Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Trần Thắng, Lưu Bang và ba bí quyết chung của các bậc minh quân

Đạo Học - Khuyên Thiện03/10/202611 phút đọc2 lượt đọc
Trần Thắng, Lưu Bang và ba bí quyết chung của các bậc minh quân

Một người cày thuê bị mưa giữ chân giữa đường, biết trễ hẹn là bị chém, nên nói với anh em rằng ngồi yên cũng chết. Nửa năm sau ông chết, nhưng một đình trưởng quê Bái đứng sau ông đã học được điều mà nhiều vua không học nổi…


Trần Thắng: nửa năm làm vua của một người cày thuê

Trần Thắng sống vào cuối đời Tần, mất năm 208 trước Công nguyên, tên chữ là Thiệp, người Dương Thành, nay thuộc Hà Nam. Thuở nhỏ ông đi cày thuê kiếm ăn, bị bóc lột nặng nề. Lớn lên, tận mắt thấy cảnh tàn bạo của nhà Tần, ông sớm ôm quyết tâm một ngày nào đó sẽ lật đổ ách đen tối ấy, và thường nói ý nghĩ ấy với bạn cùng cảnh khi đang cày ruộng.

Tháng bảy năm 209 trước Công nguyên, Trần Thắng và Ngô Quảng cùng một toán nông dân bị triều đình trưng dụng đi trấn giữ Ngư Dương. Giữa đường gặp mưa lớn, họ kẹt lại ở xã Đại Trạch, không thể đến nơi đúng hẹn. Theo luật nhà Tần, trễ hạn là bị chém. Trần Thắng nói ngồi yên cũng chết, Ngô Quảng nói đằng nào cũng chết thì hãy chết cho một việc lớn. Họ gọi mọi người lại, nói rằng:

"Chúng ta gặp mưa nên đến trễ, trễ thì phải chém đầu. Dù không bị chém thì ra trấn biên cũng chết sáu bảy phần mười. Đã là tráng sĩ, nếu chết thì phải chết cho tiếng thơm còn lại. Bọn vương hầu quyền quý kia, chẳng lẽ là do trời sinh ra hay sao?"

Mọi người nhất loạt hô to xin theo. Họ lấy gậy gộc làm vũ khí, xé áo làm cờ, lập đàn tuyên thệ, giết hai viên quân úy tế cờ, hô khẩu hiệu "Đại Sở hưng, Trần Thắng vương". Hàng vạn nông dân kéo đến hưởng ứng.

Nghĩa quân công thành phá ấp, trừ quan tham, mở kho thóc cứu dân nghèo, được dân ủng hộ. Họ chiếm huyện Kỳ, rồi đánh về phía tây vào huyện Trần, quân lên đến hàng vạn người. Tại Trần, Trần Thắng và Ngô Quảng họp các bậc bô lão, hào kiệt, lập chính quyền, suy tôn Trần Thắng làm vương, quốc hiệu Trương Sở, mục tiêu là trừ bạo Tần, khôi phục nước Sở. Huyện Trần trở thành trung tâm chống Tần, tiếng tăm vang khắp thiên hạ. Lưu Bang ở huyện Bái dấy cờ hưởng ứng, Hạng Vũ cũng dấy binh.

Nhưng chính nội bộ đã làm hỏng việc. Trần Thắng chia quân làm bốn đạo tiến đánh, song trong hàng ngũ có một số võ quan quý tộc trà trộn rồi tự xưng vương, không chịu theo chỉ huy chung. Ngô Quảng bị phó tướng giết. Chu Văn đánh Hàm Dương, không có viện binh, bị quân của Hồ Hợi phản công đại bại và tự sát. Hồ Hợi sai đại tướng Chương Hàm dẹp xong Chu Văn rồi bao vây trung tâm ở huyện Trần. Trần Thắng vẫn chỉ huy chiến đấu, phá vòng vây thoát ra, cuối cùng bị người đánh xe là Trang Giả giết ngoài thành. Từ lúc dấy binh đến lúc bị giết vừa tròn nửa năm. Hai người đứng đầu như một mảnh sao băng rơi xuống đất, thành tia sáng chói xé màn đêm cuối đời Tần.

Cuộc khởi nghĩa thất bại nhưng là tiếng chuông báo đã nghe thấy từ vương triều Tần, tạo tiền lệ và điều kiện cho Lưu Bang đứng lên. Về sau, từ khởi nghĩa Khăn Vàng của Trương Giác cuối Đông Hán, đến Hoàng Sào cuối Đường, Phương Lạp và Tống Giang cuối Bắc Tống, Lý Tự Thành cuối Minh, rồi phong trào Thái Bình Thiên Quốc của Hồng Tú Toàn đời Thanh, quy mô lớn nhỏ khác nhau nhưng tất cả đều là những đòn giáng vào vương triều mục nát đương thời, bắt nguồn từ tấm gương người cày thuê ở Đại Trạch.

Lưu Bang: vị hoàng đế áo vải đầu tiên

Lưu Bang sống từ năm 256 đến năm 195 trước Công nguyên, tên chữ là Quý, người huyện Bái, quận Tứ Thủy, nay thuộc Giang Tô, làm hoàng đế từ năm 202 đến 195. Ông sinh trong một nhà nông nghèo, từng làm đình trưởng ở Tứ Thủy. Thuở trẻ ông tự coi mình không tầm thường, không câu nệ chuyện nhỏ, rộng lượng, nhân nghĩa nên được mọi người yêu mến. Năm 202, một người thường dân xuất thân từ nhà nông lên ngôi hoàng đế, phá bỏ lệ cha truyền con nối, tuyên cáo với thiên hạ rằng người thường cũng làm được thiên tử, gây chấn động lịch sử Trung Hoa.

Khi cuộc khởi nghĩa của Trần Thắng và Ngô Quảng nổ ra, Lưu Bang được quan chủ lại Tiêu Hà và ngục lại Tào Tham ủng hộ, hưởng ứng việc chống Tần, tự xưng Bái công, nhanh chóng nhập với quân Hạng Lương, rồi cùng Hạng Vũ chống Tần. Năm 206, ông dẫn quân đánh Hàm Dương, lật nhà Tần, vào thành bỏ luật pháp hà khắc, ban ba điều luật mới "giết người đền mạng", được dân Tần ủng hộ. Hạng Vũ sau khi đánh bại quân chủ lực Tần mới vào thành, biết Lưu Bang đã vào trước, nổi giận, đóng ở Hồng Môn định giết ông. Lưu Bang biết thế mình còn yếu, nhờ Trương Lương và Phàn Khoái hộ tống mà thoát chết trong bữa tiệc Hồng Môn. Mưu sĩ Phạm Tăng của Hạng Vũ tuyệt vọng than rằng mưu mình không bằng người, kẻ lấy thiên hạ của Hạng Vũ sẽ là Bái công.

Hạng Vũ sau đó phong mười tám vương, tự xưng Tây Sở Bá Vương, phong Lưu Bang đến Thục, Hán Trung, xưng Hán vương. Lưu Bang theo kế Trương Lương đốt đường sạn đạo, giả bộ chỉ làm vương đất Thục, không trở về nữa, nhưng thực ra bí mật chiêu binh mua ngựa, nạp hiền tài, sắm vũ khí. Khi lực đã mạnh, ông đánh Hạng Vũ, cuộc chiến Hán Sở kéo dài năm năm, Hạng Vũ vì quá kiêu ngạo mà thất bại, nhảy xuống Ô Giang tự vẫn. Năm 202 Lưu Bang xưng đế, dựng nghiệp Đại Hán kéo dài hơn bốn trăm năm.

Cả đời ông chinh chiến, từng trúng tên độc trên lưng ngựa khi dẹp loạn Anh Bố. Thành công của ông ngoài hoài bão lớn là biết chiêu hiền đãi sĩ. Tiêu Hà, Hàn Tín, Trương Lương, Trần Bình đều là những người phò tá đắc lực. Rút bài học từ Trần Thắng, ông phong cho người phò tá chức cao bổng hậu để tránh chia rẽ nội bộ. Ông võ nghệ không cao cường, tài thao lược cũng không sâu, nhưng thắng vì biết dùng người: kế sách ngoài ngàn dặm của Trương Lương, tính toán chắc chắn của Trần Bình, thiên thời địa lợi của Tiêu Hà, phép biến hóa của Tào Tham, trí dũng song toàn của Hàn Tín, nên đánh đâu thắng đó. Lòng dân cũng nghiêng về ông, vì quân ông giữ kỷ luật, còn Hạng Vũ chôn sống hai mươi vạn hàng binh và đốt Hàm Dương.

Nhưng Lưu Bang chỉ đồng hoạn nạn chứ không đồng cam. Để củng cố địa vị, ông giết những công thần đã giúp mình giành giang sơn như Hàn Tín, Bành Việt, còn Trương Lương, Tiêu Hà cũng bị nghi kỵ. Cái chết của Hàn Tín bắt nguồn từ cái ảnh hưởng xấu của Việt vương Câu Tiễn thời Chiến Quốc: thỏ hết thì giết chó săn, chim hết thì cất cung, địch tan thì mưu thần phải chết. Tội giết công thần ấy ảnh hưởng đến đời sau: Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dận sợ cuộc binh biến Trần Kiều lặp lại nên cách chức đại tướng từng giúp mình lên ngôi, Chu Nguyên Chương nhà Minh giết thừa tướng Hồ Duy Dung, đại tướng Lam Ngọc.

