũng có hài cốt, lật lưỡi cuốc là gặp xương người, hoàn toàn không hợp vệ sinh và sức khỏe. Dẫu vậy, so với cảnh mộ chung của thời xã hội thị tộc, đó vẫn là một bước tiến lớn.
Tư liệu khảo cổ và dân tộc học nói cùng một điều: mộ thường được đặt ngoài nơi thị tộc sinh sống, hoặc trong rừng cây. Các bộ lạc sống ở núi đặt mộ chung dưới chân núi, xa thôn bản. Các thị tộc ở sông Tần Hà đặt mộ chung của cả thôn ở hạ lưu. Bố trí này rõ ràng nhằm tránh mầm bệnh từ người chết lây sang người sống.
Người Hán cổ thì đi từ chôn trong huyệt đất đến mộ thất trong động, từ mộ đất sang mộ gạch, từ chôn không quan tài đến có quan tài. Nhìn từ góc độ vệ sinh, mỗi bước ấy đều giúp ngăn bệnh tật lây lan và hạn chế ô nhiễm.
Hỏa táng của dân du mục, thủy táng của cao nguyên
Nơi nào người ta không ở yên một chỗ, cách tiễn người thân cũng phải gọn và sạch.
Các dân tộc chăn nuôi du mục trên thảo nguyên từ xưa phần nhiều dùng hỏa táng, và tục ấy gắn rất chặt với chuyện giữ vệ sinh. Đời sống của họ có hai nét: luôn di chuyển, và sống bằng chăn nuôi. Vì thường xuyên dời chỗ nên họ không quan tâm đến vệ sinh nơi ở như dân định cư. Hỏa táng là một trong những cách chôn sạch nhất, phòng bệnh truyền nhiễm rất hiệu quả, và với dân du mục thì cực kỳ quan trọng. Bất kể tộc người nào, chi hệ nào, hễ quen hỏa táng thì nhìn chung đã giải quyết tốt bài toán mai táng và vệ sinh trên thảo nguyên.
Một dân tộc xưa ở cao nguyên Tây Tạng phần nhiều dùng thủy táng, cũng do điều kiện địa lý. Dòng nước nơi đây chảy rất mạnh nên mức ô nhiễm nhỏ hơn nhiều so với vùng đồng bằng. Thêm nữa, cá ăn thi thể người mà người vùng ấy lại không ăn cá, nên thủy táng ở đó là một cách rất hợp vệ sinh.
Người chết bất thường và những lần chôn lại
Cái chết vì dịch, vì sinh nở, vì bạo bệnh luôn bị đối xử khác, và lý do thật thường nằm ở mầm bệnh.
Các dân tộc Trung Quốc thường có cách xử lý riêng cho người chết bất thường: bị giết, mắc bệnh dữ, phụ nữ chết khi sinh khó, tự sát và những cái chết tương tự. Dân tộc nào chuộng thổ táng thì hay hỏa thiêu những người này.
Người Băng Long ở Vân Nam sau khi hỏa táng còn lấy phần xương sót lại cho vào nước rửa sạch rồi mới bỏ vào tiểu mà chôn. Người ta thường hiểu đó là cách tẩy ô uế và xua nỗi sợ vong hồn, nhưng trên thực tế nó còn chống truyền nhiễm và phòng ngộ độc.
Người Choang ở Quảng Tây thực hiện "tam thiên tam táng" cho người chết bất thường. Lời giải thích quen thuộc là phải vậy hồn mới về đoàn tụ với tổ tiên. Nhưng chức năng thật là qua nhiều lần chôn lại, đất hút hết mầm bệnh còn sót sau khi hỏa thiêu.
Người Thái Nhã ở Đài Loan chôn người chết bình thường trong nhà, dưới chân giường, còn người chết bất thường thì chôn ngay chỗ tìm thấy. Nếu một phụ nữ chết trong phòng vì sinh khó thì cả nhà bỏ căn nhà ấy, dựng nhà mới, rõ ràng để tránh ô nhiễm. Người Dao cũng chôn riêng những người chết bất thường; với người chết vì dịch bệnh, thi thể sau khi hỏa thiêu còn được mang đến một nơi cách thôn thật xa mới chôn.
Người Thủy ở Quý Châu, khi người già mất thì múc nước giếng đun sôi để rửa thi thể, rồi đổ nước rửa ở nơi không ai qua lại, kẻo ai dẫm phải sẽ nứt gót chân. Người Tạng miền tây Tứ Xuyên có lệ: nhà có người chết thì trong một tháng không được sang sơn trang hay nhà khác; nếu cả thôn có người mất thì sau khi chôn, người trong thôn sáu bảy ngày không được sang thôn khác. Thời y dược còn lạc hậu, lệ ấy giúp chặn dịch lan. Hẳn là người dân đã phải trả bằng máu cho những trải nghiệm ấy, tập tục mới dần thành hình.
Giữ sạch nơi ở là việc của cả cộng đồng
Vệ sinh là điều kiện đầu tiên để còn có người sống mà lo chuyện tiễn đưa.
Chú ý vệ sinh trong lúc mai táng là điều kiện tiên quyết cho sự sinh tồn của con người, và là yêu cầu tất yếu của sự phát triển xã hội. Trong văn hóa truyền thống Trung Quốc, vì việc chôn cất đã tính đến vệ sinh nên nó không chỉ là chôn lấp người chết. Nó còn là một hoạt động xã hội được mọi người cùng tham gia, và nhờ thế chức năng xã hội của nó mới được phát huy đầy đủ.
Nguồn: Thái Luân Thi, Mộ Táng Phong Thủy Toàn Thư.
