Bài tổng quan
Thiền tông từ nụ cười Ca Diếp đến người bán củi Tuệ Năng
Đức Phật cầm một bông hoa sen mà không nói gì, cả hội chúng ngơ ngác, chỉ một người khẽ mỉm cười. Hàng trăm năm sau, nụ cười ấy lại gặp một chàng trai bán củi đứng nghe người ta tụng kinh giữa chợ. Điều gì được trao đi mà không cần một chữ?
Thiền tông: nét riêng nhất của đạo Phật trên đất Trung Hoa
Thiền tông là đặc điểm riêng biệt của việc Trung Hoa hóa đạo Phật, tông phái đại diện cho Phật giáo nơi đây và là dòng có ảnh hưởng lớn nhất. Điểm nổi nhất của nó là không lập văn tự, thấy tính thành Phật. Kinh điển chính là Đàn kinh và Kim cương kinh. Thiền tông phản đối việc ngồi thiền theo hình thức, vì cho rằng Phật tính luôn ở trong lòng mỗi người.
Thời Đường, Tống, Thiền tông chia làm hai dòng chính. Bắc thiền lấy Thần Tú làm tổ, thịnh ở vùng Trường An, Lạc Dương. Nam thiền lấy Lục tổ Tuệ Năng làm tổ, chủ yếu sống trong dân gian phía Nam. Chỗ khác nhau căn bản là Nam thiền đề cao đốn ngộ, hiểu ra trong một khoảnh khắc; Bắc thiền nói tiệm ngộ, hiểu dần dần. Tư tưởng học thuật chủ yếu là không quán, và Tuệ Năng là người đi tới tận cùng của lối không quán ấy.
Thiền tông hưng thịnh đời Đường, rực rỡ đời Tống, với nét linh hoạt, giản dị. Lý học đời Tống Minh lúc đó đã trở nên cứng nhắc, và chính cái cứng ấy khơi dậy sự phát triển của tâm học. Đồng thời, nhờ Thiền hóa Lý học đời Tống Minh, Thiền tông lên tới đỉnh cao trong thời Tống. Nhưng chính Thiền tông cũng tự đào mồ chôn tổ: coi thường lý luận, đào gốc rễ của mình, cuối cùng phủ định cả bản thân và rơi vào cảnh tự sinh tự diệt. Đó là tấm gương cho bất kỳ nền văn hóa nào xem nhẹ lý luận, tự đào gốc rễ của mình thì chắc chắn dẫn tới diệt vong.
Thiền và Thiền tông: hai khái niệm khác nhau
Cùng một chữ nhưng một bên là phương pháp, một bên là cả một dòng đạo.
Chữ Thiền trong tiếng Phạn là Dhyana, âm Hán là Thiền na, dịch là tĩnh lự, tư duy tu, có nguồn từ phép Du già trong Phật giáo Ấn Độ. Thiền là phương pháp tu của đạo Phật Ấn Độ, còn gọi là thiền định. Định ở đây chính là định trong bộ ba giới, định, tuệ, tức định tâm để sinh tuệ, và mục đích là bước vào cõi Phật. Thiền định là dáng ngồi kết già, xếp bằng tròn, điều hơi thở để định tâm khi tham thiền. Nhưng phép tu của thiền thật ra gồm cả giới, định, tuệ chứ không chỉ là điều hơi thở để định tâm. Đó là phương pháp tu ở trình độ cao của nhà Phật. Mục đích không phải để thân thể khỏe mạnh mà để đạt tới cảnh thiền, tức cõi Bồ đề, Niết bàn. Phương pháp ấy phổ biến trong đạo Phật chứ không riêng gì Thiền tông. Vì vậy khái niệm Thiền và khái niệm Thiền tông hoàn toàn không giống nhau.
Thiền có nhiều loại, nhưng đều có tôn chỉ chung là sắc định. Sắc trong nhà Phật là chỉ thế giới vật chất, còn gọi là sắc giới. Mục đích của định là rời vọng niệm đến từ sắc giới, dứt phiền não của dục giới. Cho nên cảnh giới cuối cùng của thiền định là muôn duyên đều lắng, không vướng bụi trần, cùng với tự nhiên hòa làm một mà đạt tới cõi Phật. Đó là cảnh cao nhất của tu thiền.
Thiền tông là tên một giáo phái chủ yếu của Phật giáo Trung Hoa, tức Phật giáo Ấn Độ đã Trung Hoa hóa, bắt nguồn từ thời Đông Hán, nảy nở thời Lương, Tấn, rực rỡ thời Đường, Tống, bắt đầu suy từ thời Nguyên, Minh. Việc tu của Thiền tông dựng trên nền thiền Ấn Độ nhưng đưa cái tĩnh của thiền lên thành cái ngộ, đưa cái hư không vô vọng lên thành vật ngã hợp nhất. Đó là chỗ khác nhau giữa cảnh giới Thiền tông và cảnh giới của Thiền na.
Từ khi Bồ Đề Đạt Ma sang Trung Hoa truyền đạo, thu nhận đệ tử, đến sau ngũ tổ Hoằng Nhẫn, hai đại đệ tử là Thần Tú và Lục tổ Tuệ Năng chia thành Bắc thiền và Nam thiền; về sau Nam thiền lại chia thành năm tông bảy phái. Tư tưởng chủ yếu lấy Bát nhã của Đại thừa làm gốc, tôn Kim cương kinh và Lăng già kinh, lấy Đàn kinh làm lý luận chính. Lịch sử và việc truyền giáo của Thiền tông được chép trong Cảnh Đức truyền đăng lục và Ngũ đăng hội nguyên. Thiền tông còn nhiều ngữ lục như Chỉ nguyệt lục, Bách Trượng ngữ lục, đều là tài liệu quý. Nói không lập văn tự nhưng Thiền tông vẫn để lại rất nhiều sách vở. Y bát là vật truyền đời; Nam thiền tự cho đức Thích Ca nhón hoa, Ca Diếp mỉm cười là chuyện khởi đầu, về sau là Đạt Ma, rồi nhị tổ Tuệ Khả, tam tổ Tăng Xán, tứ tổ Đạo Tín, ngũ tổ Hoằng Nhẫn, lục tổ Tuệ Năng, kế đó là Mã Tổ, Thạch Đầu. Nam tông của Tuệ Năng truyền ở phương Nam, lấy không lập văn tự, chỉ thẳng vào lòng người làm kim chỉ nam, dần dần thành đại diện của Phật giáo Trung Hoa.
Toàn bộ ý sâu xa của Thiền tông gói trong một chữ tâm. Tâm ấn truyền nhau; tự tính, tức tâm, chính là Phật; mọi Phật pháp đều nằm trong tâm tính của mình; chỉ cần ngộ tự tâm là ngộ được vạn pháp. Vì vậy Thiền tông thực chất là tâm tông, và điều cốt lõi là vật và ta hòa làm một nhờ sợi dây của tâm. Đó là trọn ý của lời: ngoài giáo ngoài truyền, không lập văn tự, chỉ thẳng lòng người, thấy tính thành Phật.
Ngồi thiền hay mài gạch thành gương
Thiền định, hiểu theo nghĩa sâu, là cái tĩnh của một niệm lặng, xa rời động và vọng niệm. Định là phá sự mê chướng của sắc giới. Mục đích cuối cùng của thiền định là bước vào cõi thiền: rời dục giới, dứt phiền não, phá mê chướng của sắc, không nhiễm bụi và vật ngã hợp nhất. Tuệ Năng nói rõ:
Ngoại ly tướng viết Thiền. Nội bất loạn viết Định. Ngoài chấp tướng thì trong tâm loạn; ngoài lìa tướng thì tâm tính không loạn.
Ngoài lìa tướng là thiền, trong không loạn là định, ngoài thiền mà trong định gọi là thiền định. Tướng ở đây là hình dáng, hình thức của sự vật. Hoa Nghiêm tông nói mọi pháp do duyên khởi đều có sáu tướng: tổng tướng, biệt tướng, đồng tướng, dị tướng, thành tướng, hoại tướng. Ngoại ly tướng nghĩa là không bị sự vật bên ngoài làm vướng, kể cả sắc tướng, tức vật chất, văn tự tướng, tức khái niệm trừu tượng, và cảnh tướng, tức môi trường bên ngoài.
Thiền tông không câu nệ sự trói buộc của hình thức tâm linh. Thần Hội nói: nay nói đến chữ tọa, ấy là niệm không khởi; nay nói đến chữ thiền, ấy là thấy bản tính; bởi vậy không dạy người ngồi thân, trụ tâm, nhập định. Nếu nói về chỗ sâu của thiền định thì như chim bay giữa trời, như cá trong nước; còn thiền tư là sự tự do trọn vẹn của tâm linh sâu thẳm, như ngọn gió mát trên bầu trời, như tia sáng mặt trời tự do không bị cản. Đó cũng là điều gọi là không chỗ nào chặn của Thiền tông, và cho thấy Thiền tông Trung Hoa đã đi xa hơn nhiều so với thiền na của Ấn Độ.
Thiền tông nhấn mạnh tham thiền không cần câu nệ hình thức; cơ thiền nằm trong mọi sinh hoạt hằng ngày, một thiền sư chân chính thì lúc nào cũng là thiền. Tuệ Năng nói trong Đàn kinh: thiền định là gì? Trong pháp môn này, mọi thứ không ngại; ngoài với mọi cảnh giới mà một niệm không khởi là tọa, thấy bản tính không loạn là thiền.
Điểm khác nhau giữa tọa thiền và khí công không phải ở chỗ điều hơi thở mà ở chỗ tịnh tâm. Mấu chốt của khí công là vận khí, hoàn toàn không mang màu tôn giáo, nên không thể vào được cõi thiền. Tọa thiền là một phương pháp tu của đạo Phật, nên không thể đem khí công và tọa thiền ra bàn chung. Nhưng khí công cũng có cảnh vật ngã hợp nhất như Phật gia và Đạo gia, tuy đó không phải là mục đích của khí công.
Tọa thiền chỉ là cách tập thiền, không phải mục đích. Có chuyện Mã Tổ lúc đầu chỉ chăm chăm vào dáng ngồi. Thầy ông là hòa thượng Hoài Nhượng, muốn mở mắt cho trò, bèn cầm một viên ngói ra mài. Mã Tổ hỏi: mài gạch để làm gì? Thầy đáp: mài thành gương để soi. Mã Tổ nói: mài gạch sao thành gương được? Thầy hỏi lại: mài gạch đã không thành gương thì ngồi thiền sao thành Phật được? Vậy phải làm thế nào mới thành Phật? Như chiếc xe bò kéo, nếu xe không đi thì nên đánh bò hay đánh xe? Thiền không phải là ngồi hay nằm. Con chỉ chăm vào dáng ngồi, tức là chưa hiểu thiền. Mã Tổ cuối cùng hiểu ra. Thiền định là tâm định chứ không phải dáng định; dáng chưa định nhưng tâm có thể định; tâm không định mà dáng định thì không phải thiền định. Tâm con người có tình cảm, cái định của tâm không phải là cái định của cây cỏ gỗ đá.
Tóm lại, giác ngộ Phật tính không kể giờ phút, điều cốt yếu là tham thiền chứ không phải cách ngồi, Phật tính luôn hiện diện trong tâm mình, không phải chỉ ngồi tĩnh mới là Phật. Thiền tông phản đối tọa thiền vì cho rằng cái ngộ không đến từ việc vắt óc suy nghĩ trong lúc ngồi tĩnh, mà phải liên tục qua lao động và thực tế mới đạt được. Vì thế Thiền tông rất coi trọng thực hành, và nếp cao đẹp một ngày không làm thì ngày ấy không ăn chính là dựng trên nền thực tế ấy.
Thiền có trước khi Đạt Ma đặt chân đến
Người ta hay tưởng thiền bắt đầu từ một vị tăng ngồi quay mặt vào vách, nhưng gốc của nó lùi xa hơn nhiều.
Thiền Trung Hoa nảy mầm rất sớm. Đời Lương, trước khi Đạt Ma tới, đã có Thiền. Về lịch sử Thiền cổ đại có hai bộ sử đáng tin: Cao tăng truyện của Huệ Kiểu đời Lương, chép từ năm 519, và Tục cao tăng truyện của Đạo Tuyên đời Đường, chép từ đầu đời Lương đến năm Trinh Quán thứ mười chín, tức năm 645. Từ cuối đời Hán sang Tam Quốc đã có rất nhiều sách nói về cách học thiền, nên có thể thấy từ thế kỷ thứ hai đã có mầm của thiền học. Vì vậy Thiền Trung Hoa bắt nguồn rất lâu chứ không phải đến lúc Đạt Ma sang mới có.
Theo Cao tăng truyện, An Thế Cao, thái tử nước An Tức, đến Trung Hoa từ đầu đời Hán Hoàn Đế, dịch các kinh An ban thủ ý và Âm trì nhập, gồm mười hai môn, sáu mươi phẩm, và đem thiền Ấn Độ truyền tới đây. Lúc ấy Thiền Trung Hoa còn ở giai đoạn đầu, lấy thiền Ấn Độ làm chủ, chịu ảnh hưởng lớn của Đại thừa. Các vị cao tăng như Đạo An, Tuệ Viễn dịch nhiều kinh Phật, truyền tư tưởng và phép thiền, đồng thời dạy đệ tử, góp phần không nhỏ cho Thiền Trung Hoa.
Giai đoạn hai là Trung thiền, từ Bồ Đề Đạt Ma đến Lục tổ Tuệ Năng, lúc Thiền tông bắt đầu truyền nối đời và dần thành hệ thống. Sau ngũ tổ Hoằng Nhẫn, hai đại đệ tử lập ra Bắc thiền với Thần Tú và Phổ Tịch, Nam thiền với Tuệ Năng và Thần Hội. Đó là thời nảy nở rực rỡ hơn bốn trăm năm từ Đường tới Tống. Tiệm tu của Bắc thiền và đốn ngộ của Nam thiền làm thành hệ tư tưởng của Thiền tông.
Giai đoạn ba là Vãn thiền, lấy ngũ gia thất phái làm chính, lúc Nam thiền nở rộ. Bắc thiền bị một đòn nặng không gượng dậy được, Nam thiền dần đứng đầu. Ngũ gia thất phái khởi từ hai đại đệ tử là Mã Tổ và Thạch Đầu, truyền được hơn mười đời, thiền phong sôi nổi, thiền sư nối nhau xuất hiện, đồng thời thay đổi quan niệm không lập văn tự, nên nhiều ngữ lục của Thiền tông còn truyền lại. Nhất là thời Đường, Tống, sau khi sửa quy tắc thiền và thực hành Bách Trượng thanh quy, Thiền tông càng phát triển, thay vị trí của Phật giáo Ấn Độ đã suy, còn đứng đầu Phật giáo thế giới, ảnh hưởng sâu đến Phật giáo Nhật Bản và Đông Nam Á.
Nhón hoa mỉm cười và lời Đạt Ma nói với một vị vua
Thiền gia cho rằng Thiền tông bắt nguồn từ phép Du già của Ấn Độ, còn Thiền tông thì kể bắt nguồn từ chuyện nhón hoa, mỉm cười. Một lần thuyết pháp, đức Thích Ca cầm một bông hoa sen mà không nói. Chúng tăng không hiểu ý, chỉ có Ma Ha Ca Diếp khẽ mỉm cười. Đức Phật biết chỉ ông ngộ, bèn nói: ta có chính pháp nhãn tạng, diệu tâm Niết bàn, pháp môn vi diệu của thực tướng là vô tướng, nay giao cho Ca Diếp, đem lối không lập văn tự, truyền ngoài giáo mà để lại hậu thế. Vì vậy Thiền tông coi đức Thích Ca là thủy tổ và Ca Diếp là nhị tổ. Nguồn chuyện này nằm trong Cảnh Đức truyền đăng lục, bộ sử riêng của Thiền tông. Chính nhãn pháp tạng là gì? Chính là chính tông của Phật học; pháp là tôn chỉ của Phật học; nhãn là tâm của Phật học; tạng là chứa đủ vạn đức. Tức là mắt Phật thanh tịnh, là chính pháp tối cao của Phật học.
Về Đạt Ma, theo truyền thuyết, năm 520 ông tới Quảng Đông. Lương Vũ Đế nghe tin liền triệu về Kim Lăng. Nhà vua tự cho mình mộ Phật, xây chùa, chép kinh, độ tăng nhiều không kể xiết, hỏi có công đức gì. Đạt Ma đáp: không có công đức. Vua hỏi vì sao. Ông nói: đó chỉ là cái nhân nhỏ của cõi trời người, có sót lậu, như bóng theo hình, tuy có mà không thật. Vua hỏi: thế nào là chân công đức? Ông nói: trí tuệ trong sạch, tròn đầy, thể vắng lặng, công đức như thế không thể lấy thế gian mà cầu. Vua hỏi: thế nào là thánh đế, nghĩa thứ nhất? Ông đáp: rỗng suốt không có thánh. Vua hỏi: ai đối diện với trẫm đây? Ông đáp: không biết. Vua không lĩnh hội, hai bên không hợp nhau. Đạt Ma bèn lên chùa Thiếu Lâm trên Tung Sơn, ngồi quay mặt vào vách, suốt ngày lặng lẽ, người ta không biết ông làm gì. Có người nói ông ngồi như thế chín năm.
Rồi tới chuyện Tuệ Khả. Một đêm tháng chạp, tuyết lớn, Tuệ Khả đứng trong sân không động, tuyết phủ qua đầu gối. Đạt Ma hỏi ông đứng lâu trong tuyết cầu việc gì. Tuệ Khả khóc nói: xin thầy từ bi mở cửa cam lộ, độ khắp chúng sinh. Đạt Ma nói: đạo vô thượng của chư Phật phải trải nhiều kiếp tinh tiến mới theo được, làm sao dùng chút đức nhỏ, chút trí nhỏ, lòng khinh lòng mạn mà mong cầu chân thừa, chỉ uổng công khổ nhọc. Tuệ Khả nghe xong, lặng lẽ cầm dao chặt cánh tay trái, đặt trước thầy. Đạt Ma biết đó là người đủ sức đón pháp, nói rằng chư Phật thuở đầu cầu đạo vì pháp quên mình, nay con chặt tay trước mặt ta, cũng có thể làm được, rồi đặt tên cho ông là Tuệ Khả. Tục cao tăng truyện lại chép cánh tay ấy bị cướp chém. Dù là tự chặt hay bị chặt, trong thiền giới Tuệ Khả vẫn được người ta tôn trọng và truyền tụng, là nhân vật có ảnh hưởng.
Người con trai bán củi nghe một câu kinh
Có một câu kinh nghe giữa chợ, làm một người con hiếu từ biệt mẹ để đi thật xa tìm thầy.
Lục tổ Tuệ Năng là người Quảng Đông, họ Lư. Tổ tiên vốn ở quận Phạm Dương, cha là Lư Hành Thao, làm một chức quan nhỏ, sau bị cách chức, đày đến Tân Châu. Năm ông ba tuổi cha mất, mẹ ở vậy nuôi con trong cảnh nghèo, hằng ngày ông đi chặt củi đem bán. Một hôm ở chợ ông nghe người ta tụng Kim cương kinh đến câu không trụ vào đâu mà sinh cái tâm ấy, trong lòng cảm ngộ, bèn hỏi khách rằng pháp này là pháp nào, ai truyền. Khách đáp đó là kinh Kim cương do đại sư Hoằng Nhẫn ở chùa Hoàng Mai dạy. Ông về thưa với mẹ, rồi đi thẳng tới Thiều Châu, nghe nói tổ Bồ Đề Đạt Ma truyền tâm ấn cho Hoằng Nhẫn nên tìm đến đó.
Ban đầu ông không được coi trọng. Về sau nhờ bài kệ ông làm, nói rằng bồ đề vốn không có cây, gương sáng cũng chẳng phải đài, xưa nay không có một vật, bụi bám vào đâu, mà ông được ngũ tổ Hoằng Nhẫn nhìn ra là người thấu ý thiền, chọn làm người nối pháp. Hoằng Nhẫn truyền y bát cho ông và dặn gặp đất Hoài thì dừng, gặp đất Hội thì ẩn. Ông ẩn đạo ở Lĩnh Nam, sau mười sáu năm mới ra núi thụ giới. Vào ngày mồng tám tháng giêng năm đầu niên hiệu Nghi Phượng nhà Đường, ông tới Nam Hải thì gặp pháp sư Ấn Tông ở chùa Pháp Tính đang giảng kinh Niết bàn. Ấn Tông lấy lễ đệ tử mà hỏi lý lẽ huyền diệu của thiền, rồi nói với bốn chúng rằng mình là kẻ phàm phu, nay gặp được nhục thân Bồ Tát, bèn bảo mọi người vào lễ Lục tổ. Đến ngày rằm tháng giêng, các bậc cao tăng tụ họp làm lễ, thụ giới cho ông, về sau ông trở về Tào Khê.
Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 4, thuật lại có lược bớt.
