Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Tả hình bằng mắt người khác, tả lòng bằng lời nhân vật

Đạo Học - Khuyên Thiện03/10/202611 phút đọc0 lượt đọc
Tả hình bằng mắt người khác, tả lòng bằng lời nhân vật

Đại Ngọc nghe một câu nói của Bảo Ngọc mà trong lòng dâng lên bốn nỗi cùng lúc: mừng, sợ, tủi, thương. Chỉ vậy thôi, cả một mối tình đã phơi ra mà không ai phải kể hộ. Còn gương mặt của họ thì chẳng ai tự khoe, mà hiện lên trong ánh mắt người đứng đối diện…


Giữa hàng trăm số phận, người phụ nữ là khúc ca bi thương nhất

Một nguyên nhân quan trọng khiến Hồng lâu mộng sáng chói đến nay là việc tạo hình tượng nhân vật: cả bộ truyện giống một bức trường quyển nghệ thuật, người nào bước ra cũng như đang thở.

Đây là một bộ tiểu thuyết bi kịch. Trong hàng trăm con người xuất hiện, số phận của đàn bà là thảm nhất, đến mức người đời bảo mỗi chữ đều nhỏ máu.

Ngàn hồng đau xót, vạn diễm bi thương.

Trong số trăm nhân vật ấy, hình tượng phụ nữ nổi bật hơn cả, nghe như một khúc bi ca cất lên chống lại cái xã hội đã bóp nghẹt họ.

Tả hình truyền thần: để người khác nhìn hộ

Cái đẹp thật sự thường không do người đẹp tự khoe, mà hiện ra trong ánh mắt của kẻ đứng đối diện.

Lối tả hình của Hồng lâu mộng rất truyền thần. Câu văn đã đẹp, màu sắc lại sống, và gần như luôn dùng cách "mây nâng vầng nguyệt": cho một người khác nhìn, rồi để cái nhìn ấy vẽ nên dung mạo. Bốn gương mặt dưới đây là bốn ví dụ.

Bảo Thoa qua mắt Bảo Ngọc

Bảo Ngọc vén rèm bước vào, thấy Bảo Thoa ngồi trên giường, tóc đen búi gọn, mặc áo bông màu gụ, khoác vai màu tím nhạt viền chỉ kim ngân, quần lụa bông lót màu vàng. Mọi thứ trên người nàng đều đã sờn, dở cũ dở mới, nhìn qua chẳng có vẻ xa hoa mà lại thêm phần nhũn nhặn. Về sau, ngắm kỹ hơn, Bảo Ngọc thấy da mặt nõn nà, khoé mắt long lanh, môi không đánh sáp mà vẫn đỏ, mày không kẻ mà vẫn xanh, so với Đại Ngọc lại có một nét phong lưu thuỳ mị riêng. Bảo Ngọc bất giác đứng ngẩn người ra.

Bảo Ngọc qua mắt Đại Ngọc

Đại Ngọc thoạt nghe tiếng "Bảo Ngọc" đã tự nhủ: không biết cậu này hồ đồ, bướng bỉnh đến mức nào. Rồi nàng thấy một thiếu niên công tử mặt tựa trăng rằm mùa thu, sắc như hoa xuân buổi sớm, mái tóc cắt gọn như dao xén, lông mày rõ như mực kẻ, má như cánh hoa đào, mắt như làn sóng gợn. Giận cũng như cười, trừng mắt vẫn có tình tứ. Cổ cậu đeo khánh vàng chạm con ly và một dây ngũ sắc buộc viên ngọc. Nhìn liếc có duyên, nói năng tươi tỉnh, đầu mày cuối mắt có một vẻ thiên nhiên rất đáng yêu.

Đại Ngọc qua mắt Bảo Ngọc

Bảo Ngọc trông thấy một cô gái, đoán ngay là con của cô mình, nhìn kỹ thì thấy khác hẳn các cô gái còn lại. Đôi lông mày điểm khói lạt, như vui mà lại không vui. Má hơi lúm, có vẻ âu sầu, người hơi mệt trông càng tha thướt. Lệ sớm rưng rưng, hơi thở nhè nhẹ. Khi thư nhàn thì như hoa soi mặt hồ, khi đi đứng thì như liễu nghiêng trước gió. Sau cùng là một câu bình, lấy người đẹp xưa để so:

Tim đọ Tỉ Can hơn một khiếu, bệnh so Tây Tử trội vài phần.

Phượng Thư qua mắt Đại Ngọc

Người này ăn mặc trang sức không giống các cô khác: đôi mắt phượng, mày cong lá liễu, dáng người óng ả, điệu bộ phong lưu. Hai câu thơ chốt lại vẻ ấy:

Mặt phấn đầy xuân trông vẻ dịu, làn son chưa hé miệng như cười.

Những đoạn trên cho thấy ngôn ngữ và hình tượng dưới ngòi bút Tào Tuyết Cần sinh động vô cùng. Người nào cũng như đứng trước mặt, trông thật giống người thật, đạt hẳn mức truyền thần được hình dáng.

Khắc hoạ nội tâm: hạt nhân của cách dựng người

Hình đẹp mới chỉ là một nửa; nửa còn lại là cái thần, và cái thần nằm trong lòng.

Hồng lâu mộng dựng được nhiều hình tượng thành công, và thành tựu nghệ thuật chủ yếu nằm ở chỗ khắc hoạ thế giới nội tâm. Hình tượng nhân vật là sự hợp lại của hình và thần. Thế giới nội tâm là phản ánh của thần, nên hình và thần cùng đẹp thì hình tượng mới hoàn mỹ.

Cách để nhân vật tự bạch nội tâm đã vượt khỏi sự gò bó của lối đối thoại trong tiểu thuyết truyền thống, mở ra một trang mới trong việc tả tâm lý của tiểu thuyết Trung Hoa. Vì vậy, tự bạch nội tâm là hạt nhân của nghệ thuật khắc hoạ tâm lý trong truyện, và cũng là điều có sức hút mạnh nhất.

Chỗ kỳ diệu của lối viết này là Tào Tuyết Cần nắm rất chắc mạch đập tính cách từng người, rồi diễn đạt trên cơ sở ấy, nên lời tự bạch khớp với hình tượng đến mức không thấy dấu vết sáng tác.

Bốn nỗi cùng một lúc: Đại Ngọc nghe lời của Bảo Ngọc

Có những câu nói chỉ bốn năm chữ nhưng đủ khiến một người con gái khóc cười trong cùng một hơi thở.

Ở hồi thứ 32, Bảo Thoa và Sử Tương Vân đều khuyên Bảo Ngọc phải coi trọng con đường làm quan, chỉ riêng Đại Ngọc không nói gì. Bảo Ngọc đáp rằng cô Lâm chẳng bao giờ nói những lời nhảm nhí ấy, nếu cô nói thì cậu đã xa cô từ lâu. Đại Ngọc đứng nghe, và nỗi lòng nàng được kể ra như sau: nàng mừng, sợ, tủi, thương.

Mừng là vì mắt mình không nhầm: ngày thường nàng vẫn cho cậu là tri kỷ, giờ đúng là như vậy. Sợ là vì trước mặt người khác mà cậu vẫn nghĩ đến nàng, vẫn khen nàng, đủ biết tình nồng nàn không còn e ngại gì. Tủi là vì đã là tri kỷ của nhau, thì sao còn có chuyện "vàng" với "ngọc"? Mà nếu có chuyện vàng ngọc, thì vàng ngọc ấy đáng lẽ của cậu và của nàng, sao lại còn có cô Bảo Thoa nữa? Thương là vì cha mẹ mất sớm, dù có những lời ghi lòng tạc dạ cũng chẳng ai tác thành; vả lại gần đây nàng đã chớm bệnh, thầy thuốc nói khí suy huyết kém, sợ sinh chứng lao. Nàng nghĩ: dù tôi là tri kỷ của anh, tôi sợ không đợi lâu được; dù anh là tri kỷ của tôi, tôi bạc mệnh thì biết làm sao. Nghĩ đến nông nỗi ấy, Đại Ngọc không cầm nổi nước mắt.

Những câu tâm lý tế nhị, mượt mà ấy phơi ra cảnh ngộ tri âm giữa hai người sâu sắc đến chừng nào. Cái khéo là dùng lời tự bạch của nhân vật chứ không để người dẫn truyện nói thay, và cho thấy việc tả hoạt động tâm lý trong tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa đã bước sang một chặng mới.

Hai tiếng lòng chạm nhau mà không thốt ra lời

Đôi khi đối thoại không đủ chỗ cho điều người ta muốn nói, và nó chỉ chịu lên tiếng khi không còn ai nghe.

Đặc biệt, dùng tự bạch nội tâm thay cho đối thoại càng khắc sâu cá tính. Đoạn hay nhất nằm ở hồi thứ 24. Bảo Ngọc nghĩ: người khác không hiểu mình thì mình còn tha được, lẽ nào Đại Ngọc lại không biết trong lòng, trong mắt ta chỉ có cô ấy? Cô ấy không gỡ nỗi buồn cho ta đã đành, lại còn đưa ra những câu chặn họng ta; lòng ta giờ nào phút nào cũng nghĩ đến cô, nhưng cô có bao giờ nghĩ đến ta đâu. Nghĩ vậy mà cậu không nói được ra lời.

Đại Ngọc thì nghĩ: vẫn biết bụng anh luôn để ý đến tôi; tuy có câu "vàng ngọc sánh đôi", nhưng khi nào anh lại tin lời nhảm nhí ấy mà không yêu quý tôi? Sao mỗi lần tôi gợi chuyện "vàng và ngọc" anh lại cuống cuồng lên? Trong bụng Bảo Ngọc lại nghĩ: tôi thế nào cũng được, chỉ cần cô vui, dầu vì cô mà phải chết ngay tôi cũng bằng lòng. Đại Ngọc đáp lại trong lòng: anh chỉ nên lo phần anh thôi, anh tốt thì tự nhiên tôi cũng tốt; lỗi ở anh chính là lỗi ở tôi. Thế là anh không muốn cho tôi gần anh, mà lại làm cho tôi phải xa anh.

Ngoài lối tự bạch, còn có những thủ pháp biểu hiện nội tâm khác: xen vào vài động tác, điểm vài nét tả cảnh, gợi ý bằng cảnh mộng, giấu ẩn ý trong lời thơ. Trong Hồng lâu mộng đâu đâu cũng thấy, như đoạn Đại Ngọc chôn hoa, Bảo Ngọc bị đòn, khám xét vườn Đại Quan.

Nỗi lo riêng của Thám Xuân và hoa rụng của Bảo Ngọc

Mỗi người buồn theo một cách, và cách buồn ấy nói về họ nhiều hơn mọi lời giới thiệu.

Thành công khắc hoạ nội tâm của truyện còn nằm ở chỗ cá tính hoá hoạt động tâm lý: gắn nỗi lòng với đúng tính cách người mang nó. Thám Xuân là người hay nghĩ. Ở hồi thứ 95, hoa hải đường nở quái gở, viên ngọc mất đi càng lạ lùng, rồi Nguyên phi qua đời; Thám Xuân đoán việc nhà không lành, ngày ngày buồn bực, còn bụng dạ nào mà khuyên Bảo Ngọc.

Với Bảo Ngọc, một đoạn tự bạch tả sự đồng cảm cũng tuyệt vời không kém. Nghe Đại Ngọc khóc hoa ở hồi thứ 27, cậu đứng trên sườn núi lặng nghe. Đại Ngọc ngâm những câu sau:

Hoa bay, hoa rụng ngợp trời, hồng phai hương lạt ai người thương hoa?
Ba trăm sáu chục thoi đưa, gươm sương dao gió những chờ đâu đây.
Giờ hoa rụng có ta chôn cốt, chôn thân ta chưa biết bao giờ?
Chôn hoa người bảo ngẩn ngơ, sau này ta chết ai là người chôn?
Ngẫm khi xuân muộn hoa tàn, cũng là khi khách hồng nhan về già.
Hồng nhan thấm thoát xuân qua, hoa tàn người vắng ai mà biết ai!

Bảo Ngọc đầu tiên chỉ gật đầu than thở, đến khi nghe rõ mấy câu chốt thì đứng ngẩn người, bất giác ngã vật trên sườn núi, hoa nhặt được trong tay rơi vãi khắp đất. Cậu nghĩ ngay đến Đại Ngọc sắc đẹp như hoa, mặt sáng như trăng, rồi sẽ có lúc không còn tìm thấy nàng nữa, lẽ nào chẳng đứt ruột nát gan. Đại Ngọc đã có lúc không tìm thấy, suy ra Bảo Thoa, Hương Lăng, Tập Nhân cũng đều thế cả. Bọn họ đã vậy thì thân mình sẽ ở đâu? Thân mình còn chẳng biết ở đâu, đi đâu, thì nơi này, vườn này, hoa này, liễu này biết thuộc về ai? Cậu cứ nghĩ miên man hết chuyện này sang chuyện khác, tự hỏi liệu có gỡ được mối đau thương ấy chăng.

Đêm tân hôn của Bảo Thoa và lời nói nhầm người của Bảo Ngọc

Có một nỗi đau không được phép kêu lên, vì người mang nó là người đang bị đặt giữa chiếc kiệu hoa.

Lối khắc hoạ nội tâm của Hồng lâu mộng tế nhị, mượt mà đến mức chưa từng thấy, dù dưới ngòi bút Tào Tuyết Cần hay Cao Ngạc đều tuyệt vời. Hãy xem chuỗi hoạt động nội tâm của Bảo Thoa trong đêm tân hôn ở hồi thứ 97 và 98: nó phơi bày sâu sắc tâm lý phức tạp, hối hận và đau khổ của một thục nữ phong kiến. Bảo Ngọc lật khăn che đầu cô dâu, phát hiện không phải Đại Ngọc: hai mắt trợn ngược, chẳng nói nửa lời. Phượng Thư và Vưu thị mời Bảo Thoa vào nhà trong ngồi; nàng cúi đầu không nói gì, rồi làm như không nghe thấy gì mà cởi áo đi nằm. Nàng đã biết rõ sự việc, trong lòng oán mẹ làm việc hồ đồ, nhưng sự việc đã đến nước này nên chẳng nói thêm.

Về sau, Bảo Thoa dứt khoát nói thẳng với Bảo Ngọc rằng Đại Ngọc đã chết. Mặc cho người ta chê bai, nàng không để ý, chỉ dò xem tâm bệnh của Bảo Ngọc ở đâu để chữa ngầm. Những đoạn ấy tả nội tâm Bảo Thoa và làm nổi bật tính cách nàng, có thể nói đã chạm đến đỉnh điểm.

Lại như hồi thứ 32, Bảo Ngọc nói với Đại Ngọc ba tiếng tâm tình "Em yên tâm", Đại Ngọc lau nước mắt bước đi, Bảo Ngọc đứng lặng trong vườn. Sau đó cậu nhầm Tập Nhân thành Đại Ngọc, và đoạn thổ lộ nỗi lòng ấy khiến Tập Nhân sợ đến "hồn siêu phách lạc", rơi lệ, ngầm lo tìm cách tránh cho họ "những việc khó tránh khỏi sau này". Đủ thấy sức hấp dẫn của lối tự bạch. Lời cậu như sau:

Em ơi, tấm lòng anh lâu nay không dám nói ra, hôm nay mới dám mạnh dạn thổ lộ, dù có chết cũng cam lòng! Anh vì em mà mang bệnh, lại không dám nói với ai, cứ canh cánh trong lòng, mong em khỏi bệnh, bệnh của anh mới mong khỏi được. Trong giấc ngủ, trong cơn mơ cũng không quên được em.

Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 2 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện