Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Từ Hy cuối đời Thanh và năm nguyên nhân khiến triều đại nào cũng sụp

Đạo Học - Khuyên Thiện03/10/202611 phút đọc3 lượt đọc
Từ Hy cuối đời Thanh và năm nguyên nhân khiến triều đại nào cũng sụp

Bà ngồi sau rèm bốn mươi tám năm, lấy tiền của hải quân dựng vườn chơi, hai lần gây chính biến rồi ký những điều ước khiến cả nước nhục. Nhưng chỉ trách một người thì chưa đủ, vì năm vết nứt cũ vẫn nằm sẵn dưới chân mọi triều đại…


Nữ hoàng không vương miện: bốn lối làm nhà Thanh nát

Từ sau thời Khang Càn thịnh trị, nhà Thanh dần chuyển từ thịnh sang suy. Đến thời Từ Hy, quốc lực và tài lực đều xuống dốc đến mức báo động, đặc biệt là việc ký hai điều ước bất bình đẳng, một nỗi nhục chưa từng có. Đó cũng là lúc xã hội Trung Hoa chuyển sang thế nửa phong kiến, nửa lệ thuộc, thời tồi tệ nhất của chế độ. Nguyên nhân gồm bốn điều.

Cầm quyền hồ đồ, xa hoa

Từ Hy ba lần vén rèm nghe chính sự, lộng quyền suốt bốn mươi tám năm. Trong thì kìm hoàng đế Quang Tự, ngoài thì quỳ gối cầu hòa. Bà là người nắm quyền cao nhất mà không lấy dân làm gốc, không đoái hoài vận nước hưng vong, chỉ lo tranh quyền và hưởng lạc, ngồi lên ngôi như một nữ hoàng không đội vương miện. Bà lấy kinh phí của hải quân để xây Di Hòa Viên làm nơi vui chơi, lại tổ chức lễ mừng thọ sáu mươi tuổi cực kỳ tốn kém. Trong bốn mươi tám năm ấy triều chính mục nát, quan tham hoành hành, kinh tế đình trệ, dân khốn khổ, tiềm ẩn nguy cơ vùng lên.

Ruộng đất tập trung, phu dịch nặng thêm

Từ đầu nhà Thanh đã có chuyện tịch thu ruộng của nông dân, đến thời này càng nặng. Phần lớn ruộng nằm trong tay hoàng tộc, quý tộc, đại địa chủ, người có hàng nghìn mẫu, có người hàng vạn mẫu. Kẻ mạnh cướp ruộng chạy ngang chạy dọc, kẻ yếu chắp tay xin kẻ mạnh, mà người nông dân không có lấy một tấc đất cắm dùi. Mất ruộng, họ phải đi làm thuê cho quý tộc, địa chủ, bị bóc lột nặng nề. Triều đình lại tăng đủ loại thuế đổ lên đầu nông dân, họ đứng lên phản đối, chỗ này lắng thì chỗ khác nổi, làm rung chuyển chế độ.

Hai lần tự gây chính biến

Lần đầu là chính biến Tân Dậu. Để giành quyền, Từ Hy liên kết với Cung thân vương Dịch Hân và hoàng hậu Từ An, loại ba đại thần đứng đầu là Tái Viên, Đoan Hoa và Túc Thuận, rồi gạt luôn Dịch Hân và Từ An, quét sạch mọi cản trở, độc chiếm triều chính.

Lần sau là chính biến Mậu Tuất. Bà cũng muốn đoạt quyền như lần trước, nhưng vì bị Viên Thế Khải báo tin nên kế hoạch hỏng. Từ Hy liền ra tay phế và giam hoàng đế Quang Tự, giết sáu quân tử là Đàm Tự Đồng, Lưu Quang Đệ, Lâm Húc, Dương Nhuệ, Dương Thâm Tú, Khang Quảng Nhân, buộc Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu chạy sang Nhật. Trăm ngày Duy Tân thất bại, hoàng đế bị phế, Từ Hy gỡ rèm, từ ngồi sau rèm huấn chính thành thân chính, và tia sáng le lói cuối cùng của triều đại bị dập tắt.