Ba bí quyết chung của các bậc minh quân

Dám nghĩ dám làm

Từ Hoàng Đế đến Khang Hy, mấy nghìn năm qua những bậc quân vương kiệt xuất tạo nên thành tựu lớn và để lại ảnh hưởng sâu rộng đều ở chỗ dám nghĩ dám làm. Hoàng Đế là tổ tiên của con cháu Viêm Hoàng, đầu tiên thống nhất đất nước, đầu tiên dẫn dắt bộ lạc may quần áo, đóng thuyền, dựng nhà, sáng tạo chữ viết, định lịch. Chu Công lập ra lễ nhạc, định các chế độ ruộng đất, đặt nền cho luân lý văn minh và văn hóa thư tịch Trung Hoa, tiền thân của nền văn minh hôm nay, và có công đầu cho thời thịnh trị Tây Chu. Tần Thủy Hoàng thống nhất, mở bờ cõi, dựng Vạn Lý Trường Thành. Trần Thắng là người đầu tiên đứng đầu nông dân cầm vũ khí lật ách phong kiến. Lưu Bang từ dân thường trở thành vị hoàng đế vĩ đại. Hán Vũ Đế đề xướng tư tưởng đại nhất thống, tập trung quyền về trung ương, đưa Tây Hán lên đỉnh thịnh. Đường Thái Tông với tài trị nước kiệt xuất lập thời Trinh Quán, đặt nền cho Đại Đường thịnh vượng. Võ Tắc Thiên, nữ hoàng duy nhất, phá nát quan niệm chỉ nam giới tài giỏi mới được làm hoàng đế, kế thừa Trinh Quán rồi đưa Đại Đường nổi tiếng khắp thế giới. Minh Thái Tổ cả đời trên lưng ngựa, dựng nhà Minh thịnh trị hai trăm năm. Khang Hy tại ngôi sáu mươi mốt năm, lập chiến công, xác định bản đồ hiện đại, mở thời Khang Càn.

Trẻ chăm, giữa đời lập công, cuối đời mắc lỗi

Phần lớn các bậc quân vương đều rơi vào quy luật ấy. Tần Thủy Hoàng thuở trẻ mài gươm tập cưỡi ngựa, chém giết khắp nơi, diệt sáu nước, thống nhất Trung Hoa. Trung niên nghe Lý Tư bỏ chế độ phong đất, dựng quận huyện, xây chính quyền trung ương, thống nhất chữ viết, tiền tệ, dựng Vạn Lý Trường Thành, gây dựng bản đồ buổi đầu. Nhưng cuối đời chuyên quyền tàn bạo, sợ chết ham sống, xây cung A Phòng, lăng tẩm lớn. Hán Vũ Đế lên ngôi mười sáu tuổi, tại ngôi năm mươi bốn năm, cả đời hăng say, đưa Tây Hán đến đỉnh cao chưa từng có, nhưng cuối đời ăn chơi xa xỉ, hủ bại, rong chơi hao công quỹ, quấy dân, quốc khố cạn, biến Tây Hán từ thịnh thành suy. Minh Thái Tổ ra sống vào chết mới dựng giang sơn, khôi phục kinh tế nhanh, nhưng vì lo mất giang sơn mà giết công thần không thương tiếc, phủ lên triều Minh một màn tang tóc. Khang Hy thuở trẻ dám làm, đẩy Ngao Bái, dẹp Tam Phiên, nam chinh bắc chiến, cải cách chính trị, có thể nói công lao cái thế. Cuối đời ông đi vào vết xe cũ, sai lầm chọn thái tử, do dự, đa nghi, không tin ai, cuối cùng tuy không có chính biến Huyền Vũ môn nhưng lại diễn ra chính biến Sa Khâu, phòng mà lại không phòng được. Quá lo việc chọn thái tử làm ông hao tinh thần sức lực, không chấn chỉnh được quan trường, quan lại hủ bại, tham ô như nấm độc trỗi dậy. Công và tội của các bậc quân vương đều có chung quy luật ấy: hưng suy an nguy của một nước gắn với những năm cuối của vị vua.

Nghe lời can, chịu cải cách

Biết cải cách, giỏi dùng người, biết nghe lời can của hiền tài là điểm chung của các hoàng đế kiệt xuất. Tần Thủy Hoàng sau khi nghe lời can của Lý Tư thì như bừng tỉnh, không những gọi Lý Tư về làm tể tướng mà còn nghe sách lược tập trung quyền về chính quyền trung ương, củng cố địa vị. Hán Cao Tổ Lưu Bang có chính sách yên dân, tạo điều kiện cho các đời sau sản xuất, khôi phục kinh tế. Hán Vũ Đế nghe Đổng Trọng Thư, đề xướng tư tưởng đại nhất thống. Đường Thái Tông ban nhiều cải cách như chia đều ruộng đất, giảm thuế, giảm tạp dịch, khoan sức dân, đưa Đại Đường vào thịnh trị. Võ Tắc Thiên thực hiện kế khuyến nông, trồng dâu, giảm thuế. Chu Nguyên Chương khuyến nông, thưởng người có công, dựng mạng lưới thủy lợi, mở rộng diện tích canh tác, dân số tăng nhanh. Khang Hy chia ruộng theo đầu đinh, cấm lập trang trại riêng, bỏ chế độ thu thuế theo đầu người, tu bổ đê điều, phòng lũ lụt, bỏ lệnh cấm biển, dựng giai đoạn phú cường Khang Càn. Vị minh quân nào biết nghe can và cải cách thì giành được thắng lợi.

Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 3, thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện