Bài tổng quan
Vườn Đại Quan đổi sắc và những cái tình lặng lẽ
Đêm trung thu, một viên đá nhỏ ném xuống ao làm vầng trăng vỡ rồi liền lại, và một con hạc trắng vụt bay lên. Ít lâu sau, cũng khu vườn ấy chỉ còn tiếng gió lắc cắc trên cành và cánh cổng khép hờ. Giữa hai cảnh tượng là cả một gia tộc đang đi xuống…
Cảnh chỉ đáng tả khi nó gắn với số phận người
Dùng cảnh để phản ánh chủ đề là kỹ xảo quan trọng của Hồng lâu mộng. Truyện tả cảnh không nhiều, nhưng ý cảnh rõ nét, nắm chắc bối cảnh điển hình để tôn chủ đề lên. Bất cứ cảnh vật nào cũng phải kết hợp với tính cách, kịch tính, số phận nhân vật; nếu không, nó thành cây không gốc, nước không nguồn, chẳng có sức hấp dẫn.
Vườn Đại Quan là bối cảnh lớn điển hình nhất. Đó là vũ đài chủ yếu cho những hoạt động nhộn nhịp của nhân vật; sự hưng suy của vườn làm nổi lên sự hưng vong của Giả phủ và sự suy vong của xã hội phong kiến ở thời kỳ cuối.
Vườn Đại Quan: từ cực thịnh đến hoang tàn
Cùng một khu vườn, hôm trước đèn đuốc rực trời, hôm sau chỉ còn tiếng gió lùa qua cửa khép hờ.
Hồi thứ 17 đề câu đối trong vườn để thử tài và hồi thứ 18 Giả Nguyên Xuân thăm nhà mừng tết Nguyên Tiêu là cảnh tưng bừng của vườn Đại Quan, cũng là thời kỳ cực thịnh của Giả phủ, đúng khí thế "ngọc trắng làm nhà, vàng làm ngựa". Mọi người đi ra, không mấy chốc đã thấy gác tía nguy nga, lầu son cao ngất, nhà cửa san sát, đường đi quanh co, tùng xanh chạm mái, ngọc lan quanh thềm, mặt thú đầu ly sơn vàng sáng nhoáng. Giả Chính nói: đây là chính điện, nhưng xa hoa quá.
Rồi thuyền đến bờ ghé lại, Giả phi lên xe, thấy cung điện nguy nga. Bức hoành trên cổng đá viết bốn chữ lớn "Thiên tiên bao cảnh"; Giả phi sai đổi là "Tỉnh thân biệt thự" rồi bước vào hành cung. Nơi đây đèn đuốc rực trời, hương thơm ngát đất, cửa vàng cột ngọc, rèm cuốn bằng móc râu tôm, đệm rải bằng da rái cá, đỉnh toả mùi hương xạ, tường treo quạt đuôi trĩ. Thật đúng là:
Chốn thần tiên cửa vàng lều ngọc,
Nhà hoàng phi đền quế cung lan.
Đến hồi thứ 74, "Quá nghe đèm hót, khám xét vườn Đại Quan", câu nói của Thám Xuân "con sâu trăm chân, chết cũng không ngã" tượng trưng cho việc vườn Đại Quan đã cực thịnh thì tất phải suy vong. Nhất là hồi thứ 76, mượn cảnh để tả tình, ám chỉ xu thế Giả phủ từ thịnh chuyển sang suy. Trung thu, Giả Mẫu đặt tiệc thưởng trăng; bỗng nghe dưới cây quế bên cạnh tường có tiếng sáo đưa lại, réo rắt véo von. Lúc sau tiếng sáo thổi dưới bóng hoa quế lại vắng đi, buồn rầu hơn trước, mọi người đều ngồi im lặng. Đêm khuya trăng sáng, mọi người càng xúc động; Giả Mẫu tuổi cao, bất giác rơi lệ lã chã.
