Bài tổng quan
Ba thời đại trong Chu Dịch và mười thần thoại Viêm Hoàng
Có một bộ sách chuyên xem quẻ mà lại nhớ giùm người thượng cổ họ từng đẽo gỗ làm cày ra sao, lập chợ giữa trưa nắng thế nào. Và trước cả lúc ấy, một người đàn bà đã luyện đá năm màu để vá cái trời nứt toác...
Chu Dịch giữ lại ký ức về ba vị vua thượng cổ
Khi chưa có chữ viết, người xưa không có sử sách để nhìn lại. Nhưng có một bộ sách ra đời rất muộn sau đó lại ghi được dáng vẻ của ba thời đại ấy.
Thần Nông và Viêm Đế là một
Người Trung Hoa vẫn hay hỏi Thần Nông là ai. Tác giả cho rằng Chu Dịch đã trả lời từ rất sớm: sau họ Bao Hy mất thì họ Thần Nông lên thay, và sau Thần Nông mới đến Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn. Như vậy Thần Nông chính là Viêm Đế, vị thủ lĩnh nổi danh đứng giữa Phục Hy và Hoàng Đế, và ba người này là đại diện cho Tam Hoàng thời thượng cổ. Tư Mã Thiên bổ sung rằng đến đời Hiên Viên thì nhà Thần Nông đã suy, chư hầu tranh nhau bạo ngược với dân, Viêm Đế muốn đánh các chư hầu nên họ đều theo Hiên Viên. Hiên Viên giao chiến với Viêm Đế ở Bản Tuyền, ba trận mới thắng, rồi đánh giết Xi Vưu ở Trác Lộc và được các chư hầu tôn làm thiên tử, từ đó gọi là Hoàng Đế. Nhiều sách khác như Sơn Hải kinh, Hoài Nam tử, Thế bản chép tương tự.
Ba thời, ba bậc phát triển
Dù ba vị vua này có thật hay không, mỗi vị vẫn đại diện cho một bối cảnh văn hóa và một trình độ sản xuất. Thời Phục Hy, Chu Dịch tả một ông vua ngẩng nhìn thiên văn, cúi xem địa lý, quan sát chim thú rồi làm ra Bát quái, kết dây làm lưới đánh cá bẫy chim. Đó là giai đoạn săn bắt hái lượm ở mức cao nhất, đã có hiểu biết về thiên văn, lịch số, và việc vẽ Bát quái cho thấy người ta bắt đầu suy nghĩ theo lối quan sát cả hình lẫn khí, xem trời đất và người cùng tồn tại.
Thời Thần Nông, người ta đẽo gỗ làm bừa, uốn cây làm cày rồi dạy dân, và lập chợ vào giữa ngày để mọi người mang hàng đến đổi. Đó là bước nhảy từ săn bắt sang nông nghiệp và thương mại. Y dược, âm nhạc và hội họa cũng phát triển theo. Chuyện Thần Nông nếm trăm loại cỏ, có ngày dính bảy mươi thứ độc, là dấu mốc của y dược Trung Hoa, còn bộ Thần Nông bản thảo kinh mượn tên ông. Sách cổ còn chép ông phân biệt tính thuốc, chế phép châm cứu và làm ra đàn năm dây.
Thời Hoàng Đế tiến lên một bậc nữa. Chu Dịch kể về việc đẽo gỗ làm thuyền để đi xa, thuần trâu ngựa để chở nặng, đắp cổng đóng then chống cướp, làm chày cối, làm cung tên, dựng nhà để tránh mưa gió thay cho hang, thay cách chôn người chết giữa đồng bằng quan quách, và thay cách kết dây ghi việc bằng sách vở. Tác giả xem đó là thời hưng thịnh của văn hóa viễn cổ Trung Hoa.
Dùng quẻ để đánh dấu mỗi thời
Chu Dịch còn dùng quẻ làm ký hiệu cho công cụ sản xuất mỗi thời. Quẻ Ly, có lửa cả trên lẫn dưới, tượng trưng cho thời Phục Hy làm nương đốt rẫy. Quẻ Ích, gỗ ở trên và động ở dưới, tượng trưng việc lấy gỗ làm nông cụ ở thời Thần Nông. Quẻ Phệ Hạp, mặt trời trên và động dưới, ứng với việc họp chợ ban ngày. Cho thời Hoàng Đế có các quẻ như quẻ có gỗ trên nước là thuyền, quẻ Tùy là xe ngựa, quẻ Đại Tráng là nhà cửa vững đến mức sấm sét cũng không lay chuyển, và quẻ Quải, có dao và kim loại, là dấu hiệu của việc khắc chữ. Theo tác giả, cách ghi chép bằng Bát quái cho nghiên cứu văn hóa Viêm Hoàng một nguồn tư liệu quý.
