Bài tổng quan
Vì sao đạo Phật từ Ấn Độ bám rễ ở Trung Hoa
Ở quê hương Ấn Độ, đạo Phật dần suy yếu, còn sang đất Trung Hoa thì mọc rễ thành một trong ba dòng tư tưởng lớn. Một vị sư già nói rằng một ngày không làm thì một ngày không ăn, và câu ấy đi xa hơn cả ngôi chùa. Điều gì ở đất này đã giữ chân người khách từ xa?
Mục lục · 7 phần
- 01Một hạt giống ngoại quốc gặp đất tốt
- 02Lòng nhân ái: sợi chỉ chung của Dịch, Nho và Phật
- 03Giữ ở giữa và ghét tranh giành
- 04Tinh thần tự cường và nếp tự làm tự ăn của thiền
- 05Thịnh suy của đạo Phật theo từng ngọn gió triều đình
- 06Cái nền đạo đức dung nạp người khách từ xa
- 07Dân tộc yêu kinh điển đón nhận kinh Phật
Một hạt giống ngoại quốc gặp đất tốt
Đạo Phật sinh ra ở Ấn Độ, vậy mà ở chính quê hương, nó dần suy yếu, còn sang đến Trung Hoa thì mọc rễ, tỏa cành, thành một trong ba dòng tư tưởng lớn bên cạnh Nho và Đạo. Điều ấy không phải ngẫu nhiên. Người xưa nhìn lại thấy rằng đạo Phật đã đi vào lòng người Trung Hoa bằng chính những cánh cửa mà Dịch học và Nho gia mở sẵn: lòng thiện, đạo hiếu, tinh thần nhân ái. Từ đó Nho, Đạo, Phật tựa vào nhau, bổ sung cho nhau, cùng trở thành phần quan trọng của nền văn hóa nơi đây.
Chuyện này có một chỗ tưởng như nghịch lý. Đạo Phật nhìn đời là bể khổ, hướng tới xuất thế, trong khi Chu Dịch lại khuyên con người chủ động bước vào đời, làm việc, dựng nghiệp. Hai bên khác nhau như thế mà vẫn gặp nhau, vì nếu thiếu nền Dịch và Nho thì đạo Phật khó có thể Trung Hoa hóa để mà tồn tại. Thêm một điểm khớp nữa: chữ không của nhà Phật rất gần với chữ hư vô của Lão Tử, Trang Tử, nên người đọc Lão Trang dễ hiểu và dễ đón nhận.
Đức Thích Ca cũng được người Trung Hoa nhìn qua lăng kính đạo hiếu. Họ kể rằng ngài xuất gia để cứu giúp chúng sinh, nhưng khi vua cha qua đời, ngài đã trở về túc trực bên linh cữu, và vì thế gọi ngài là bậc đại hiếu tử. Nếu không có cách nhìn ấy, đạo Phật khó mà đứng được trong một xã hội coi hiếu là gốc. Ngược lại, Nho gia cũng học được từ đạo Phật lý luận về tâm và tính, mở ra một vùng tư tưởng mới cho Nho học đời sau. Đạo gia thì học phép thiền định của nhà Phật để làm giàu thêm lối luyện nội đan của mình. Ba nhà cùng thúc đẩy nhau phát triển.
Lòng nhân ái: sợi chỉ chung của Dịch, Nho và Phật
Ba dòng tư tưởng khác gốc nhưng có thể cùng nhìn về một nỗi xót thương đối với người đang khổ.
Chu Dịch đề cao nhân nghĩa ngay từ Thuyết quái truyện: đạo làm người là nhân với nghĩa. Dịch nói người quân tử phải có tấm lòng rộng như trời đất, lấy đức soi sáng bốn phương, lấy đức dày mà chở muôn vật, lấy sự khiêm hư mà nhận người. Dịch cũng nhắc rằng nhà nào chứa điều thiện thì dư phúc, nhà nào chứa điều bất thiện thì dư họa. Ở đây nhân ái đã đi liền với lẽ báo ứng của thiện và ác. Nói gọn lại, Dịch nêu cao tinh thần lợi người: người quân tử phải sống chân thật với mọi người, sẵn lòng xả thân vì người khác, và phải nhớ rằng thiện ác đều có quả báo của nó.
Tích thiện chi gia, tất hữu dư khánh. Tích bất thiện chi gia, tất hữu dư ương.
Nho gia nối tiếp mạch ấy, lấy nhân và thiện làm hạt nhân. Khổng Tử coi nhân là chuẩn mực đạo đức cao nhất. Mạnh Tử nói bản tính nhân ái ai cũng có, nhân, nghĩa, lễ, trí không phải từ ngoài đúc vào mà vốn có sẵn trong ta, và ai cũng có lòng không đành lòng thấy người khác khổ. Đó là cốt lõi của thuyết bản tính vốn thiện.
Đạo Phật nói đại từ đại bi. Nhà Phật lấy nỗi khổ của đời và lòng thương xót làm gốc, nhấn mạnh mọi chúng sinh đều có Phật tính. Tinh thần độ người, lợi người của Đại thừa, tinh thần cứu chúng sinh ra khỏi biển khổ, đã gặp tinh thần nhân nghĩa vốn có của Chu Dịch và Nho gia. Vì vậy người Trung Hoa tiếp nhận đạo Phật khá nhanh.
Giữ ở giữa và ghét tranh giành
Chu Dịch chủ trương âm dương hợp đức, cương nhu giúp nhau, và đề cao chữ trung. Hệ từ viết:
Càn khôn thành liệt, nhi Dịch lập hồ kỳ trung hĩ. Âm dương hợp đức, nhi cương nhu hữu thể.
Khổng Tử dặn quá cũng như không tới, lấy hòa làm quý, và cháu ông là Tử Tư đã nối đạo trung dung ấy. Lão Tử thì nói khí xung hòa, nhún nhường, không tranh. Cả Nho lẫn Đạo, nếu nhìn từ xa, đều quay về một chữ hòa.
Đạo Phật nói không, không sát sinh, giữ giới, cấm điều ác. Nhìn từ góc này, đó cũng là cách sống hòa, không tranh giành. Phật và Bồ Tát vì thế trở thành hình ảnh của lòng từ bi và hòa bình. Trong những thời các triều đại tranh quyền đoạt lợi, chiến tranh liên miên, dân chúng khổ cực, lòng từ bi của Bồ Tát rất hợp với khát vọng của người dân. Đạo Phật nhờ đó đứng vững được nhanh chóng.
Tinh thần tự cường và nếp tự làm tự ăn của thiền
Một vị sư già vẫn cầm cuốc ra vườn, và câu nói của ông còn đi xa hơn cả ngôi chùa.
Trong khi đạo Phật ở Ấn Độ suy tàn thì Thiền tông, tông phái chủ lực của Phật giáo Trung Hoa, lại cực thịnh. Người xưa lý giải rằng đó là vì Thiền chịu ảnh hưởng tinh thần vươn lên không ngừng của Chu Dịch và Nho gia. Dịch dạy người quân tử tự cường không nghỉ, dạy rằng sự sinh sinh chính là Dịch, rằng đức lớn của trời đất là sinh. Chịu thấm điều ấy, Phật giáo Ấn Độ dần dần thành Thiền tông Trung Hoa.
Đời Đường, đời Tống có nhiều văn nhân, nho sinh đến tham thiền, đem tư tưởng Nho vào Phật học. Đến thời Lý học Tống Minh, nhiều nhà tư tưởng lại học lý luận tâm tính của nhà Phật, làm cho hai bên hòa nhập, đạo Phật ngày càng Trung Hoa hóa.
Chính vì thế Thiền tông Trung Hoa coi trọng đời sống ở kiếp này, đề cao tự mình đứng lên bằng sức mình. Dòng Nam thiền lập Bách Trượng thanh quy. Hòa thượng Bách Trượng tuổi cao vẫn giữ lệ riêng của mình, nói rằng một ngày không làm thì một ngày không ăn. Nếp tự làm tự ăn đó thay cho thói quen khất thực, khuyên người ta cần cù tiết kiệm. Người đời ủng hộ việc không dựng chùa miếu đồ sộ mà chỉ dựng thiền đường. Địa vị Thiền tông nhờ vậy ngày một cao, người quy y càng đông. Nếp thực tế tự cung tự cấp ấy được coi là một cuộc đổi mới trong Phật học, đặt nền cho đạo Phật tồn tại lâu dài ở Trung Hoa.
Thịnh suy của đạo Phật theo từng ngọn gió triều đình
Đạo Phật vào Trung Hoa từ thời Hán, cách nay hơn hai nghìn năm, đi qua nhiều lần thăng trầm. Các vua chúa trọng đạo Phật phần nhiều không chỉ vì lòng tôn kính mà vì muốn dùng tôn giáo để thu phục nhân tâm, củng cố quyền cai trị. Bởi vậy đạo Phật cũng như các tôn giáo khác lúc nổi lúc chìm theo thời cuộc.
Đời Đường, triều đình trọng đạo Phật để yên lòng dân. Đường Cao Tông coi trọng đạo Phật. Đường Thái Tông Lý Thế Dân không chống đạo Phật vì các võ tăng chùa Thiếu Lâm từng giúp ông lên ngôi. Võ Tắc Thiên hết lòng ủng hộ vì bà từng có thời đi tu. Đường Huyền Tông lại đặc biệt tôn sùng Mật tông. Nhờ sự tôn sùng của các vua, đạo Phật mới có chỗ đứng ổn định.