Hồi thứ 101, "Vườn Đại Quan đêm trăng rợn hồn ma", vườn đã là cảnh hoang tàn. Phượng Thư cùng Phong Nhi đến trước cửa vườn; cửa chưa đóng, chỉ khép hờ. Hai người vừa đẩy cửa đi vào, thấy bóng trắng trong vườn sáng lờ mờ, bóng cây che khắp mặt đất, im bặt tiếng người, cảnh rất thê lương tịch mịch. Hai người vừa muốn đi theo con đường dẫn đến Thu Sảng Trai thì bỗng có tiếng gió vi vút thổi qua, lá cây trên cành rơi xuống, cả vườn nổi lên một tiếng lắc cắc; trên cành cây có tiếng sột soạt, làm chim quạ đậu đó đều giật mình bay lên. Phượng Thư vừa uống rượu, gặp gió, thấy trong mình sởn gai; Phong Nhi đi sau cũng rụt cổ kêu "rét quá".
Sự hoang tàn ấy đánh dấu rõ thế của Giả phủ đã hết, rơi vào cảnh chiều tà. Đoạn tả cảnh vườn Đại Quan biểu hiện rõ khổ công dụng ý của Tào Tuyết Cần.
Ngoại cảnh như vẽ như thơ: đêm trăng bên ao
Một viên đá nhỏ ném xuống nước đủ làm gợn cả vầng trăng, và nghe đâu cũng làm gợn cả lòng người.
Ngoại cảnh trong truyện không nhiều nhưng rất đặc sắc, nhất là trong tĩnh có động, trong thực có hư. Điển hình nhất phải nói là cảnh thưởng trăng trung thu. Đêm ấy Giả Mẫu bày tiệc, Đại Ngọc và Tương Vân rời bàn tiệc, tản bộ trong vườn rồi ngồi xuống hai chiếc ghế tre. Họ thấy:
Một vầng trăng tỏ trên trời, một bóng trăng long lanh đầy nước; trên dưới đua sáng, như đặt mình trong cung thuỷ tinh nhà Giao Long. Gió nhẹ lướt qua, sóng biếc lăn tăn gợn trên mặt nước, khiến người ta khoan khoái nhẹ nhàng.
Còn tuyệt diệu ở câu sau: Tương Vân cúi nhặt một hòn đá nhỏ ném xuống ao. Nghe "tõm" một tiếng, hiện ra một vòng tròn lớn làm gợn bóng trăng, cứ tan tan hợp hợp đến mấy lần. Rồi trong bóng đen "soạt" một cái, một con hạc trắng bay lên, thẳng tới Ngẫu Hương tạ.
Một cảnh sắc tràn đầy ý vẽ tình thơ, hai người bất giác ngâm lại hai câu:
Áo lạnh bóng hạc bay,
Trăng hàn hồn thơ tận.
Thật là trong tranh có thơ, trong thơ có tranh, cảnh như vẽ như thơ; đó cũng là tuyệt cú của Hồng lâu mộng.
Nội cảnh tả ý: căn phòng nói thay chủ nhân
Nhìn một chiếc giường, một bức tranh trên tường, ta có thể đoán người ở đó đã sống và sẽ chết ra sao.
Khác với Tam quốc diễn nghĩa, Thuỷ hử, Tây sương ký, Hồng lâu mộng là bộ tiểu thuyết lấy chuyện trong gia đình làm tình tiết chủ yếu. Nội dung chính xảy ra trong nhà, nên truyện rất chú ý đến nội cảnh. Tam quốc diễn nghĩa nặng về tả cảnh chiến tranh, Thuỷ hử nhắm vào cảnh núi non, Tây du ký giỏi tả cảnh thần tiên, còn Hồng lâu mộng tả nội cảnh gia đình là sinh động nhất, nhất là khi kết hợp tả cảnh với tính cách nhân vật thì ý càng sâu.
Như đoạn Bảo Ngọc vào buồng Tần Khả Khanh: vừa bước chân vào đã thoảng mùi thơm ngây ngất; Bảo Ngọc thấy mắt dính lại, người nhũn ra, vội nói mùi thơm thích nhỉ. Trong buồng trên tường treo bức hoạ "Hải đường xuân thuỵ" của Đường Bá Hổ, hai bên có đôi câu đối của học sĩ Tần Thái Hư đời Tống:
Lờ mờ giấc mộng hơi xuân lạnh,
Ngào ngạt mùi hương rượu khá nông.
Trên án bày chiếc gương quý của Võ Tắc Thiên đời Đường; một bên bày chiếc mâm vàng Triệu Phi Yến từng đứng múa, trên mâm để quả dưa An Lộc Sơn từng ném vào vú Dương Quý phi. Phía trước kê chiếc giường báu của công chúa Thọ Xương nằm ở điện Hàm Chương, mắc tấm màn Liên Châu công chúa Đồng Xương dệt ra. Bảo Ngọc cười nói ở đây thích quá. Tần thị cười nói: cái buồng này của tôi, dù thần tiên cũng có thể ở được. Nói xong, nàng tự tay mở chiếc chăn lụa mà chính tay Tây Thi đã giặt, đặt sẵn chiếc gối Uyên Ương Hồng Nương từng ôm.
Màn tả cảnh là chính, không nói gì khác, chỉ riêng bức hoạ "Hải đường xuân thuỵ" đã đủ nói bản tính phong tình của nữ chủ nhân, cùng số mệnh của nàng. Chẳng phải trong cảnh có tình, cảnh ẩn trong tình, dùng cảnh tả tình hay sao.
Tả nội thất của Bảo Ngọc: "chỉ thấy tường vách sáng trưng" và khéo ở chỗ "lại không thấy có Bảo Ngọc ở đó". Đúng là nét bút điểm nhãn, muốn ám chỉ nam chủ nhân chán ghét bút mực văn chương, chán học.
Truyện không chỉ dùng nội cảnh để tôn cá tính nhân vật, mà ngoại cảnh cũng tô điểm lẫn nhau, như đoạn tả trong ngoài Hành Vu Uyển nơi Tiết Bảo Thoa ở nhờ: chỉ thấy hương thơm ngào ngạt, các loại kỳ hoa dị thảo trời càng lạnh càng xanh, đều có quả như hạt đậu san hô, cảnh thật đáng yêu. Bước vào phòng trông như động tuyết, không hề thấy một thứ đồ chơi nào; trên bàn có một bình đất cắm dăm bông cúc, hai bộ sách, bộ khay tách trà; trên giường có tấm màn sa xanh, chăn mền cũng rất giản đơn. Cách bài trí thanh nhã đơn giản, nhất là câu "không hề thấy một thứ đồ chơi nào", càng tôn vẻ đoan trang thanh nhã của một thục nữ. Có sự xen lẫn nội ngoại cảnh nên tả ý càng sâu.
Cái tình của Hồng lâu mộng: sóng lớn và gợn lăn tăn
Tình yêu hiện ra trong lời ít khi ồn ào; nó nằm nhiều hơn trong một cái cúi đầu, một đôi mắt đỏ hoe.
Hồng lâu mộng đậm hương vị tình người, từ đầu đến cuối không rời chữ tình. Dù là tình yêu trai gái, tình thân gia đình hay tình bạn bè, đều được tả với những sắc thái riêng. Trước hết, vai chính Giả Bảo Ngọc đúng là loại "thiên hạ đệ nhất tình". Những người chết vì tình, hoặc dính dáng đến tình yêu, cũng hơn chục: Lâm Đại Ngọc, Tần Khả Khanh, Tình Văn, Tư Kỳ, Phan Hựu An, chị hai Vưu, chị ba Vưu, Kim Xuyến, Giả Thuỵ, vợ Bào Nhị…
Là truyện tả tình, nhưng không có những trang phong tình vô độ như "Kim bình mai", càng không có chỗ dâm ô, mà nặng về biến đổi tình tiết: dựa vào sự phát triển biến đổi của tình tiết để làm nổi tình cảm. Đó là cái tình làm nổi cái tình. Tình yêu của Bảo Ngọc và Đại Ngọc, tình hôn nhân của Bảo Thoa, tình sĩ của chị ba Vưu đều dùng những biến đổi mãnh liệt của tình tiết để làm nổi sự phát triển của tình cảm: việc đánh lừa đánh rơi túi, buộc Bảo Ngọc kết hôn, cảnh sau đám cưới Bảo Ngọc và Bảo Thoa, Bảo Ngọc xuất gia, Liễu Tương Liên tức giận đòi kiếm đính ước… đều là những đoạn tả tình đặc sắc.
Nghệ thuật tả tình của Tào Tuyết Cần không chỉ chú ý đến những cơn sóng gió của tình yêu, mà còn để tâm cả những gợn sóng lăn tăn, và tuyệt diệu ở chỗ dưới những đợt tựa gợn sóng ấy lại ẩn những đợt sóng lòng cuồn cuộn: tình yêu hiện ra đa dạng, nhiều sắc màu. Như hồi thứ 8, Đại Ngọc nổi cơn ghen ngấm ngầm khi vào buồng Bảo Ngọc thấy cảnh Bảo Ngọc gần gũi Bảo Thoa, được tả hết sức thi vị.
Mối tình là nội hàm quan trọng của văn học mỹ học. Độ đậm nhạt, kín hở của tình yêu là nội hàm chính của mối tình; mối tình là tình yêu có hương vị tình cảm, gồm truyền tình và trữ tình. Hồng lâu mộng là bộ tiểu thuyết đầy những mối tình, đặc sắc ở chỗ tả mối tình với độ đậm nhạt, kín hở vừa khéo, tràn đầy cảm giác đẹp mông lung và dư vị vô tận.
Như đoạn Bảo Ngọc bị đòn, Đại Ngọc và Bảo Thoa đến thăm, là cách mô tả mối tình khéo vô cùng: một người ngập ngừng muốn nói, e thẹn cúi đầu; một người hai mắt đỏ hoe, mặt đầy nước mắt. Cái tình ở đây nằm trong câm lặng. Tình trong tình mông lung ấy chứng tỏ Tào Tuyết Cần rất khéo miêu tả mặt ẩn mặt hiện của tình yêu.
Lại như đoạn Nguyên phi thăm thân, thật cao siêu xuất thần, nhất là tình thương người thân của Giả Chính: chỉ hai chữ "ngậm ngùi" đã ẩn chứa tình cha con của vị quan phong kiến này, khiến người ta phải ngẫm nghĩ dư vị của nó.
Đoạn Bảo Ngọc thăm Tình Văn bị bệnh cũng tràn đầy cái đẹp mông lung của tình. Bảo Ngọc bảo bà già đứng canh bên ngoài, một mình vén rèm bước vào, thấy Tình Văn nằm ngủ trên chiếc chiếu cói, trong lòng không biết làm thế nào cho phải; cậu chạy đến gần, rơm rớm nước mắt, giơ tay nhẹ nhẹ kéo Tình Văn, gọi hai tiếng. Tình Văn vừa bị cảm gió, lại bị anh chị hắt hủi, đã ốm lại ốm thêm, lo suốt một ngày mới mơ mơ màng màng chợp mắt. Chợt có người gọi, nàng cố mở mắt, thấy Bảo Ngọc đứng đó, vừa mừng vừa sợ, tủi tủi thương thương, nắm chặt lấy tay cậu, nức nở mãi mới nói được: tôi tưởng không được gặp cậu nữa! Rồi nàng lại ho dồn, còn Bảo Ngọc cũng nức nở khóc.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 2 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