Tinh thần vươn lên bên dòng Hoàng Hà
Chu Dịch cũng ngợi ca tinh thần dân tộc ấy. Đó là dân sống trên đất vàng không màu mỡ, thỉnh thoảng bị nước sông cuốn trôi mọi thứ, nhưng không bỏ cuộc. Ở đây có tinh thần biến đổi, tự làm mới, qua các quẻ như Cách hay Thăng, và có câu tổng kết rằng trời vận hành mạnh mẽ nên người quân tử tự cường không nghỉ.
Vì sao một bộ sách bói lại quan trọng với việc hiểu người thượng cổ
Người viết cho rằng Chu Dịch vừa tổng kết thành tựu vật chất, vừa ca ngợi khí phách của thời Viêm Hoàng, nên là một bản tổng kết văn minh khá toàn diện và đóng góp lớn cho việc đánh giá văn hóa Trung Hoa. Bốn nghìn năm trước, tức khoảng năm 2000 trước Công nguyên, người Trung Hoa đã có một nền văn minh rực rỡ, và điều đó càng cho thấy văn hóa nước này phong phú vì gắn liền với những nét huy hoàng ngay từ lúc mới sinh. Điều đáng để ý là cách Chu Dịch ghi lại: không bằng biên niên mà bằng ký hiệu quẻ, để mỗi quẻ trở thành dấu vết của một công cụ, một nghề, một cách sống. Chính cách ghi ấy cho người đời sau một con đường đọc lại quá khứ khi chẳng còn tài liệu chữ viết nào từ thời đó.
Mười câu chuyện thần thoại của người Viêm Hoàng
Khi chưa có chữ, thần thoại là cách duy nhất để một dân tộc giữ lại nỗi sợ, ước mơ và thành tựu của mình.
Vùng lưu vực Hoàng Hà có nước vàng, đất vàng và người cũng vàng như dòng sông. Người xưa làm nương đốt rẫy, quý đất và thờ lửa, nên các vị vua lấy tên Viêm Đế và Hoàng Đế để tượng trưng cho lửa và đất vàng. Tác giả chọn mười chuyện tiêu biểu và nêu ý nghĩa của từng chuyện.
Từ hỗn độn đến trời đất và loài người
Chuyện Bàn Cổ kể trời đất ban đầu hỗn độn như quả trứng gà, Bàn Cổ sinh ra trong đó, sau mười tám nghìn năm phần trong nhẹ nổi lên thành trời, phần đục nặng chìm xuống thành đất. Thân thể Bàn Cổ hóa thành mặt trời, mặt trăng, sông núi, giọng nói thành sấm, hơi thở thành gió mưa. Tác giả xem đó là nỗ lực đầu tiên của người Trung Hoa muốn giải thích bản thể vũ trụ, và là dấu hiệu cho thấy triết học đã mọc mầm từ rất sớm.
Chuyện Nữ Oa vá trời kể thuở bốn phương nứt toác, lửa cháy, nước tràn, thú dữ ăn thịt người, bà luyện đá ngũ sắc để vá trời, chặt chân ngao dựng bốn cột chống, giết rồng đen và đốt tro ngăn lũ. Có thể đây là ký ức về một trận đại hồng thủy sau động đất, và là hình ảnh sự chống thiên tai của người xưa. Chuyện Phục Hy và Nữ Oa kết đuôi thành vợ chồng, mà theo sách cổ hai người có mình rắn, thể hiện bước chuyển từ mẫu hệ sang phụ hệ và là câu chuyện về nguồn gốc người da vàng, có thể sánh với chuyện Adam và Eva.
Những kẻ không chịu khuất phục thiên nhiên
Nữ Khuê, con gái Viêm Đế, chết đuối ở biển Đông rồi hóa chim Tinh Vệ, ngày ngày ngậm cành cây hòn đá phía tây thả xuống biển để lấp cho bằng. Chuyện này đi cùng truyện Đại Vũ trị thủy và ông già dời núi, nói lên nghị lực chinh phục thiên nhiên. Cộng Công tranh ngôi với Chuyên Húc không được, giận húc vào núi Bất Chu làm trụ trời gãy, trời nghiêng về tây bắc, đất trũng về đông nam, nên sông nước đều đổ về đông. Sách cho rằng đó là tinh thần dám phản kháng của con cháu Viêm Hoàng.
Truyện Hậu Nghệ bắn mặt trời kể mười mặt trời cùng mọc làm cây cỏ cháy khô, vua Nghiêu sai Hậu Nghệ bắn hạ, chín mặt trời rơi xuống, chỉ còn một. Tác giả liên hệ với thập can ghi ngày và với chu kỳ vết đen mặt trời, xem là nhận thức thiên văn lịch pháp thời thượng cổ. Khoa Phụ chạy đuổi mặt trời, uống cạn nước sông Hoàng và sông Vị vẫn chưa đủ, chết khát giữa đường, cây gậy hóa thành rừng Đặng. Đó là tinh thần dâng hiến cho việc tìm hiểu vũ trụ.
Trị thủy và giấc mơ lên cung trăng
Cổn ăn trộm đất thần của Thượng đế để ngăn hồng thủy cứu dân mà không chờ lệnh, bị Chúc Dung giết ở núi Vũ. Từ xác ông sinh ra Vũ, và Thượng đế lại sai Vũ đi trị thủy. Tác giả xem đây là ca ngợi tinh thần dám làm trái để cứu người và tôn sùng nhân nghĩa. Còn Đại Vũ, khi đang bí cách trị nước thì gặp một người mặt trắng thân cá tự xưng là thần sông, được đưa cho bản Hà đồ, nhờ đó trị được Hoàng Hà. Truyện cho thấy trí tuệ của con cháu Viêm Hoàng và vai trò của Bát quái, Thái cực, Hà đồ.
Truyện cuối cùng kể Thường Nga uống thuốc bất tử mà Hậu Nghệ xin được từ Tây Vương Mẫu, bay lên cung trăng, ở đó có thỏ ngọc giã thuốc bên cạnh, và nàng cô đơn khi nhớ chuyện cũ. Sách gọi đó là "nhà du hành vũ trụ" đầu tiên của Trung Quốc, chứng tỏ ước mơ chinh phục không gian của người xưa.
Thần thoại như ngọn đèn cho tư duy đời sau
Những chuyện tưởng hoang đường ấy không chỉ để kể; chúng còn cho thấy cách con người bắt đầu đặt câu hỏi về thế giới.
Mầm mống của tư duy khoa học
Tác giả gọi thần thoại là khúc dạo đầu của khoa học viễn tưởng, và thấy giữa hai thứ này không có ranh giới rõ. Những điều hôm qua còn là chuyện thần tiên, hôm nay có thể thành hiện thực. Ông dẫn ví dụ thầy thuốc Biển Thước đổi tim cho người trong sách Liệt Tử, nay đã thành ca phẫu thuật thật. Chuyện Khoa Phụ đuổi mặt trời được coi là hình bóng của khát vọng tìm hiểu vũ trụ.
Nhiều truyện trong Sơn Hải kinh thực ra là hiện tượng tự nhiên được thần hóa. Hậu Nghệ bắn mặt trời gợi tới lúc vết đen mặt trời lên cao điểm. Con Chúc Long thân rắn dài ngàn dặm đỏ rực dưới núi Chung Sơn gợi tới một ngọn núi lửa ở Tây Vực. Còn Thường Nga cùng thỏ ngọc giã thuốc có thể là cách người xưa hình dung những mảng núi trên mặt trăng. Kinh Dịch cũng có những câu về mặt trời như thấy trận đấu hay như chim, và tác giả cho rằng những ảo tưởng thần thoại này là buổi đầu của ảo tưởng khoa học. Ông còn nối Bàn Cổ với tư duy âm dương: trời là dương, đất là âm, mặt trời là dương, mặt trăng là âm, để rồi Kinh Dịch nói Dịch có Thái cực, Thái cực sinh lưỡng nghi. Bởi vậy không nên coi thần thoại hoàn toàn là mê tín.
Cái nôi của văn hóa và lịch sử
Thần thoại là hiện tượng văn hóa nổi nhất thời Viêm Hoàng, phản ánh diện mạo xã hội, phong tục và tín ngưỡng, giống như những "hóa thạch" giữ lại nhiều nét đời sống. Chuyện Phục Hy kết đuôi cùng Nữ Oa gợi bước ngoặt sang chế độ một vợ một chồng và sự bỏ dần hôn nhân giữa anh em. Tác giả so Phục Hy và Nữ Oa với các thần tối cao của thần thoại Hy Lạp, và cho rằng đây là chỗ lịch sử cổ đại hòa vào lịch sử thần thoại.
Ông nhấn mạnh rằng chuyện đánh nhau giữa Hoàng Đế và Xi Vưu ở Trác Lộc dù được thần hóa vẫn phản ánh một thực tế: nếu không có những cuộc chiến tương tự giữa các thị tộc thì Hoàng Đế không thể thống nhất Trung Nguyên. Vì thế, muốn nghiên cứu lịch sử thượng cổ Trung Quốc thì trước hết phải đọc lịch sử thần thoại. Nhiều tác phẩm kinh điển của y học Trung Hoa mượn tên nhân vật thần thoại như Hoàng Đế nội kinh, Biển Thước Nam kinh hay Thần Nông bản thảo kinh, và thần thoại Viêm Hoàng còn chứa tín ngưỡng tô-tem cùng tục thờ Long Phụng.
Người dẫn đường cho văn học nghệ thuật
Sức tưởng tượng của thần thoại thúc đẩy văn học phát triển từ rất sớm. Một số bài trong Kinh Thi và Kinh Dịch thuộc thể loại thần thoại, truyền thuyết, và chúng cũng là phôi thai của tiểu thuyết thần thoại. Chuyện Thường Nga ảnh hưởng đến âm nhạc, hội họa, khắc đá, đúc tượng, như các bức khắc đá thời Hán ở Nam Dương, Hà Nam. Nữ Oa và Trụ Vương là tiền thân của Phong thần diễn nghĩa, truyền thuyết về một hòn đá mở ra Hồng lâu mộng, còn Liêu trai chí dị và Kính hoa duyên lấy thần thoại làm đề tài. Thần thoại có thể hóa thành lịch sử, như chuyện Nữ Oa và Trụ Vương, còn lịch sử cũng có thể hóa thành thần thoại, như chuyến thỉnh kinh của Đường Tăng trong Tây du ký.
Ảnh hưởng ấy lan tới cả văn chương lãng mạn và dân gian: từ bài Hỏi trời của Khuất Nguyên, Hoài Nam tử của Lưu An, những bài phú về thần nữ của Tống Ngọc và Tào Thực, chất tưởng tượng trong Trang Tử, các dụ ngôn của Liệt Tử, cho đến thơ Lý Bạch, Lý Thương Ẩn, Tô Thức. Các truyện dân gian như Ngưu Lang Chức Nữ, Lương Sơn Bá và Chúc Anh Đài, bà Mạnh Khương khóc đổ Trường Thành cũng mang bóng dáng đó, vì thần thoại đi ra từ đời sống rồi lại trở về với đời sống.
Có một điểm đáng để ý trong cách tác giả đọc thần thoại: ông không hỏi chuyện ấy có thật hay không, mà hỏi người kể chuyện đã nhìn thấy điều gì và sợ điều gì. Một trận lũ lớn trở thành con rồng đen bị giết, một trận động đất trở thành trụ trời gãy, một mùa hạn hán kéo dài trở thành mười mặt trời cùng mọc. Nhìn như vậy thì truyện cổ trở thành một loại nhật ký tập thể của những người chưa biết viết, và đọc kỹ nó là cách nghe được tiếng nói của họ.
Tổng lại, mỗi câu chuyện đại diện cho một bối cảnh văn hóa. Nữ Oa vá trời là hình ảnh thu nhỏ của văn hóa động đất thời cổ, Phục Hy vẽ Bát quái tượng trưng cho văn hóa ký hiệu, còn Đại Vũ trị thủy là cột mốc của văn hóa lũ lụt. Ở thời chưa có chữ, thần thoại gánh việc thay cho lịch sử, và mỗi thời kỳ đều có quyền có những câu chuyện thần thoại riêng của mình.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 1 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
