Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Tính thiên địa, tính khí chất và con đường trở về thiên lý

Đạo Học - Khuyên Thiện03/10/202612 phút đọc2 lượt đọc
Tính thiên địa, tính khí chất và con đường trở về thiên lý

Cùng một cơn mưa, mảnh đất này màu mỡ, mảnh đất kia khô cằn; nước thì như nhau, đất mới khác nhau. Một nhà tư tưởng đời Tống dùng hình ảnh ấy để nói về bản tính con người, rồi kêu gọi bỏ bớt dục vọng để trở về lẽ trời. Lời kêu gọi ấy về sau vang suốt bảy tám trăm năm…


Đưa đạo đức lên tầm lẽ trời

Các nhà triết học thời Tống Minh có một đặc điểm: họ không để triết học nằm ở tầng tư tưởng trên cao mà luôn đưa nó vào xã hội, nhất là gắn với luân lý một cách triệt để. Họ luôn nối luân lý với triết học, từ những phạm trù triết học tìm ra cơ sở lập luận cho luân lý. Dùng bản thể của vũ trụ để chứng minh cho đạo đức luân lý là đặc điểm quan trọng của lý học Tống Minh. Trương Tái là người đầu tiên đi theo hướng ấy, và ông bắt đầu từ Chu Dịch, nơi viết rằng đạo dựng trời là âm và dương, đạo dựng đất là nhu và cương, đạo dựng người là nhân và nghĩa.

Nghĩa là đạo trời và đạo đất sau một hồi tìm kiếm cũng trở về đạo người. Đạo trời bắt nguồn từ âm dương, đạo đất bắt đầu từ nhu cương, vậy đạo người phải khởi lên từ nhân nghĩa. Trên cơ sở đó, Trương Tái đem luận điểm khí làm gốc vào đạo đức luân lý, biến nó thành căn cứ lập luận cho luân lý, phát triển cái nhìn về luân lý của Chu Dịch. Quan điểm luân lý của ông một mặt nhấn mạnh coi trọng đạo đức của con người, một mặt cũng mang tính giữ gìn trật tự cũ. Ông là người đầu tiên trong các nhà triết học Tống Minh dùng bản thể của vũ trụ để giữ cho trật tự trên dưới và ba giềng năm hằng có chỗ đứng vững.

Tính của trời đất và tính do khí chất

Cùng một cơn mưa, mảnh đất này màu mỡ, mảnh đất kia khô cằn; nước thì như nhau, đất mới khác nhau.

Về bản tính thiện ác của con người, từ xưa Khổng Tử đã nói: tính thì gần nhau, tập thì xa nhau. Nghĩa là bản tính con người vốn khác nhau không nhiều, chủ yếu do ảnh hưởng về sau mà mỗi người mỗi khác. Mạnh Tử cho rằng người vốn thiện. Trung Dung viết: "mệnh trời gọi là tính". Tuân Tử thì cho rằng tính vốn ác. Trương Tái đồng ý với Mạnh Tử rằng thiên tính của con người vốn thiện, và ông gọi đó là "tính của trời đất", do trời cho, ai cũng như ai. Còn "tính khí chất" là cá tính của mỗi người, do mỗi người nhận được một phần khí nghiêng lệch. Ông nói:

Người nhận ở trời thì là tính, hình hài nhờ đó mà đủ đầy; khí thì nghiêng về một phía, đạo thì giống nhau, lý thì khác nhau.

Ông nói khi chưa thành tính thì có lúc bộc phát, và chưa thành tính thì thiện ác lẫn lộn. Cho nên muốn nuôi cái thiện, ngăn cái ác thì phải "thành minh", tức là "hết tính cùng lý". Mục đích của việc làm cho mình sáng tỏ và thành thật là học được cái thiện của lẽ trời rồi thực hiện nó. Người tự sáng tỏ thành thật thì trước hết phải cùng lý rồi mới hết tính; nên ông nói trước hết phải theo con đường học vấn mà lĩnh hội, rồi mới dần đạt đến cảnh giới của thiên tính. Quan điểm về tính khí cũng dựng vì luân lý. Theo ông, sở dĩ tính khí mỗi người không giống nhau là vì phần khí nhận được có chênh lệch, nên mới có người thiện kẻ ác, người chăm kẻ lười, người giàu kẻ nghèo. Cách nghĩ ấy sau được Trình Di và Chu Hy hưởng ứng.

Bỏ dục của người để trở về lẽ trời

Mặt hồ chỉ phản chiếu bầu trời khi gió thôi lay; lòng người cũng vậy, phải lặng bớt mới thấy được điều sâu nhất.

Trương Tái rất kính trọng Chu Dịch. Quan điểm "cùng lý, hết tính, để đến mệnh" của ông cũng có nguồn gốc từ Chu Dịch. Ông nói tính mà tận hết cái đạo của nó thì mệnh trở về với cội nguồn của nó, và nhấn mạnh lễ nghĩa là đạo trời, là bản tính trời cho mỗi người. Ngoài bản năng ăn mặc, người ta còn có bản tính lễ nghĩa, nếu không thì không thể gọi là "đến mệnh". Ông viết:

Âm dương, cương nhu, nhân nghĩa được gọi là lý của tính mệnh. Dịch chỉ có một mà đủ ba ngôi: khí âm dương gọi là trời, chất cương nhu gọi là đất, đức nhân nghĩa gọi là người.

Ông còn đem hai khái niệm "thiên lý" và "nhân dục" trong Lễ ký, thiên Nhạc ký, dùng cho luân lý. Thiên Nhạc ký viết rằng con người sinh ra vốn tĩnh, đó là tính của trời; cảm với vật mà động, đó là dục của tính. Vật đến mãi, sau đó yêu ghét hiện ra; yêu ghét không tiết chế ở bên trong, trí dục lộ ra bên ngoài, thì không thể quay lại với lẽ trời của mình. Vật cảm người vô cùng mà yêu ghét của người không tiết chế, thì vật đến người sẽ bị vật hóa; người bị vật hóa là diệt mất thiên lý mà cùng tột nhân dục. Trương Tái rất tán thành cách phân tích ấy, rằng sở dĩ người ta yêu ghét vô độ là vì "diệt thiên lý mà cùng nhân dục". Do đó ông nêu ý phải "bỏ nhân dục, trọn thiên lý" và "bỏ nhân dục, trở về thiên lý". Ông nói người thời nay diệt mất thiên lý mà cùng tột nhân dục, nay cần phải trở về với lẽ trời của mình; học giả xưa dễ dựng được thiên lý, sau Khổng Mạnh cái tâm ấy thất truyền, đến Tuân Tử và Dương Chu cũng không biết.

Ông đưa đạo đức luân lý lên địa vị lẽ trời, nhấn mạnh mâu thuẫn giữa nhân dục và thiên lý, kêu gọi con người biết từ bỏ dục vọng để thực hiện thiên lý. Quan điểm ấy ảnh hưởng vô cùng lớn đến đạo đức luân lý các triều Tống, Minh, Thanh. Trình Di, Chu Hy hết sức sùng bái tư tưởng của ông, nâng nó lên tầm lẽ trời, và ảnh hưởng ấy trải dài suốt bảy tám trăm năm.

Lòng nhân thương người và ý cải cách ruộng đất

Có người đọc kinh rất nhiều mà tay không chạm tới mảnh ruộng của người nông dân; ông thì nghĩ đến mảnh ruộng ấy.

Trương Tái suốt một đời dốc lòng nghiên cứu Chu Dịch và Nho gia, nên quan điểm chính trị của ông rất gắn với hai nguồn ấy. Dưới ảnh hưởng của thuyết "vua ra vua" của Nho gia, ông đưa ra ý quyền vua là do thần trao, và ý ấy ảnh hưởng nhất định đến quan điểm về thiên lý và tôn vua của các nhà lý học sau. Dưới ảnh hưởng truyền thống nhân, nghĩa, trung, hiếu của Nho gia, ông nhấn mạnh lòng nhân ái, ghi trong Chính Mông: yêu thì phải yêu khắp, nhân nghĩa là đức của trời; người nhân người hiếu sở dĩ thờ trời để thành thân mình cũng chẳng vượt ra ngoài nhân hiếu.

Dưới ảnh hưởng của tư tưởng biến dịch, chủ trương chính trị của ông cũng có yếu tố biến đổi. Ở lời chú về "cùng thì biến, biến thì thông, thông thì bền", ông viết: thông được cái biến, rồi sau mới lâu bền, nên giữ yên một chỗ thì loạn. Ông chủ trương cải cách chính trị, đưa ra "chế độ tỉnh điền", đề nghị cải cách ruộng đất, chủ trương phân phong, đặt tiền đề cho tư tưởng chia ruộng đều. Tư tưởng ấy ảnh hưởng nhất định đến Chu Hy và Vương Phu Chi, tuy cũng còn bị hạn chế vì không vượt ra khỏi khuôn khổ của thời mình. Ông nói trị thiên hạ không phải chỉ bằng chuyện đất đai, vườn ruộng; và làm lợi cho dân mới gọi là lợi, lợi cho thân mình, lợi cho nước mình đều chẳng phải lợi. Những điều ấy cho thấy tư tưởng chính trị của ông vẫn thuộc về đường lối đức trị, nhân chính của Nho gia, và có ảnh hưởng nhất định đến chính kiến của Vương Phu Chi.

Cống hiến cho Dịch học: nhìn Chu Dịch trở lại với diện mạo cũ

Có những người không viết lại một cuốn kinh, mà chỉ lau sạch lớp bụi đã phủ lên nó nhiều thế kỷ.

Vương Phu Chi từng nói: học thuyết của Trương Tái không thể tách khỏi Dịch. Đóng góp của Trương Tái cho Dịch học và triết học Trung Hoa vô cùng to lớn. Ông tinh thông Dịch lý, soạn Chính Mông, Hoành Cừ dịch thuyết, Kinh học lý quật, nay đã được nhà xuất bản Trung Hoa thư cục đưa vào bộ Trương Tái toàn tập, có ý nghĩa quan trọng với sự phát triển của Dịch học. Nhất là việc ông phát triển bản thể luận khí trên nền Dịch học, mang ý nghĩa vượt thời đại. Ông gạt bỏ cái nhìn lấy "không" làm gốc của đạo Phật và đạo Lão, khôi phục diện mạo vốn có của Dịch học, đưa nó đi trên con đường chính đạo. Đóng góp lớn nhất của ông cho Dịch học là trên nền luận điểm khí hỗn mang của Dịch học, ông xây dựng nên một hệ thống luận điểm khí làm gốc hoàn chỉnh và chính xác. Trình độ Dịch học của ông rất cao: qua việc chú thích Chu Dịch, ông phát huy cái nhìn độc đáo của riêng mình, phát triển Dịch học theo hướng rất sáng tạo, và Vương Phu Chi từng ca ngợi ông hết lời.

Ông nêu rõ bản thể là vấn đề gốc rễ của vũ trụ. Bản thể trong Lão Tử là "đạo", quan niệm hư vô và "duy thức" của đạo Phật cũng là một cách trả lời khác. Bản thể trong Chu Dịch là "khí hỗn mang", trạng thái vật chất sớm nhất của vũ trụ, tiền thân của nguyên khí âm dương, cũng là kết quả giao hòa của khí âm dương. Bản thể luận của Trương Tái chịu ảnh hưởng Chu Dịch, cho rằng bản thể của vũ trụ là "đạo", là sự chuyển động âm dương. Ông bỏ qua những cái nhìn xem "không" là gốc của Phật giáo và Đạo giáo, kiên trì phát huy quan điểm của Chu Dịch, dựng luận điểm khí làm gốc xuất sắc trên nền khí hỗn mang, gạt bỏ trở ngại của cái nhìn hư vô thời Ngụy Tấn, xoay lại những bước đi theo lối cho rằng điều biết được có sẵn từ trước của Dịch học và triết học đời Tống.

Ngọn nguồn của lý học và của Nho học mới

Một hạt giống ông gieo xuống đã nảy thành cả khu rừng mà ông chưa kịp thấy.

Trương Tái là người đi đầu trong lý học Tống Minh. Ông đặt nền cho bản thể luận về khí, mở đường cho hệ thống bản thể luận vũ trụ của Vương Phu Chi. Ông nêu hai khái niệm "tính của mệnh trời" và "tính khí chất". "Tính của mệnh trời" tượng trưng cho bản tính mà mọi người đều có, là điều thiện mỹ, còn gọi là thiên tính. "Tính khí chất" là cá tính của mỗi người, là đổi thay về sau của mỗi người. Khái niệm "tính của mệnh trời" là tiền đề lý luận cho "thiên lý" của Trình Di và Chu Hy. Hai khái niệm ấy cũng thành tiền thân của quan điểm "lý một mà phân khác" của lý học Tống Minh. Ông cho rằng khí chất chính là biểu hiện của thiên tính nơi mỗi người, từ đó nâng đạo đức luân lý lên thành thiên lý. Hai anh em họ Trình tiến thêm một bước, khẳng định thiên tính chính là thiên lý, là thực thể tinh thần cao nhất; Chu Hy phát triển thiên lý đến mức cao nhất và đưa hệ thống lý học Tống Minh tới chỗ hoàn thiện nhất. Ý "bỏ nhân dục, trở về thiên lý" của ông mở đường cho ý "diệt tư dục, sáng thiên lý" của Trình – Chu, dùng phạm trù cao nhất của triết học để đỡ cho đạo đức luân lý, đưa đạo đức luân lý từ việc gắn với xã hội lên tầm triết lý sâu sắc hơn đạo đức của Nho gia trước đó.

Về Chu Dịch, ảnh hưởng lớn nhất của ông là kịp thời sửa những lời chú thích của Huyền học Ngụy Tấn, phát triển cái nhìn thực chất và tư tưởng biện chứng thô sơ của Dịch. Ông kế thừa ý bản thể khí hỗn mang – tinh khí của Chu Dịch và ý khí nhất nguyên của Vương Sung, trên đó phát triển thành bản thể luận khí. Về biện chứng, ông kế thừa tư tưởng biến dịch của Chu Dịch, các mối biến hóa vận động giữa động tĩnh, cương nhu, rồi sửa lại ảnh hưởng của truyền thống lấy tĩnh làm trung tâm của Huyền học và Lão giáo. Trên cơ sở "một âm một dương gọi là đạo", ông nêu mệnh đề "một vật hai thể", mô tả sự tồn tại của hai mặt đối lập trong một sự vật. Ông nói thái hư là khí, âm dương là một vật mà có hai thể.

Dưới đời Hán, Nho học chiếm vị trí độc tôn, là quốc học. Về sau Huyền học đời Ngụy Tấn và Phật học đời Tùy Đường nổi lên, vị trí độc tôn của Nho học bị đe dọa. Khi Trương Tái nêu thuyết "tính của mệnh trời" và "thiên lý", khởi xướng luân lý Nho học, ông đã đưa ra căn cứ lý luận cho đạo đức Nho học, nâng giá trị luân lý Nho gia lên tầm cao mới. Đây cũng là đặc điểm của Nho học mới thời Tống Minh. Sự ra đời của Nho học mới gắn liền với những khái niệm ban đầu của ông, đủ thấy ý nghĩa mở đầu của ông. Tóm lại, nhà tư tưởng nổi tiếng đời Tống ấy là người nối tiếp Vương Sung trong việc nhìn khí làm gốc của vũ trụ; ông không chỉ mở ra một lĩnh vực mới cho Tống Minh mà còn xoay cả hướng đi của triết học Trung Hoa.

Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 2 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện