Bài tổng quan
Võ Tắc Thiên và Chu Nguyên Chương, hai người cầm quyền bằng tay sắt
Một người tự ghép hai chữ thành tên riêng của mình, một người đưa cành gai cho con trai và bảo cha nhổ gai cho con. Hai người cùng đi ra từ cửa chùa, cùng ngồi lên ngai vàng, cùng để lại một nước giàu hơn và những vết đen khó xóa…
Mục lục · 7 phần
Cô tài nhân bị đưa vào chùa rồi trở lại cung
Võ Tắc Thiên sinh năm 624, mất năm 705, quê ở Văn Thủy, Sơn Tây. Cha bà là Võ Sĩ Ước, một thương nhân lớn. Năm mười bốn tuổi, nhờ nhan sắc, bà được tuyển vào cung, phong làm Tài nhân của Đường Thái Tông Lý Thế Dân nhưng không được vua sủng ái. Khi Thái Tông ốm nặng, bà đã sớm làm quen với thái tử Lý Trị. Thái Tông mất, các cung phi không con đều phải vào chùa Cảm Nghiệp làm ni cô, bà cũng cạo tóc ở đó. Nhưng bà không chịu số phận, ngồi trong chùa mà chờ thời cơ.
Về sau Lý Trị, tức Cao Tông, tới chùa gặp lại người xưa, đưa bà trở về cung, phong làm Chiêu nghi. Năm 655, Cao Tông phế hoàng hậu họ Vương, lập Võ Chiêu nghi làm hoàng hậu. Vì bà thường xuyên dự bàn triều chính, quần thần gọi bà và Cao Tông là "hai vị thánh".
Từ hoàng hậu đến người tự đặt tên mình là Chiếu
Năm 683, Cao Tông mất, Trung Tông Lý Hiển nối ngôi, nhưng Võ Thiên hậu vẫn lâm triều xưng chế. Năm 684, bà phế Lý Hiển, lập con thứ tư là Lý Đán lên ngôi, tức Duệ Tông. Năm 690, bà phế luôn Duệ Tông, tự xưng Thánh Thần hoàng đế, đổi tên nước thành Chu, tự đặt cho mình cái tên Chiếu, chữ do bà tự ghép từ hai chữ minh và không, rồi chính thức cầm quyền.
Sau khi lên đỉnh quyền lực, bà thanh trừ những người mà bà nghi kỵ, người đầu tiên bị giết là trọng thần Trưởng Tôn Vô Kỵ. Tiếp đó bà trục xuất hoặc giết phe chống đối để củng cố quyền thế, dùng quan lại độc ác tố cáo lẫn nhau, xử nhiều án oan, khiến bầu trời triều đình phủ một màu đen.
Vì sao một người đàn bà ngồi được lên ngai vàng
Trong suốt lịch sử phong kiến mấy nghìn năm, ngai hoàng đế đều do nam giới giữ. Vậy mà Võ Tắc Thiên bất chấp mọi trở ngại để ngồi lên chức vị cao quý ấy. Nguyên do có ba.
Tài hoa hơn người, gan lớn hơn người
Bà không xuất thân từ gia đình quý tộc, nhưng từ nhỏ đã đọc nhiều kinh sử, hiểu việc chính trị, tính nhanh nhẹn, nhiều mưu. Khi còn là Tài nhân, một cô gái xinh đẹp chân yếu tay mềm, bà dám dùng một cây roi ngựa, một quả chùy và một con dao găm sắc để chế phục con ngựa bất kham của Thái Tông. Việc tuy không lớn, nhưng đủ cho thấy trong người bà có khí khái đàn ông. Cao Tông bất tài phải nhờ bà xử lý chính sự, quyền hành ngang hoàng đế. Cũng vì nhanh nhẹn đa mưu, khi Thái Tông ốm nặng bà đã sớm nối quan hệ với thái tử, và khi vào chùa bà vẫn ôn lại tình xưa với Lý Trị để chờ cơ hội vào cung lần nữa.
Tham vọng lớn và thủ đoạn tàn nhẫn
Làm Chiêu nghi rồi muốn làm hoàng hậu, làm hoàng hậu rồi còn muốn ngồi ngai vàng như nam giới, đó là điều thôi thúc bà bằng mọi giá đi đến cùng. Người phi thường có ý nguyện phi thường, nên có hành động phi thường. Để loại bỏ hoàng hậu họ Vương, bà đã tự tay bóp chết con gái do mình sinh ra. Để ngồi được lên ngai vàng, bà ra tay hại hai người con trai ruột. Sau khi đăng quang, bà thanh trừ những kẻ không cùng phe, dùng quan lại độc ác, giết nhiều người vô tội. Nếu không có khát vọng cháy bỏng và những hành động ghê gớm ấy, bà không thể làm hoàng đế.
Hoàng hậu ngu dại, hoàng đế yếu đuối
Khi Võ Tắc Thiên còn ở chùa Cảm Nghiệp, chuyện bà qua lại với Cao Tông bị hoàng hậu phát hiện. Hoàng hậu ngu dại đến mức muốn dùng bà để chế ngự Tiêu phi, không ngờ kết cục ngược lại, vương miện bị chính bà cướp, và cả hoàng hậu lẫn Tiêu phi đều bị hoàng hậu mới hạ. Cao Tông Lý Trị thì yếu đuối đến mức giao triều chính cho Võ Tắc Thiên, chịu để thiên hạ gọi mình và bà là "nhị thánh". Khi Cao Tông hỏi ý trọng thần Lý Tích về việc phế hoàng hậu họ Vương, Tích đáp rằng đó là việc nhà của bệ hạ, hà tất phải hỏi người ngoài.
Con thứ tư của bà là Đường Duệ Tông chỉ là hoàng đế bù nhìn, đã quay lưng với tổ tiên, đích thân dẫn hơn sáu vạn người dâng biểu xin đổi quốc hiệu, nên bà càng có cớ đổi Đường thành Chu. Nếu gặp phải một hoàng đế mạnh tay như Thái Tông, dù bà tham vọng và thủ đoạn đến đâu cũng khó thành đại nghiệp.
Việc bà xưng đế còn để lại ảnh hưởng nặng nề. Từ Hy thái hậu sau này hai lần vén rèm, độc chiếm quyền hành, không thể không nói là chịu ảnh hưởng của bà. Ngay trong nhà bà, con gái là Thái Bình công chúa thao túng em trai Duệ Tông, khống chế cháu là Đường Huyền Tông, ấp ủ mưu loạn. Vi hậu, hoàng hậu của Trung Tông, và con gái là công chúa An Lạc cũng mơ làm nữ hoàng, An Lạc còn xin cha lập mình làm hoàng thái nữ. Họ kết bè kéo cánh làm khuynh đảo triều đình, và sau khi Võ Tắc Thiên mất, loạn kéo dài tám năm.
Cái tài trị nước kế thừa Trinh Quán
Trong mười lăm năm cầm quyền, bà đặt nặng việc nông nghiệp, đề ra phương châm khuyến nông, giảm thuế, đồng thời sát hạch quan chức địa phương. Kinh tế phát triển, dân số tăng từ ba triệu tám trăm nghìn lên sáu triệu một trăm năm mươi nghìn người.
Bà quan tâm giáo dục, mở khoa thi tuyển nhân tài, đích thân làm chủ khảo, qua đó tìm được những người có tài có đức như Diêu Sùng, Trương Cửu Linh. Bà chú trọng chỉnh lý các thư tịch nổi tiếng, chọn học giả biên soạn các bộ như Huyền lãm, Cổ kim điển phạm, Thần quỹ.
Về biên giới, năm 692 bà cử đại tướng Vương Hiếu Kiệt đánh bại quân Thổ Phiên, lấy lại bốn trấn An Tây mà thời Cao Tông để mất, đồng thời tăng cường quản lý vùng phía bắc Thiên Sơn từ đô hộ phủ An Tây đến Bắc Đình. Bà không tham mở thêm bờ cõi, vừa chiếm đất vừa giữ đất, giữ được hòa hảo với láng giềng. Nhờ vậy trong thời bà cầm quyền, trong nước yên mà ngoài biên cũng yên.