Nhượng bộ ngoài cửa, đàn áp trong nhà

Trong thời Từ Hy, triều đình ký hai điều ước nhục quốc thể. Ngày 17 tháng 4 năm 1895, Lý Hồng Chương ký điều ước Mã Quan với Nhật Bản, cắt Đài Loan, quần đảo Bành Hồ và bán đảo Liêu Đông cho Nhật, bồi thường chi phí chiến tranh hai trăm triệu lạng bạc, đồng thời cho người Nhật tự do buôn bán, xây xưởng ở các hải cảng. Ngày 7 tháng 9 năm 1901, vẫn Lý Hồng Chương ký điều ước Tân Sửu ở Bắc Kinh với đại diện mười một nước, phải bồi thường một khoản bạc khổng lồ chia trả trong ba mươi chín năm, lấy thuế quan và thuế muối làm vật thế chấp, phá pháo đài Đại Cô, trấn áp phong trào chống ngoại bang, cho phép quân ngoại quốc đóng dọc tuyến đường sắt từ Bắc Kinh tới Sơn Hải Quan và lập khu sứ quán mà người Trung Hoa không được vào. Triều đình đối ngoại thì cúi đầu, đối nội thì đàn áp đẫm máu, nên lòng dân thất vọng, càng đẩy triều Thanh nhanh tới ngày tận.

Năm nguyên nhân khiến triều đại nào cũng suy vong

Lịch sử là chứng nhân khách quan nhất, và chỉ khi lấy sử làm gương thì mới không dẫm vết xe đổ. Xã hội phong kiến Trung Hoa kéo dài, những triều đại loạn và mất nhiều hơn rất nhiều những triều đại thịnh. Phân tích kỹ lưỡng, có thể rút ra năm nguyên nhân.

Vua hồ đồ, chính trị đen tối

Trong chế độ quân chủ chuyên chế, vua sáng suốt hay u mê quyết định thẳng vào vận nước. Nhìn chung buổi dựng nghiệp, vua tôi còn sáng suốt, chịu làm việc, phép nước nghiêm, cần kiệm liêm chính nên nước yên dân thịnh. Nhiều vua từng trải gian khổ, cả đời trên lưng ngựa, ra sống vào chết mới có giang sơn, nên biết giá trị của sáng nghiệp và giỏi phép trị nước. Ngược lại có những vua công thần ngạo mạn, về cuối đời sinh hồ đồ hủ bại, như Đường Huyền Tông chìm trong tửu sắc rồi sinh loạn An Sử. Càn Long vừa là người làm nước giàu mạnh, vừa là người làm nước yếu đi, vì gây chiến liên miên, nhiều lần xuống Giang Nam, quốc khố rỗng, đưa nhà Thanh từ thịnh sang suy.

Có vua kế vị thuở nhỏ phẩm hạnh sáng, đến khi đứng trên muôn người sinh kiêu, xa xỉ, dâm loạn, ngồi vào ngai vàng thì không lo chấn hưng đất nước mà chỉ làm nước yếu đi. Chỉ có ít minh chủ chí khí lẫm liệt, còn phần đông hoặc tham hưởng lạc, hồ đồ bất tài, tự bỏ quyền để làm tay sai, hoặc cự tuyệt lời can của người hiền, ngang ngược độc đoán. Những hôn quân ấy bất chấp sinh kế của dân, sinh ra quan tham vô lại, làm kinh tế xã hội tiêu điều. Cũng có vua trung niên giàu hoài bão, nhưng đến tuổi già thì chí lớn ấy không còn.

Mất ruộng, dân hết kế sinh nhai

Triều đại nào cũng vậy, ruộng đất là bùa hộ mệnh của nông dân, nước lấy dân làm gốc, dân lấy ăn làm trước. Chính sách ruộng đất tốt thì dịu mâu thuẫn, kích thích nông dân, đẩy sản xuất đi lên. Như thời Khang Càn thịnh vượng đã có một số cải cách ruộng đất và thuế phù hợp, kinh tế phồn thịnh, dân số tăng nhanh. Ngược lại, ruộng tập trung vào tay quan phủ, quý tộc, địa chủ, dân mất ruộng lang bạt khắp nơi, sức sản xuất giảm mạnh, đời sống khó khăn.

Sưu thuế và phu dịch quá nặng

Thuế là nguồn thu để bù ngân khố, chi việc chung. Nhưng thuế vượt quá sức dân thì đến đường cùng, quan bức dân phản, xã hội loạn. Nguyên nhân thuế nặng chủ yếu là nhà nước chi quá mức: tham công danh gây chiến tranh, dựng cung điện, vườn thượng uyển, lăng tẩm, thành trì, đê điều. Trong các khoản chi ấy có tích cực có tiêu cực, nhưng cuối mỗi triều phần lớn là tiêu cực, thêm quan tham hoành hành, khiến dân phải chịu thuế chồng thuế, dịch chồng dịch, đói khổ than thấu trời.

Quan lại hủ bại, nha môn đen tối

Mọi triều đại buổi đầu đều nhờ vua lấy mình làm gương, chăm chỉnh đốn quan lại trung ương và địa phương, cử quan đi thị sát tình dân, thưởng phạt phân minh, nên phần lớn quan đều cần mẫn, không dám làm bừa. Đến cuối triều, vua tôi chỉ lo hưởng lạc, bỏ triều chính, còn đâu lòng dạ mà chấn chỉnh quan lại. Vua hồ đồ thì cả triều hủ bại, nhà dột từ nóc dột xuống. Triều cương bất chính, nha môn tối tăm, hình phạt tàn khốc thì dân oán hờn đứng dậy, triều đại ấy không tránh được cảnh mất nước.

Ngờ người hiền, chối lời can, dùng tiểu nhân

Từ xưa tới nay, dùng người đúng hay sai là một trong những điều quyết định hưng vong. Đa phần vua chúa xưa đa nghi, đố kỵ hoặc hung tàn, nên chuyện dùng người thường quyết định thành bại. Vua nào biết chiêu nạp hiền tài thường đưa nước đi lên, còn chỉ dùng gian nịnh thì đưa triều đình đến hủ bại, và bọn tiểu nhân ấy sẽ đào huyệt sẵn cho mình. Hán Cao Tổ sinh ra không có sẵn mệnh thiên tử nhưng giỏi dùng người như Trương Lương, Trần Bình, Tiêu Hà, Hàn Tín nên dựng được cơ đồ. Lưu Bị nếu không ba lần đến lều tranh mời Gia Cát Lượng, kết nghĩa vườn đào với Quan Vũ, Trương Phi, chọn Triệu Vân và các tướng, thì làm sao có thế chân vạc. Ngược lại, Huyền Tông dùng hai kẻ phá nhà là Lý Lâm Phủ và Dương Quốc Trung, kéo Đại Đường từ thịnh xuống suy. Nhà Minh nếu không quá tin Lưu Cẩn, Ngụy Trung Hiền thì đâu đến nỗi suy yếu như thế.

Tóm lại, nguyên nhân cốt lõi khiến bánh xe lịch sử trơn tru hay vấp ngã, sụp đổ, đều nằm ở chính vua và ở chế độ ấy tiến bộ hay lạc hậu. Cùng một chế độ phong kiến mà có lúc thịnh lúc suy, vì lịch sử tuy sinh anh hùng, nhưng làm nên lịch sử lại là con người.

Ba thế kẹt khiến một chế độ tụt lại phía sau

Đóng cửa, chuyên chế và bảo thủ là ba yếu tố chí mạng làm cho xã hội phong kiến Trung Hoa tụt hậu, đồng thời cũng là ba nguyên nhân khiến nó tồn tại khá dài mấy nghìn năm.

Đóng cửa với bên ngoài

Chỉ có thời Đại Đường là mở cửa, các triều còn lại gần như đều đóng chặt. Dân sống sau Vạn Lý Trường Thành, ngày ra đồng, tối về nhà, ít quan tâm tới bên ngoài. Ngay cả buôn bán ven biển cũng bị cấm, ngư dân không được ra khơi, dù biển là nguồn sống của họ. Nhà Minh còn cấm cả việc lập xưởng, khai mỏ, có tỉnh xin khai mỏ đều bị triều đình từ chối. Quan niệm trọng nông ức thương tồn tại mấy nghìn năm khiến xã hội mãi nằm trong vòng nông nghiệp, công thương khó đột phá. Đóng kín kinh tế thì kỹ thuật cũ kỹ, bịt kín văn hóa thì tư tưởng bị cấm đoán, đều là những yếu tố làm xã hội tụt hậu.

Quyền hành dồn về một người

Đặc điểm của chế độ này là quân chủ chuyên chế: hoàng đế có quyền tối cao, dưới trời đều là thần dân của vua, nên khó nói tới dân chủ. Mọi việc nhân dân đều phải nghe theo. Vua anh minh thì nước thịnh, vua dốt thì xã hội suy, khiến chế độ lúc thịnh lúc suy, lúc thống nhất lúc phân liệt, yên nguy không được bảo đảm. Theo thời gian, quyền của vua càng cao, vận mệnh xã hội càng phụ thuộc vào bản thân người ngồi trên ngai. Bao cuộc khởi nghĩa của nông dân nổ ra mà vẫn chưa phá nổi vòng luẩn quẩn này, đủ thấy tính ngoan cố của chế độ. Ruộng nằm trong tay địa chủ, nông dân làm thuê không có đất, nên không có tính chủ động, quan hệ sản xuất lạc hậu cản trở sức sản xuất, nên sự phát triển bị giới hạn.

Bảo thủ và cái giá của người đề cải cách

Trung Hoa rất lâu lấy kinh tế tiểu nông làm chủ yếu, dân quen tập tục ấy, dậm chân tại chỗ, thói cũ ăn sâu vào tiềm thức nên rất khó cải cách. Nhìn lại các cuộc cải cách cổ đại, người đề xướng đều trả giá đắt. Thương Ưởng là người đề xuất cải cách sớm nhất, được Tần Hiếu Công ủng hộ, nước Tần mạnh lên, nhưng chính ông phải chịu hình phạt năm ngựa xé xác. Hán Vũ Đế dùng cải cách của Tang Hoằng Dương, Tây Hán thịnh vượng, mà Tang Hoằng Dương thành con dê bị hầm, phái phản đối nói với vua rằng nấu Hoằng Dương thì trời sẽ mưa. Cải cách tài chính của Vương An Thạch cứu được cảnh quốc khố thiếu của Bắc Tống, nhưng đụng tới lợi ích của quyền quý, bị chống kịch liệt, hai lần bị bãi chức, rốt cuộc bị đuổi khỏi triều. Năm Mậu Tuất, triều Thanh giết sáu quân tử, những người dám đề cải cách chính trị, khiến ai nấy run sợ. Cải cách kinh tế còn bị phái bảo thủ chống phá dữ dội, thì ai dám mạo hiểm đề cải cách chính trị. Thế lực bảo thủ thành lô cốt ngoan cố, lực lượng cách tân khó phá nổi, nên đây là nguyên nhân chủ yếu của tụt hậu.

Tóm lại, buổi đầu chế độ này là tiến bộ, tích cực, thúc đẩy lịch sử. Đến cuối thì nó thành vật cản.

Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 3, thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện