Bài tổng quan
Hơn bốn trăm nhân vật và bốn lối đoán điều ẩn giấu
Soi mặt phải thấy người đẹp vẫy tay, soi mặt trái chỉ thấy bộ xương. Chiếc gương ấy khiến bốn nhóm người đọc cùng một bộ truyện mà thấy bốn câu chuyện khác nhau ẩn đằng sau…
Hai chữ Ngọc ở trung tâm và hơn bốn trăm người vây quanh
Kết cấu nhân vật là tiêu chí quan trọng để đánh giá thành công của một bộ tiểu thuyết, và ở đây nó đặc biệt xuất sắc, có thể nói chưa từng có. Các tiểu thuyết viết trước đó dùng kết cấu đơn tuyến nên nhân vật cũng nối theo mặt cắt, kể hết người này mới sang người khác. Hồng lâu mộng khác: do kết cấu nhiều tuyến đan xen, nhân vật trung tâm, nhân vật chính và nhân vật phụ nối với nhau xuyên suốt cả bộ.
Giả Bảo Ngọc là nhân vật trung tâm, Lâm Đại Ngọc là nhân vật phụ chủ yếu, những người khác được đưa vào đầu cuối làm nền để tôn nhân vật chính, tạo nên bố cục mới lạ, mở một mẫu mới cho kết cấu nhân vật của tiểu thuyết Trung Hoa. Toàn truyện tuy có hơn bốn trăm người nhưng nhân vật chủ yếu chỉ hai người Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc; như lời bình trong bản Giáp Ngọ, nhân vật chính của toàn bộ chỉ có hai Ngọc. Ngoài ra mười hai Kim Thoa là nhân vật làm vệ tinh. Những nhân vật tương đối có phân lượng chỉ hơn hai mươi người, chưa đến một phần hai mươi tổng số, nhưng trong truyện lại thấy đông đúc, có khí thế và trước sau phân rõ chính phụ.
Điều tuyệt diệu thứ nhất: nhân vật bước ra theo từng cặp so sánh
Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc xuất hiện đầu tiên qua lời mở màn của Lãnh Tử Hưng kể chuyện phủ Vinh ở hồi hai. Tiếp đó có hẳn hồi ba để nhân vật chính xuất hiện, với hồi "Lâm Đại Ngọc từ biệt cha lên kinh đô", rồi qua con mắt Đại Ngọc mà Giả Bảo Ngọc cùng những nhân vật phụ trọng điểm như Kim Lăng thập nhị thoa, Giả Mẫu, Vương phu nhân, trừ Bảo Thoa, lần lượt hiện ra. Tiếp theo là hai màn lớn, cái chết của Tần Khả Khanh và Giả Nguyên Phi về thăm nhà, để đưa phần lớn nhân vật xuất hiện, rồi theo diễn biến tình tiết đưa tiếp các lớp khác. Lối đưa nhân vật ra trong những dịp lớn có ưu thế là dùng so sánh để biểu lộ hình tượng, cá tính, tránh được những chi tiết vụn vặt đưa người ra lắt nhắt.
Chẳng hạn ba chị em Nghênh Xuân, Thám Xuân, Tích Xuân cùng xuất hiện, chỉ vài câu đủ so sánh khắc họa ba cá tính khác nhau: "Một chốc, thấy ba người vú, năm sáu a hoàn dẫn ba cô đến, cô thứ nhất người nở nang tầm thước, nước da nõn nà, má đỏ hồng hào như quả vải tươi, mũi loáng như xoa kem, tính nết ôn hòa kín đáo, thoạt nhìn đã thấy mến. Cô thứ hai vóc dáng tròn trặn, người dong dỏng cao, mặt trái xoan, mắt sáng lông mày dài, nhìn ngắm tình tứ, thanh tú khác thường, trông như thoát hẳn trần tục". Còn Vương Hy Phượng xuất hiện khi ai cũng im hơi lặng tiếng, khép nép nghiêm trang, trong tiếng cười lảnh lót: "Tôi đến chậm rồi". Bảo Ngọc thì xuất hiện khi a hoàn tươi cười bước vào báo tin "Cậu Bảo Ngọc đã về". Mỗi người một cách ra mắt, thật muôn màu muôn vẻ.
Điều tuyệt diệu thứ hai: chòm sao tôn trăng, hạc đứng giữa bầy gà
Nhân vật tuy rất nhiều nhưng chính phụ rõ ràng, đông mà không rối. Thủ pháp "chòm sao tôn nguyệt" và "hạc đứng trong bầy gà" luôn tạo điều kiện tôn nhân vật điển hình lên. Đoạn Giả Nguyên Xuân về thăm nhà, bà Lưu vào vườn Đại Quan, Bảo Ngọc bị đòn, Vương Hy Phượng giúp việc phủ Ninh, khám vườn Đại Quan đều là điển hình của thủ pháp này. Bà Lưu thuộc tầng lớp dưới nhưng qua nghệ thuật "sao tôn trăng" lại nổi bật thành một hình tượng điển hình. Khi khám vườn Đại Quan, Tình Văn dốc hòm, Thám Xuân chống lại việc khám xét, đều là những nét "hạc đứng giữa đàn gà". Đoạn Bảo Ngọc bị đòn và Nguyên Xuân thăm nhà lại càng nổi bật nghệ thuật dùng nhân vật vệ tinh tôn nhân vật chính.
Điều tuyệt diệu thứ ba: đường đi của người khớp với ẩn bút ở đầu truyện
Số phận, cảnh ngộ, kết cục của nhân vật được biểu hiện qua tình tiết buồn vui, tan hợp và cảnh hưng suy của gia đạo. Truyện khéo dùng phương pháp sáng tác tiềm thức ở năm hồi đầu: lấy điều mắt thấy tai nghe của Bảo Ngọc trong cảnh mộng du để ẩn bút cảnh ngộ các nhân vật chủ yếu. Về sau cảnh ngộ nhân vật cứ vận hành theo tuyến ẩn bút ấy. Trong "Kim Lăng thập nhị thoa chính sách", lời phán về một mỹ nhân treo cổ tự vẫn, "trời tình, biển tình là mộng ảo, mà tội dâm kia cũng bởi tình", thực là kết cục của Tần Khả Khanh. Trong "phó sách", câu "lòng tựa trời cao, thân thuộc hạ tiện" chẳng phải cảnh ngộ của Tình Văn sao? Khúc "Chung thân ngộ" trong mười hai khúc hát chẳng phải tả Đại Ngọc sao? Khúc "Uổng ngưng mi" nói đến kết cục bi kịch tình yêu của Bảo Ngọc và Đại Ngọc:
Một bên ngấm ngầm than phiền,
Một bên đeo đẳng hão huyền uổng công.
Một bên trăng dọi bên sông,
Một bên hoa nở bóng lồng trong gương.
Mắt này có mấy giọt sương,
Mà dòng chảy suốt năm trường được chăng?
Còn khúc "Phi điểu các đầu lâm" thì rõ ràng là kết cục của phủ họ Giả, kết cục của cả bộ truyện, cũng là mô tả sự suy vong ở thời kỳ cuối của xã hội phong kiến:
Quan thì cơ nghiệp suy tàn,
Giàu thì vàng bạc cũng tan hết rồi.
Có ơn, chết để trốn đời,
Rành rành báo ứng những ai phụ lòng.
Mạng đền mạng đã trả xong,
Lệ đền lệ, đã ròng ròng tuôn rơi.
Oan oan đừng lấy làm chơi,
Hợp tan đã trốn được trời hay chưa?
Gian nan là bởi kiếp xưa,
Giá mà phú quý là nhờ vận may,
Khôn thì vào cửa "không" này,
Dại thì tính mệnh có ngày mất toi.
Như chim khi đã hết mồi,
Bay về rừng thẳm đậu nơi yên lành.
Nhất là đoạn Bảo Ngọc mộng du, Cảnh Ảo tiên cô nhận xét chàng là "người dâm nhất thiên hạ xưa nay", cũng ám thị quan hệ của Bảo Ngọc với đám đàn bà trong lầu hồng.
Chiếc gương hai mặt: Phong nguyệt bảo giám và nghệ thuật ẩn hiện
Soi mặt phải thấy người đẹp vẫy tay, soi mặt trái chỉ thấy bộ xương, và cả bộ truyện được dệt trên cái lẽ ấy.
Cách giao hòa khéo giữa tuyến nổi và tuyến chìm, giữa ẩn và hiện, hư và thực, là điều tuyệt diệu nữa của nghệ thuật kết cấu. Cái cao của nó nằm ở thủ pháp sáng tác tiềm thức ngay từ đầu, khéo để ẩn bút khiến người đọc như nhìn thấy toàn cảnh từ trên cao qua điều nhân vật chính thấy trong cảnh mộng, sau đó theo sự triển khai của tình tiết lại gỡ dần từng điểm cho người đọc. Đó là sự giao hòa lớn nhất giữa tuyến chìm và tuyến nổi.
Truyện từng có tên "Phong nguyệt bảo giám", tức tấm gương soi trăng gió, là muốn ngầm báo người đọc rằng trong truyện còn nội dung mặt trái. Ở hồi mười hai, Giả Thụy bị Phượng Thư làm cho ốm tương tư, nằm bẹp trên giường, một đạo sĩ cho chàng chiếc gương khắc bốn chữ "phong nguyệt bảo giám" và dặn tuyệt đối không soi mặt phải, chỉ soi mặt trái. Giả Thụy không nghe; soi mặt trái chỉ thấy bộ xương người đứng trong gương, soi mặt phải thì thấy Phượng Thư đứng trong gương vẫy tay gọi. Điều đó cho thấy dưới ngòi bút Tào Tuyết Cần, bộ truyện có cả hai mặt chính diện và phản diện: chính diện là tiểu thuyết, phản diện là một câu chuyện ẩn giấu. Còn câu chuyện ấy là gì thì lâu nay vẫn tranh cãi giữa các "phái tìm điều ẩn".
Ngay câu mở đầu, tác giả đã nói với người đọc "có ý giấu những việc thực", nên soạn chuyện "Thạch đầu ký", đặt tên "Chân Sĩ Ẩn" (giấu sự thật) và dùng "Giả Vũ Thôn" (lời giả) để nói, nên năm tháng, triều đại, nơi chốn đều không thể khảo chứng. Rồi lại tự nói rằng chỉ ghi lại việc, không phải nói sằng, vì chẳng liên quan gì đến thời thế. Tiếp đó mượn chuyện Khổng Mai Khê ở Đông Lỗ viết tên "Phong nguyệt bảo giám" để ám thị hai mặt phải trái, mượn "Kim Lăng thập nhị thoa" cùng câu hỏi "ai hay ý vị chứa đầy ở trong" thành dấu hỏi lớn trong lòng người đọc. Hồi năm lại mượn đôi câu đối hai bên "Thái Hư ảo cảnh":
Giả bảo là chân, chân cũng giả
Không làm ra có, có rồi không.
Nên cả bộ có thể nói là thật thật giả giả, giả giả thật thật, khiến người ta chẳng biết đâu mà lần. Nếu không phải tác giả cố ý bày mê cung thì cũng là giấu điều gì, và từ đó sinh ra "phái tìm điều ẩn giấu" nghiên cứu những chỗ khuất của truyện.
Bốn phái đoán điều ẩn giấu và những lý lẽ của họ
Cùng đọc một bộ truyện, bốn nhóm người lại thấy bốn câu chuyện khác hẳn nhau ẩn sau tấm gương.
Phái chuyện tình của hoàng đế
Phái này cho rằng Hồng lâu mộng ẩn chuyện tình của hoàng đế Thuận Trị nhà Thanh với danh ca Đổng Tiểu Uyển. Đổng Tiểu Uyển nổi tiếng sắc tài vùng Tần Hoài, sau được vua thu nạp vào cung, phong quý phi. Khi bà mất, Thuận Trị đau buồn vô hạn, rời trần thế cắt tóc đi tu. Họ nắm lấy chuyện Không Không đạo nhân ở hồi một, người đổi tên "Thạch đầu ký" thành "Tình tăng lục", vì thấy "sắc" do "không" mà ra, tình do sắc mà có, tình hiện qua sắc rồi từ sắc trở về không. Phái này tiêu biểu là "Hồng lâu mộng tỏa ẩn" của Vương Mộng Nguyễn, Thẩm Bình Am, do Thượng Hải Trung Hoa thư cục xuất bản năm 1916.
Phái tiểu thuyết chính trị
Phái này cho rằng truyện ẩn chứa nỗi "thương vong quốc nhà Minh, vạch cái sai của nhà Thanh". Phụ nữ trong truyện chỉ người Hán, đàn ông chỉ người Mãn. Giả Bảo Ngọc nói đàn bà làm bằng nước, đàn ông làm bằng đất; theo cách giải thích chiết tự, chữ Hán của nước và của đất ứng với người Hán và người Mãn, thời Minh Thanh người Mãn còn bị gọi là Đạt Đạt, mà chữ "đạt" mở đầu bằng nét chữ "thổ". Họ cho rằng Giả Bảo Ngọc là thái tử Dận Nhưng của Khang Hy, Lâm Đại Ngọc là Chu Trúc Xá, và nói hai Thoa là văn nhân Hán nổi tiếng thời ấy, mục đích chính trị của truyện là tưởng nhớ nhà Minh chống nhà Thanh. Học giả tiêu biểu là Thái Nguyên Bồi với "Thạch đầu ký tỏa ẩn" xuất bản năm 1917; cùng dòng ấy còn có quan điểm "sử hưng vong Minh Thanh" của Đặng Cuồng Nhân với "Hồng lâu mộng thích chân" năm 1919.
Phái tự truyện
Tiêu biểu là Hồ Thích và Du Bình Bá, cho rằng Hồng lâu mộng là truyện tự thuật của Tào Tuyết Cần. Phái này từng đấu gay gắt với phái tỏa ẩn của Thái Nguyên Bồi, nhưng lại quên rằng đây là một bộ tiểu thuyết chứ không phải tự truyện.
Phái tình sát
Phái này căn cứ vào việc truyện được đặt tên "Phong nguyệt bảo giám", cho rằng mặt trước là tiểu thuyết nhưng mặt sau giấu chuyện Tào Thiên Hựu (tức Tào Tuyết Cần) cùng người tình là Hoàng quý phi Trúc Hương Ngọc bày mưu dùng đơn sa làm thuốc độc giết hoàng đế Ung Chính. Theo họ kể, Tào Tuyết Cần sinh ngày mùng ba tháng năm năm Khang Hy thứ 54 (4-6-1715) ở Nam Kinh, tên cũ Tào Thiên Hựu, từng đỗ khoa cử, làm quan đến chức Châu đồng. Người ông yêu là Trúc Hương Ngọc, ban đầu là con hát nhỏ nhà họ Tào mua về lúc sáu tuổi, chín tuổi làm bạn học cùng ông. Năm mười ba tuổi nhà họ Tào bị tịch biên, theo về Bắc Kinh; được bà thím của Tuyết Cần nhận làm con gái, rồi vào cung với thân phận tiểu thư nhà họ Tào. Năm Ung Chính thứ chín hoàng hậu chết; năm thứ mười Hương Ngọc mười bảy tuổi được tuyển làm Hoàng quý phi, sau tấn phong hoàng hậu. Hai mươi tuổi, bà phối hợp với Tuyết Cần dùng đơn sa hạ độc giết Ung Chính, về sau xuất gia làm ni cô và đoàn tụ với Tuyết Cần. Năm Càn Long thứ chín xảy ra chuyện, Hương Ngọc treo cổ tự vẫn, nhà họ Tào bị tịch biên lần thứ hai. Tuyết Cần trốn vào chùa một thời, khi qua nạn về ẩn ở Hương Sơn, vùi đầu viết Hồng lâu mộng và ẩn đoạn lịch sử ấy vào truyện. Các đoạn này được trích từ "Hồng lâu giải mộng" do ba chị em Hoắc Quốc Linh, Hoắc Kỷ Bình, Hoắc Lực Quân đề xướng, Nhà xuất bản Văn học Trung Quốc ấn hành năm 1995.
Văn học không phải tấm ảnh chụp đời thực
Có người đọc một bức tranh mà chỉ lo đi tìm người mẫu, quên mất rằng họa sĩ đã nhào nặn nhiều gương mặt thành một.
Bốn phái dùng chủ yếu những phép phân thân, hài âm, chiết tự và ghi năm để tìm chứng cứ trong tác phẩm theo quan điểm riêng. Họ dùng phép phân thân để đoán Tần Khả Khanh, Tiết Bảo Thoa, Tiết Bảo Cầm, Tình Văn, Diệu Ngọc, Nguyên Xuân, Hương Lăng… đều là phân thân của Đổng Tiểu Uyển hay của Trúc Hương Ngọc, rồi kết luận Lâm Đại Ngọc chính là Đổng Tiểu Uyển hoặc ám chỉ Trúc Hương Ngọc. Họ dùng chiết tự: trong bài thơ "Thanh Lương Sơn tán Phật" có câu "thương thay thiên lý thảo, úa tàn hết màu sắc", thiên lý thảo là chữ "Đổng" của Đổng Tiểu Uyển. Họ nắm câu chuyện con chuột tinh hóa gái đẹp Bảo Ngọc kể ở hồi mười chín mà khẳng định Đại Ngọc tức Hương Ngọc. Họ dùng hài âm để nói Giả Chính là hoàng đế Ung Chính Dận Chân, thậm chí Giả Kính tu đạo uống đơn sa chết chính là hình ảnh Ung Chính bị Tuyết Cần và Hương Ngọc hợp mưu đầu độc. Có người còn đem kết cấu phủ Ninh ví như hoàng cung, hay lấy Giả Chính, Giả Xá, Giả Liễn, Lý Hoàn ví như bốn bộ Lại, Hình, Hộ, Lễ.
Điểm chung của phái này là tin rằng bộ tiểu thuyết đã ẩn một sự thật nào đó của lịch sử, lý do là những vụ án chữ nghĩa đời Thanh xử rất nặng nên tác giả phải dùng thủ pháp mặt chính thì lộ ra, mặt trái thì giấu đi. Nhưng chuyện họ tìm không thấy trong Thanh sử lẫn dã sử, họ đành nói sử gia không dám chép. Những điều họ tìm đều liên quan đến hoàng đế, danh kỹ, nên thường khiến một số người thích thú.
Song sáng tác văn học là phản ánh hiện thực, không có nghĩa là ghi chép đời sống. Trong tiểu thuyết có bóng dáng đời thực, nhưng nhân vật đều là hình tượng đã được điển hình hóa, khái quát hóa và nghệ thuật hóa; dù có một số trải nghiệm của tác giả, cũng không chỉ là từng trải cá nhân. Nhân vật là sự tô tạo hình tượng chứ không phải ảnh chụp nhân vật thật, nếu không đã chẳng là tiểu thuyết. Chỉ hoàn nguyên, đối chiếu nhân vật một cách giản đơn máy móc là trái với nguyên tắc phê bình văn nghệ. Phái tìm điều ẩn nghe tin đồn một số tình tiết rồi mới đi tìm chứng cứ trong truyện, nên khó tránh so sánh khiên cưỡng, cũng khó tin. Tuy các tác phẩm của họ thu thập, viện dẫn rộng, dài hàng trăm nghìn chữ, nhưng ở những điểm mấu chốt thì dẫn chứng lại thiếu sức thuyết phục. Dù vậy phái này vẫn có giá trị tồn tại như một nhánh của việc nghiên cứu Hồng học, và về nghệ thuật sáng tác, nhất là thủ pháp hư thực ẩn hiện, cũng có giá trị tham khảo.
Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa, tập 2, thuật lại có lược bớt.