Dùng quan lại độc ác để giữ quyền
Để giữ vững chính quyền, bà bố trí tai mắt khắp nơi, dùng quan lại độc ác cho tố cáo lẫn nhau, để triều đình biết nước nhà yên hay nguy. Bà cho phép người tố giác đi thẳng tới cơ quan đầu não trung ương, dọc đường lên kinh được bảo vệ cẩn thận, đồng thời không thương tiếc trấn áp những ai bất đồng chính kiến. Nhiều người vô tội bị giết oan, công thành tội, tội thành công, khiến dân oán ghét, buộc bà phải giết chính những quan lại ác ấy và thay người có đức vào cho dịu tình hình.
Tấm bia mộ không một chữ
Tuy là phụ nữ, Võ Tắc Thiên có thể sánh với các hoàng đế nam về mưu lược chính trị, chính sách kinh tế và cách chọn người hiền, quyết định dứt khoát, đôi khi tàn tay, nhờ vậy xã hội ngày một phồn vinh. Có lẽ bà tự hiểu mình, hoặc nghiêm khắc tự trách mình những năm cuối đời, nên tấm bia mộ của bà dựng sừng sững giữa không gian rộng, đặt song song với bia Đường Thái Tông, lại không ghi một chữ. Trong khi bia mộ Thái Tông khắc chi chít hơn tám nghìn chữ ca ngợi công đức. Có thể đó là sự im lặng nghìn năm, để hậu thế tự bình xét công tội của bà.
Chú tiểu chùa Hoàng Giác rồi cũng lên ngôi
Một cô cung phi cạo tóc trong chùa rồi bước lên ngai vàng. Hơn sáu trăm năm sau, một chú tiểu hành khất cũng đi từ cửa chùa đến chỗ ấy.
Chu Nguyên Chương, sống từ 1328 đến 1398, lập ra nhà Minh, tại vị từ 1368 đến 1398, quê ở Chung Ly, Hào Châu, nay thuộc An Huy. Ông sinh trong một gia đình nông dân nghèo, thuở nhỏ đi chăn trâu cho địa chủ. Cha mẹ mất sớm, ông vào chùa Hoàng Giác làm tăng, rồi làm hòa thượng đi khất thực. Chính những ngày ấy, mỗi ngày ông tiếp xúc với đủ hạng người và tận mắt thấy cảnh tiêu điều của dân dưới ách cuối đời Nguyên.
Năm 1352 ông gia nhập quân khăn đỏ của Quách Tử Hưng, được Quách tin dùng và gả cả con gái. Quách mất, con trưởng của Quách phong ông làm tả phó nguyên soái, và ông đã có lực lượng riêng. Năm 1356, ông đánh Tập Khánh, tức Nam Kinh ngày nay, tự xưng Ngô Quốc công, nghe lời nho sinh Chu Thăng khuyên: xây tường cao, tích lương nhiều, rồi hãy từ từ xưng vương. Ông đổi Tập Khánh thành Ứng Thiên, đặt đại bản doanh ở đây, lo thủy lợi, khôi phục sản xuất, tăng thực lực kinh tế, làm tốt việc chuẩn bị nam chinh bắc chiến. Lần lượt ông dẹp quân của Trần Hữu Lượng, Hàn Lâm Nhi, Trương Sĩ Thành rồi hội quân ở phía bắc. Mùa đông 1367 ông dẫn đại quân đánh phương bắc, rẽ sang Sơn Đông, Hà Bắc. Năm 1368 ông đóng đô ở Nam Kinh, lấy quốc hiệu Minh, niên hiệu Hồng Vũ, cùng năm đó đánh Đại Đô tức Bắc Kinh. Đến năm 1387 ông đánh Tứ Xuyên, Liêu Đông, hoàn toàn thống nhất đất nước.
Cho dân yên để dựng lại giang sơn
Sau chiến tranh kinh tế tiêu điều, đời sống dân cực khổ, nên nhờ noi gương sử xưa, ông thi hành chính sách yên dân: khuyến nông, chia đều ruộng đất, dựng hệ thống thủy lợi, giảm nhẹ thuế. Dân phấn khởi làm ăn, kinh tế hồi phục nhanh. Nghề thủ công cũng theo đó phát triển: trồng dâu nuôi tằm, gai, bông, giảm thuế để kích thích thợ. Không đánh thuế các nghề đóng thuyền, đóng xe, vải vóc tơ lụa, đặt lệ thợ luân phiên để hạn chế độc quyền của các ông chủ, phát hành tiền đồng Hồng Vũ thông bảo và tiền giấy Đại Minh bảo sao, giúp buôn bán trao đổi thuận lợi. Đầu đời Minh, ngoài bông, tơ lụa, đóng tàu, đồ sứ, còn có khai mỏ, luyện kim, giấy, in ấn, vũ khí, kỹ thuật được nâng lên, cả nước có hơn ba mươi thành phố thương nghiệp, dân số từ hơn 53 triệu thời Nguyên lên hơn 60 triệu.
Thu quyền về một mối và những vụ án giết công thần
Để giữ vững quyền thống trị, Chu Nguyên Chương ban một loạt chính sách tàn khốc. Một là điều chỉnh hành chính. Rút kinh nghiệm vụ án thừa tướng Hồ Duy Dung, ông bỏ hẳn chức thừa tướng, lập sáu bộ Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công trực tiếp điều hành chính sự, nhằm không để quyền tập trung vào thừa tướng. Về quân sự, ông bỏ chức đại đô đốc, lập năm đô đốc phủ trung, tả, hữu, tiền, hậu, chỉ lo huấn luyện quân, không có quyền điều quân, việc điều binh khiển tướng thuộc về hoàng đế. Về tư pháp, ông lập ba ty, mỗi ty một việc, khi có án lớn cả ba cùng hội thẩm, quyết định cuối cùng do hoàng đế. Cả ba quyền hành chính, quân sự, pháp luật đều thu về một mối.
Hai là trị lại quan nghiêm minh, trừng phạt tàn khốc. Ông ra quy định phải trị nặng quan tham, dân có thể trực tiếp tố cáo quan tham lên hoàng đế, đồng thời mở khoa thi, tiến cử người hiền. Quan tham bị trừng phạt bằng đủ loại cực hình, kể cả lột da, khiến quan lại lẫn dân đều khiếp sợ.
Ba là giết công thần. Để giữ vững hoàng quyền cho con cháu, ông thi hành kế sách giết công thần. Truyền rằng có lần ông định giết thầy dạy của thái tử, thái tử khóc xin được tha. Ông đưa cho thái tử một cành đầy gai nhọn, thái tử không dám cầm, ông bèn bảo: giết người thầy ấy là cha nhổ gai cho con vậy. Ông sợ những người có công lớn buổi dựng nước sẽ công cao hơn chủ, nên chỉ một mẻ lưới là gom hết. Mượn cớ các vụ án Hồ Duy Dung và đại tướng quân Lam Ngọc mưu phản, ông cho đao phủ từ trung ương xuống địa phương chém hàng vạn người, cả cháu nội cháu ngoại cũng không tha. Ông còn dùng mạng lưới mật vụ giăng khắp nơi, bắt hết toán này đến toán khác, nhiều người vô tội bị hại oan. Hơn mười năm, trời nhà Minh phủ một màu u ám, đứng đầu lịch sử về chuyện giết công thần và để lại ảnh hưởng xấu cho đời sau. Khi ông mất, trong nhà xảy ra cảnh tranh giành ngôi báu, âu cũng là quả báo.
Suốt đời Chu Nguyên Chương là cuộc đời chiến đấu, khó nhọc mới giành được giang sơn, nên hơn ai hết ông hiểu giá trị của nó. Để giữ vững quyền thống trị, ông thi hành những chính sách mà xét khách quan là cần thiết, nhưng việc diễn ra quá đà, giết hại công thần và thần dân vô tội, nên từ một nhân vật được người đời khen, ông trượt dần sang hàng người bị chê. Dù vậy, công thống nhất đất nước, phát triển nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của ông vẫn là mặt tích cực thúc đẩy xã hội về sau.
Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 3, thuật lại có lược bớt.