Nhưng đời Bắc Ngụy, Thái Vũ Đế lấy cớ nhà chùa không làm ăn sinh lợi mà phá nhiều chùa chiền trong nước, đuổi tăng ni hoàn tục, khiến đạo Phật trải qua một đại nạn. Đời Đường, dù được ba vị vua ưu ái, đạo Phật vẫn gặp bốn lần bị diệt, tục gọi là Tam Vũ nhất Tông. Thần Tú, tổ lập Bắc thiền, và đại đệ tử Phổ Tịch, người được tôn là tổ thứ bảy, cũng gặp tai ương trong loạn An Lộc Sơn. Ngay cả Bồ Đề Đạt Ma, khi mới sang Trung Hoa, cũng chịu cảnh lạnh nhạt của vua, phải xuống phương Nam, đến Thiếu Lâm ngồi quay mặt vào tường chín năm.
Ngược lại, vào lúc chế độ suy tàn, người cầm quyền sa đọa, dân sống khổ cực, nhiều người tìm lối giải thoát nơi cửa Phật, nên đạo Phật đang sa sút lại hưng thịnh trở lại. Đó là lẽ chung: tín ngưỡng tuy siêu thoát, nhưng sự còn mất của nó vẫn gắn với cảnh xã hội.
Cái nền đạo đức dung nạp người khách từ xa
Một dân tộc coi trọng lễ thường mở cửa đón khách trước khi hỏi khách là ai.
Chu Dịch đề cao hậu đức, Nho gia tôn nhân nghĩa, Lão Tử trọng khiêm, hòa, nhẫn, nhượng. Tất cả tạo thành nét đẹp trong đạo đức người Trung Hoa, và đó cũng là một nguyên nhân chính làm cho đạo Phật đứng vững được. Khổng Tử từng nói có bạn từ phương xa đến chơi, còn gì vui hơn. Câu ấy cho thấy người Trung Hoa không phải dân tộc bài ngoại mà là nơi nhiệt tình, hiếu khách, khiêm nhường. Bởi vậy, dù đã có tôn giáo riêng, họ vẫn mở cửa đón đạo Phật.
Trung Hoa vốn có truyền thống lễ giáo do Khổng, Mạnh gìn giữ, nên khi gặp văn hóa ngoại lai thì tiếp bằng lễ. Giữa Nho, Đạo, Phật tuy có lúc đối nghịch, nhưng phần nhiều là do quyền lực chính trị đẩy ra. Nói chung, tuy không thể coi ba đạo là một hẳn như Tô Thức đời Bắc Tống từng chủ trương tam giáo hợp nhất, người ta vẫn có thể nói ba đạo không làm phiền nhau. Chính nét đạo đức đó giúp một tôn giáo ngoại lai có thể ở lại hơn hai nghìn năm.
Dân tộc yêu kinh điển đón nhận kinh Phật
Người Trung Hoa chuộng văn hóa, thích đọc sách, giữ nhiều kinh điển, điều mà ít dân tộc nào sánh được. Các triều vua đều tự hào về kho văn hiến ấy, riêng việc đốt sách chôn học trò của Tần Thủy Hoàng bị coi là vết nhơ ngàn năm. Nho giáo có Tứ thư, Ngũ kinh; Đạo giáo bắt nguồn từ lý luận Chu Dịch, có Lão Tử, Trang Tử cùng vô số đan thư và bộ Chính thống đạo tàng. Mỗi dòng tôn giáo đều có hệ thống tư tưởng và kinh điển trọn vẹn riêng của mình.
Đạo Phật mang tới một kho kinh uyên bác, với Phật tính làm rung động lòng người, nên được người Trung Hoa rất trọng. Việc các giáo so sánh kinh điển với nhau, nói cho khách quan, đã thúc đẩy văn hóa phát triển: Nho học chú trọng chỉnh lý, chú giải kinh điển, còn việc dịch kinh Phật lại thúc đẩy sự ra đời và hội tụ của Đạo tàng. Đường Huyền Trang sau chuyến sang Tây Vực lấy kinh, được triều đình ủng hộ chỉnh lý và chú giải, góp phần phát triển cả Nho học lẫn Phật học. Lý học Tống Minh cũng thấm học thuyết tâm tính của nhà Phật.
Từ thời Nam Bắc triều, qua Đường, Tống, Liêu, Kim, Nguyên, Minh, Thanh, công việc dịch và in kinh Phật đã kéo dài tới tận thời cận đại. Chính nền văn hiến ấy là một lý do nữa để nói: đạo Phật bắt nguồn từ Ấn Độ nhưng nảy nở ở Trung Hoa, giống như một hạt giống tốt gieo trúng mảnh đất phì nhiêu.
Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 4, thuật lại có lược bớt.
