Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Thượng Thư dạy người cầm quyền chuộng đức, quý dân và giữ lễ

Đạo Học - Khuyên Thiện03/10/202610 phút đọc2 lượt đọc
Thượng Thư dạy người cầm quyền chuộng đức, quý dân và giữ lễ

Một vị vua vừa lên ngôi đã nghe dặn: trước khi thỏa ý mình, hãy biết nỗi khổ của người đi cày. Lời nhắc ấy nằm trong bộ sử cổ chép lời vua, lời bề tôi và lời thề của các triều đại thượng cổ. Chuyện những ông vua ở ngôi năm mươi năm, và những ông chỉ giữ được ba bốn năm, bắt đầu từ chính nỗi khổ ấy…


Thượng Thư là cổ tịch quý báu của Trung Quốc, kinh điển trọng yếu của Nho giáo, đồng thời là bộ văn thư chính trị chính thức của xã hội phong kiến. Các bậc vua tôi qua nhiều triều đại đều phải đọc nó, và nó là một trong những khoa mục thi cử chủ yếu của chế độ khoa cử. Những vấn đề lớn về chính trị, lịch sử, giáo dục cũng như nhiều hình thức văn hóa cổ đại của Trung Quốc đều không tách khỏi Thượng Thư. Có thể nói đó là một công trình lớn tổng hợp các lĩnh vực chính trị, lịch sử, văn hóa, giáo dục của lịch sử phong kiến Trung Quốc. Vì vậy, từ Khổng Tử trở đi, Thượng Thư được coi là kinh điển của nhà Nho, và trở thành thanh gươm báu trị quốc của vua tôi các triều đại.

Bộ sử ghi lời vua, lời bề tôi và lời thề

Thượng Thư còn gọi là Kinh Thư, hay chỉ là Thư, một trong Ngũ kinh, là bộ sử kinh điển vô cùng quan trọng của Trung Quốc, ghi chép khoảng từ 2300 đến 3000 năm trước Công nguyên. Chữ "Thượng" nghĩa là thượng cổ: đây là bộ tập hợp tài liệu, công văn, lời thề, chính sách và đường lối chính trị của các vương triều thượng cổ, về sau được Khổng Tử chỉnh lý.

Hai mươi tám thiên thời Tây Hán gọi là "Kim văn Thượng Thư"; bộ được tìm thấy trong tường nhà Khổng Tử gọi là "Cổ văn Thượng Thư". Thập tam kinh chú sớ đời Tống là bản hợp biên của cả hai. Đây là bộ sử quan trọng của Trung Quốc cổ đại, là thư tịch chính trị quan phương của xã hội phong kiến, là sách giáo khoa bắt buộc của mọi bậc quân thần, đế vương trong lịch sử và cũng là khoa mục khảo thí chủ yếu của chế độ khoa cử các triều đại phong kiến. Đây là bộ sử ghi chép chính sử Trung Quốc cổ đại, rất có ích cho việc tìm hiểu, khảo cứu dấu vết thời xưa, từ Nghiêu, Thuấn cho đến Tần Mục Công thời Xuân Thu, nhất là hai triều Thương và Chu. Về chú sớ, bộ Thượng Thư chính nghĩa của Khổng Dĩnh Đạt đời Đường rất quan trọng, ngoài ra còn có Thượng Thư cổ kim chú sớ của Tôn Tinh Diễn cũng rất nổi tiếng.

Nội dung là tập đại thành về văn hiến, điển chương, chế độ triều chính cổ của Trung Quốc, gồm những bộ phận Điển, Mô, Huấn, Cáo, Thệ, Mệnh của vương thất từ thời Ngu, Hạ đến Thương, Chu. Đó là sử liệu ghi thực chính sự quan phương, chủ yếu chép đàm thoại, chiếu chỉ, cáo văn của vua đối với bề tôi, chế độ điển chương, việc triều chính, và những lời can gián của bề tôi tâu lên vua. Đúng như phần Kinh Thư trong Tứ khố toàn thư đề yếu nói: Thư để bàn về chính sự. Có 58 thiên, chia thành Ngu Thư, Hạ Thư, Thương Thư, Chu Thư. Ngu Thư chép chính sự thời Nghiêu, Thuấn; Hạ Thư tập hợp sử liệu chính sự nhà Hạ; Thương Thư là điển tịch lịch sử chính trị nhà Thương; Chu Thư là kinh điển lịch sử chính trị nhà Chu.

Sáu thể văn là: Điển, ghi điển chế và thực sử quan trọng của triều chính (Nghiêu Điển, Thuấn Điển, Vũ Điển, Hồng Phạm, Chu Quan); Mô, bề tôi trình bày mưu kế với vua (Cao Dao Mô); Huấn, lời giáo huấn, đạo dụ; Cáo, cáo chiếu của vua xuống bề tôi (Đại Cáo, Bàn Canh); Thệ, lời thề của quốc gia và quân đội (Cam Thệ, Thang Thệ, Mục Thệ); Mệnh, chiếu sách và mệnh lệnh của vua đối với bề tôi (Văn Hầu Chi Mệnh, Tất Mệnh, Quân Trần).

Chuộng đức: làm sáng đức và kính đức

Mến chuộng đức là tư tưởng chủ yếu của Thượng Thư, gồm hiển đức, kính đức, vun trồng nhân đức, và cũng gồm việc phản đối loạn đức, táng đức.

Trước hết, chuộng đức là phải làm sáng tỏ đạo đức và phải kính đức. Thiên "Lạc cáo" chép: ngài phụng sự đức lớn rực rỡ, nghĩa là phải làm sáng tỏ cái đức tốt. Muốn làm sáng đạo đức, trước hết phải kính đức: vua hành động kính cẩn, không có việc nào mà không kính đức (Triệu cáo). Quân vương phải chăm chăm sùng đức, hành đức, chỉ có kính đức. Sùng đức thì mới thúc đẩy đạo đức phát triển. Như lời trong thiên ấy: ta cho rằng phải gắng mình kính đức, hãy làm chính trị bằng đạo đức, cầu thiên mệnh được bền lâu. Làm sáng cái đức ấy cũng là điều cần thiết, như câu "cũng cần phải dùng minh đức". Nói gọn, vua tôi phải thân mình làm khuôn phép thì mới thúc đẩy đạo đức chính nghĩa đầy đủ và rộng khắp.

Thứ hai, chuộng đức là thi hành nhân chính và đức công, tức là chí công vô tư. Chuộng đức theo Thượng Thư cốt ở nhân đức và đức công. Cốt lõi của nhân đức là yêu dân, dùng người hiền. Yêu dân là vì dân, trên dưới chuyên cần, đẩy mạnh giáo dục, bớt giết chóc. Lời trong "Triệu cáo": mong vương đừng vì dân không nghe mệnh lệnh nghiêm ngặt mà ra tay tàn sát, trị dân như vậy mới có thành công; mong vương đặt ở nguyên đức, dân sẽ nhớ mong, tuân theo nghiêm lệnh khắp thiên hạ; trên dưới chuyên cần, đồng lòng, mới nói được nhà Chu ta thực có thiên mệnh. Thi hành đức công là hoằng dương đức công đem lại lợi ích cho dân và xã hội, lấy đức của công thần, tiên lương, tiên quân làm mẫu mực. Như lời Thành Vương khen Chu Công: mong đức công vô tư rực rỡ chiếu khắp thiên hạ, và "đức lớn chính là Trời" (Tửu cáo).

Thứ ba, Thượng Thư chỉ ra hiện tượng mất nước vì loạn đức và táng đức. Bộ này đặc biệt ghét loạn đức, táng đức và cho rằng đó là điềm báo trước của việc mất nước. Thiên "Tửu cáo" nói: trời trừng phạt vì dân ta loạn đức, mất đi mỹ đức, không hẳn không vì rượu mà làm; việc các nước lớn nhỏ bị mất cũng có lẽ vì rượu. Ở đó, chuyện thần dân đam mê rượu được dùng để răn rằng loạn đức, táng đức ảnh hưởng tới sự hưng vong của quốc gia. Tóm lại, Thượng Thư rất coi trọng tư tưởng chuộng đức, khẳng định quan điểm ấy trong tất cả các thiên "Cáo", và trên cơ bản đặt nền tảng cho quan điểm hiền đức, nhân đức của Nho giáo.

Lấy dân làm gốc và nỗi khổ của người cày ruộng

Lấy dân làm gốc là một tư tưởng trọng yếu khác của Thượng Thư, gồm tri dân, ái dân, bảo dân, ninh dân và trị dân, thể hiện chủ yếu ở thiên "Vô dật".

Thứ nhất là phải hiểu dân và yêu dân. Làm vua, làm bề tôi trước hết phải biết nỗi khổ của trăm họ, như làm con trước hết phải biết nỗi vất vả gian truân của cha mẹ, rồi sau mới nghĩ đến niềm vui của cá nhân. Thiên "Vô dật" có câu: bậc quân tử không buông thả, trước hết phải biết nỗi khổ gian nan của người trồng cấy, rồi sau mới thỏa ý mình. Con cái không biết gian nan của cha mẹ, chỉ tham hưởng lạc, lớn lên lại quay sang chê cha mẹ cổ hủ chẳng biết gì. Điều Thượng Thư nhấn mạnh là dù vua quan hay con cái đều phải hiểu rõ nỗi khổ của trăm họ và gắn nỗi khổ ấy với niềm vui của mình. Đời sau phát triển thành câu: lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ.

Thứ hai là bảo dân, an dân. Thiên "Vô dật" rất nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo an nhân dân, nêu các tấm gương của tiền nhân. Thiên "Khang cáo" có lời khuyên: còn phải lắng nghe và học hỏi các bậc tiên triết, các vua xưa, đã dùng niềm vui để nuôi dưỡng và trị dân. Rồi nêu ba vị vua đời Ân làm mẫu: Trung Tông, vị vua hiền, vì "trị dân lo lắng, chẳng dám lơ là" nên ở ngôi hơn 75 năm. Cao Tông, khi chưa lên ngôi đã sống lâu ở ngoài, cùng dân chúng, yêu mến họ, lên ngôi rồi "không dám hoang vui thái quá", nên ở ngôi hơn 59 năm. Tổ Giáp, con của Vũ Đinh, biết ban ân huệ, che chở cho dân, không coi khinh những người cô quả khổ cực, nên ở ngôi hơn 33 năm.

Thiên này cũng nêu những vị vua kém của nhà Ân để răn: họ kế vị rồi ham vui vô độ, không biết gian truân của nhà nông, không để ý đến sự vất vả của dân, chỉ lo tạo nguồn vui cho riêng mình, nên không thể sống lâu, ở ngôi chỉ từ ba đến mười năm: có kẻ mười năm, có kẻ bảy tám năm, năm sáu năm, có kẻ chỉ ba bốn năm. Thiên "Vô dật" cũng ca ngợi Chu Văn Vương mặc áo dân thường, cùng người dân khai khẩn đất hoang, nên ở ngôi năm mươi năm. Nguyên văn chép rằng Văn vương mặc áo thường, chăm lo đùm bọc tiểu dân, ban ơn đến người cô, quả; từ sớm đến trưa, từ trưa đến chiều, không rảnh ăn, để vui hòa với muôn dân; ông hưởng nước năm mươi năm.

Thứ ba, Thượng Thư yêu cầu phải giỏi trị dân: phải dùng giáo dục và dùng hình phạt thích đáng, luôn làm gương, không được dùng hình phạt tàn khốc như vua Trụ nhà Ân. Thiên "Khang cáo" nói: chớ dùng những âm mưu sai trái, phép trị sai trái. Trị dân còn phải có điển chương, có phép tắc để theo, và cũng nhấn mạnh việc quản lý trung ương. Tóm lại, mục đích trị dân trong Thượng Thư là chăm lo cho dân như con cháu của mình.

Cái lễ còn manh nha: dung mạo, lời nói, nhìn, nghe, nghĩ

Trong Thượng Thư, lễ đã manh nha và có tầm quan trọng. Thiên "Hồng phạm" trình bày rõ lễ của oai nghi, cử chỉ, nghe nhìn, lời nói và việc làm đối với con người. Có năm việc: một là dung mạo, hai là lời nói, ba là nhìn, bốn là nghe, năm là nghĩ. Dung mạo phải cung kính, lời nói phải thuận lý, nhìn phải rõ ràng, nghe phải tinh tường, nghĩ phải thông suốt. Cung kính thì nghiêm túc, thuận lý thì tự trị, rõ ràng thì minh triết, tinh tường thì mưu tính được, thông suốt thì thánh minh.

Ý nói dung mạo, lời nói, cái nhìn, cái nghe và tư duy là các thành phần cơ bản cấu thành lễ của con người. Điều đó cũng răn người ta khi xử sự thì dung mạo phải cung kính, lời nói phải chính đáng, phải khéo quan sát, khéo lắng nghe, phân tích và phán đoán. Nói gọn: cung kính thì mới nghiêm túc, chính đáng thì mới tự lo liệu tốt, phân tích phải dựa vào quan sát và lắng nghe thì mới giỏi mưu tính, suy nghĩ thì mới sáng suốt. Thượng Thư tuy chưa nói thẳng đến chữ "lễ", nhưng khiêm cung, oai nghi, đoan trang đã mang tính lễ, nên có thể thấy nó đã tạo nên những yếu tố tiền thân của lễ, ảnh hưởng quan trọng tới quá trình hình thành và phát triển lễ trong tư tưởng Nho giáo.

Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa, tập 2, thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện