Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Thiền vào thơ Đường Tống: Vương Duy, Tô Đông Pha, Kiều Nhiên

Đạo Học - Khuyên Thiện04/10/20267 phút đọc4 lượt đọc
Thiền vào thơ Đường Tống: Vương Duy, Tô Đông Pha, Kiều Nhiên

Một ngọn núi vắng không thấy bóng người, chỉ có tiếng vọng và một vệt nắng rơi lên rêu xanh. Bốn câu thơ như thế chứa cả một cõi Thiền. Còn Tô Đông Pha đứng ngay giữa Lư Sơn mà chẳng nhận ra mặt thật của núi.


Khi cấu tứ vượt khỏi lô-gích hai mặt

Thiền tông để lại dấu ấn rất lớn trong văn học Trung Hoa. Về cách dựng ý cho tác phẩm, nhiều nhà văn nhà thơ chịu ảnh hưởng sâu của Thiền, và trong thủ pháp biểu hiện thường có những tình huống vượt khỏi lô-gích hai mặt: vừa không phủ định cũng không khẳng định, vừa không phải cái này cũng chẳng phải cái kia, tất cả đều không phải. Những tình huống ấy làm phong phú nội dung biểu đạt, đưa văn chương thoát khỏi sự gò bó của lý tính trừu tượng để phản ánh thế giới một cách sinh động và chân thực hơn.

Phần lớn đạo Phật coi trọng kiếp sau, nhưng Thiền tông lại chú trọng kiếp này, và điều đó ảnh hưởng nhất định đến lối sáng tác hiện thực. Thiền coi trọng lao động trong đời sống hằng ngày, mà văn học vốn là sự phản ánh đời sống của người lao động; vì vậy Thiền thấm sâu vào dòng văn học hiện thực của Trung Hoa. Cảnh giới "tự do vô ngại" trong Thiền cũng đi vào văn học, làm cho việc sáng tác thêm phóng khoáng, tự nhiên, biết "hòa cảnh vào tình", bớt đi sự cứng nhắc khô khan của các thể thức kinh điển.

Thơ và Thiền gặp nhau ở chỗ bình thường

Nhiều ý tứ khó nói bằng lời lại nở ra thành câu thơ, và thơ ca là nơi Thiền để lại hương rõ nhất.

Thiền thường xuất hiện trong thơ và từ, và có ảnh hưởng xa đến sự phát triển của thơ ca Trung Hoa. Thơ Thiền hay dùng lối tự nhiên, khoa trương và "siêu việt", và các thi nhân hấp thụ tinh hoa ấy. Thơ và Thiền hòa vào nhau làm cho hình thức biểu hiện của thơ từ thêm giàu; ở mặt khách quan, Thiền còn góp phần thúc đẩy thơ mới đời Đường. Thiền tông đề cao "tâm bình thường là đạo", nên thơ Thiền phần lớn nảy ra từ cuộc sống. Những "Thiền vị" đậm hơi thở đời thường ấy truyền sang các thi nhân, làm giàu thêm thơ từ đời Đường, Tống. Cũng vì Thiền quý kiếp này, tiếc hiện thực, trân trọng lao động sinh hoạt của dân thường, nên đã góp phần đưa thơ ca hướng về nhân sinh và thực tế.

Đời Đường, Tống người ta hay "lấy Thiền vào thơ" và "lấy thơ nói Thiền", nên mới có "thơ Thiền" và "Thiền thơ". Thơ và Thiền hợp tác chặt chẽ, đều có tiến bộ lớn. Đem Thiền ra bàn thơ, thưởng thơ, bình thơ, thành ra "thơ và Thiền thông nhau" đã là một hiện tượng riêng của thơ ca. Ảnh hưởng của Thiền còn nằm ở các ý như "người và cảnh hòa làm một", "không trụ, không thường": nó cho thơ cái cảm giác "như đang ở ngay giữa cảnh". Các nhà thơ nhờ "ngộ" Thiền cơ mà chuyển sang một nội hàm mới là tính chân thực và tính linh hoạt của thơ ca. Khi họ đưa "Thiền thú" và "Thiền ý" vào thơ, vẻ đẹp của thơ nhiều thêm, ý thơ hòa với ý Thiền thành ra độc đáo hơn.

Nhiều từ ngữ nhà Thiền cũng thổi một luồng khí mới vào thơ từ Trung Hoa. Có thể kể những cụm như: nâng hoa mỉm cười, quở tổ mắng Phật, sáu căn thanh tịnh, bốn đại đều không, ẩn vào cửa Không, không tức không lìa, một niệm ba nghìn cõi, gậy quát đầu đời, đại từ đại bi, sinh già bệnh chết, bể khổ vô biên, quay đầu là bờ, buông dao đồ tể, tại chỗ thành Phật, chẳng sinh chẳng diệt, đầu sào trăm thước, bước thêm bước nữa, tịnh độ, giải thoát, nhân duyên, đốn ngộ, phiền não, giác ngộ, bờ bên kia, Niết Bàn, Bồ Đề, thế giới...

Bạch Cư Dị: tin vào chuyện sắc không

Bạch Cư Dị, "tiên thơ" của một thời, cũng mến mộ Thiền, và thơ ông thấm đẫm Thiền vị. Trong bài nói về kinh Thiền, ông viết rằng mọi tướng của pháp đều là phi tướng; nếu trụ lại cõi vô dư Niết Bàn thì bỏ mất cõi hữu dư; buông lời, quên tiếng thì liễu ngộ, nói mộng trong mộng thì cả hai đều giả. Hoa đốm giữa hư không đâu thể kết quả, bóng nắng như sóng đâu thể tìm được cá. Giữ cái động là Thiền, Thiền cũng là động; không Thiền không động thì ấy là "như như". Trong bài về hoa trong chùa, ông nhắc rằng muốn ngộ chuyện "sắc – không" là việc nhà Phật, thì nên trồng cây thơm tại chùa; nhìn kỹ thì đó là Hoa Nghiêm, thuận gió mà mở ra hoa trí tuệ.

Vương Duy: núi vắng, tiếng người và ánh rêu

Vương Duy cũng là thi nhân đầy chất Thiền ngộ. Thơ ông ngập Thiền vị, thong dong tự tại, gợi cảm giác cảnh và vật hòa làm một. Bài "Lộc Sài" là ví dụ:

Núi không chẳng thấy người, chỉ nghe tiếng người vọng; ánh sáng dội vào rừng sâu, lại chiếu trên rêu xanh.

Đây là một bài thơ Thiền tiêu biểu: ý thơ hòa vào cảnh Thiền. Con người, âm thanh, cảnh vật "tròn đầy không ngại" với thiên nhiên, khiến người đọc cảm thấy như mình đang đứng trong bức tranh ấy.

Tô Đông Pha và ngọn Lư Sơn không thấy mặt thật

Bài thơ nổi tiếng "Đề vách chùa Tây Lâm" của Tô Đông Pha cũng như vậy:

Nhìn ngang thành dãy, nghiêng thành ngọn, xa gần cao thấp mỗi nơi khác; không biết Lư Sơn mặt thật thế nào, chỉ bởi mình đang ở ngay trong núi này.

Đứng ngay giữa núi nên chẳng nhận ra gương mặt thật của núi: ý thơ mang đúng hương vị Thiền.

Kiều Nhiên và cái hương Thiền trong cảnh trăng, hoa rụng

Thơ của thiền sư Kiều Nhiên (Tạ Thanh Trú) cũng đậm Thiền ngộ, cảnh thơ chứa cảnh Thiền và làm sâu thêm "ẩn ý" của thơ, như bài "Thủy nguyệt". Đêm đêm ông ngắm bóng trăng dưới ao, lòng Thiền ngồi bên trăng. Màu sắc hư vô có thể thấy nhưng không thể nắm; ý đã rõ mà khó truyền. Nếu hiểu thấu "tâm không" thì như chiếc bóng ngay thẳng trong vầng trăng tròn. Ông còn có những câu tả mùa xuân, tiếng nước, liễu non, hoa rụng sớm mai dưới những gốc cây, tăng Thiền vì chuyện ấy mà phiền não chưa đạt được tâm chính. Thơ Kiều Nhiên vừa có giá trị cho việc nghiên cứu Phật học, vừa đem một luồng sinh khí mới của Phật học vào thơ Đường, làm tăng "cảnh ý" trong thơ, đồng thời thể hiện mối gắn bó mật thiết giữa thơ và Thiền. Khi chuyện thơ Thiền ấy được kể lại qua thân phận một thi sĩ khác ở xứ tuyết, ta lại thấy cùng một mạch ngầm chảy xuyên nhiều nền văn hóa.

Điều thơ hôm nay còn học được

Tóm lại, Thiền có ảnh hưởng sâu sắc đến văn học Trung Hoa, nhất là thơ ca. Từ chuyện xưa có thể gợi ra một điều: thơ ca ngày nay cũng hoàn toàn nên hấp thụ Thiền vị, để nền thơ hiện đại mang bản sắc truyền thống Trung Hoa. Và khi nhà văn muốn tả thực, muốn dựng một tiểu thuyết đời sống như khu vườn đổi sắc với những cái tình lặng lẽ, thì cái lối nhìn thẳng vào đời thường mà Thiền tông truyền lại vẫn còn nguyên giá trị.

Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 4, thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện