Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Tham đồng khế và Bão Phác Tử: hai lối luyện đan

Đạo Học - Khuyên Thiện03/10/202610 phút đọc4 lượt đọc
Tham đồng khế và Bão Phác Tử: hai lối luyện đan

Có một thời, người cầu tiên nấu chu sa, chì, thủy ngân trong lò rồi uống thuốc đã luyện, và không ít người ngộ độc. Giữa lúc danh tiếng nghề đan tụt xuống thấp nhất, một người đã quay vào trong, lấy chính thân mình làm lò...


Khi lò đan ngoài làm người ta ngộ độc

Có một thời dài, người cầu tiên nghĩ rằng chỉ cần nấu ra được một viên thuốc đủ mầu nhiệm thì có thể sống mãi. Họ lấy chu sa, chì, thủy ngân bỏ vào lò, đốt lửa ngày đêm, rồi uống thuốc đã luyện. Kết quả là nhiều lần thất bại, thậm chí uống phải thuốc độc, đến mức danh tiếng của đan thuật Đạo giáo tụt xuống rất thấp. Chính trong lúc ấy, vào đời Đông Hán, một người tên Ngụy Bá Dương đã đổi hướng đi: ông đem dịch lý dẫn vào thuật luyện đan, kết hợp với tư tưởng của Lão Tử, và dựng thành một bộ lý luận nội đan trọn vẹn. Nhờ vậy, nghề đan được cứu khỏi cảnh sụp đổ, và việc luyện đan trong bước sang một chân trời khác.

Công pháp nội đan của Đạo gia là tinh hoa của lối tĩnh công trong Đạo giáo, và được xem là công pháp cao nhất của người tu đạo. Mục đích không dừng lại ở chuyện giữ gìn sức khỏe, mà còn là một nếp tu kiên trì mang đặc điểm tôn giáo, thuộc phép tiên thuật. Việc tu trì của Đạo gia có hai mảng. Một là tiên thuật, tức luyện nội đan, thuộc phái đan đỉnh. Hai là thần thuật, tức bùa chú và triện, thuộc phái phù triện. Mục tiêu luyện là đạt tới cảnh giới tiên nhân, và vươn lên địa vị người nhân của nhà Nho, rồi thành Phật như lời nhà Phật.

Gọi là nội đan là nói theo so sánh với ngoại đan. Ngoại đan nấu thuốc ngoài thân bằng khoáng vật. Nội đan là phương pháp lấy thân mình làm lò, xây nền nội đan, luyện tinh hóa khí, để đạt tới chuyện kết đan thành tiên. Nội luyện là tinh túy của phái đan đỉnh. Kim chỉ nam về lý luận của nó là bộ đan kinh được tôn làm ông tổ của muôn đan kinh, tức Chu Dịch tham đồng khế.

Đó là cuốn kinh có giá trị vạch thời đại. Cách ứng dụng dịch lý một cách tinh tế vào việc tu luyện dưỡng sinh khiến nó được tôn làm tổ của vạn cuốn đan kinh. Từ đó, các sách về nội đan lấy dịch lý làm chỉ đạo đều lấy bát quái, thái cực đồ, Hà Đồ Lạc Thư làm khuôn mẫu. Đời Tống, Vô cực đồ của Trần Đoàn lại phát triển cách dùng lý thuyết tiên thiên hậu thiên bát quái và lý thuyết thái cực vào nội đan, làm đầy đủ thêm lý luận phản hoàn, thành bậc tu trì cao nhất của lý luận song tu tính mệnh, và trở thành tác phẩm lớn nối tiếp sau Tham đồng khế.

Hai tác phẩm ấy để lại ảnh hưởng sâu rộng cho nội đan. Lý luận nội đan nhờ thế không ngừng được nâng lên, phương pháp luyện không ngừng được cải tiến, dần dần trở thành một kho dưỡng sinh Trung Hoa có tầm ảnh hưởng rộng, góp phần vào việc chăm sóc sức khỏe của cả dân tộc. Đồng thời, sự lưu truyền của thuật nội đan cũng thúc đẩy rất mạnh sự phát triển của chính Đạo gia.

Cái lò trong thân và cái thước của mặt trăng

Cuốn kinh ấy nhìn thân người như một lò đan nhỏ, và nhìn nhịp thở như nhịp của trời đất thu nhỏ lại.

Cái tên Chu Dịch tham đồng khế có nghĩa là hợp nhất ba điều thành một tờ khế ước. Ba điều ấy là Thái Dịch, Hoàng Lão và lửa lò, tức sự tu dưỡng nên công. Trong thiên nói về loài với loài có câu ba đường cùng một gốc, đủ đường ra lối tắt. Cuốn kinh ấy khéo dung hợp, thông suốt, đưa dịch lý vào thuật luyện đan, làm giàu thêm sức sống của nội luyện. Từ chỗ là bước nâng cấp của ngoại đan, nội đan đã trở thành bảo bối của đạo học, và đến nay vẫn còn giá trị cho việc dưỡng sinh.

Tham đồng khế xem thân người như một chiếc lò đỉnh nhỏ, trong đó âm dương muôn biến chẳng rời nhau. Nó lấy Càn Khôn của Chu Dịch làm khung của đỉnh lò: Càn ở trên, Khôn ở dưới, giống như trời trên đất dưới. Câu âm ở trên, dương chạy xuống dưới chính là hình ảnh đó, lò ở trên và đỉnh ở dưới khớp nhau.

Khảm Ly được coi là dược vật, tức chất thuốc. Khảm là nước, Ly là lửa. Sự biến hóa của thuốc thật ra là sự biến hóa của âm dương nước lửa. Chì và thủy ngân giống nhau ở chỗ chúng đều mang tính của nước lửa âm dương. Thuật luyện đan trong và ngoài vì thế tương thông, giống như hai thứ chì và thủy ngân đều ứng với Khảm và Ly. Chẳng qua là có tinh thì có khí, có nước thì có lửa, cũng là chuyện thăng giáng của tinh khí, âm dương, nước lửa mà thôi.

Cách nhìn ấy cho việc luyện một thứ tự rất rõ: dựng lò, lập đỉnh trước, tức xác định thân là nơi luyện. Chọn thuốc sau, tức xác định cái gì cần giữ lại, cái gì cần hạ xuống. Cuối cùng mới tính lửa, tức lúc nào dùng nhịp thở mạnh, lúc nào dùng nhịp thở dịu. Ai đọc kỹ sẽ thấy mọi thứ đều quay về những hình ảnh quen của Dịch: trời trên đất dưới, nước lửa đổi chỗ, mặt trời mặt trăng đổi nhịp.

Hỏa hầu trong Tham đồng khế lấy bát quái nạp giáp nạp chi của Chu Dịch cùng sự ứng với ngày tháng làm nguyên tắc, và lý lẽ nằm ở chỗ âm dương tiêu trưởng. Khi dương lớn lên, âm nhỏ đi thì tiến dương hỏa. Khi dương nhỏ đi, âm lớn lên thì lui âm phù. Mục đích là làm cho nhịp tiêu trưởng của tinh khí trong thân khớp với sự vận hành của nhật nguyệt, đồng bộ với chu kỳ âm dương của trời đất, nhờ đó trong ngoài cùng một nhịp. Dù lấy mặt trời hay mặt trăng làm thước đo, nắm hỏa hầu vẫn có tính chu kỳ rất nghiêm. Đó cũng là điều tinh túy của cuốn kinh.

Cái khung để nắm nhịp ấy là sự ứng của sáu mươi bốn quẻ với ngày, tháng, năm, lấy mười hai quẻ làm đại diện cho từng chặng: Phục, Lâm, Thái, Đại tráng, Quải, Càn, Cấu, Độn, Bĩ, Quan, Bác, Khôn. Đó là mười hai quẻ tiêu tức nổi tiếng, đại diện cho chu kỳ tiêu tức của âm dương trong ngày, tháng, năm. Nửa đầu, từ quẻ Phục tháng mười một đến quẻ Càn, là lúc dương trưởng âm tiêu. Nửa sau, từ quẻ Cấu tháng năm đến quẻ Khôn tháng mười, là lúc âm trưởng dương tiêu. Lúc dương trưởng hợp với tiến dương hỏa, nhịp hít vào làm chính, cường độ thở tăng lên, tinh khí đi lên theo mạch Đốc. Lúc âm trưởng hợp với lui âm phù, nhịp thở ra làm chính, cường độ thở yếu dần, tinh khí đi xuống theo mạch Nhâm.

Lấy một ngày làm thước thì từ giờ Tý đến giờ Ngọ, và cũng là mùa xuân hạ trong năm, hợp với tiến dương hỏa. Từ giờ Ngọ đến giờ Tý, và mùa thu đông, hợp với lui âm phù. Lấy một tháng làm thước thì dùng bát quái để chia, theo cách nạp giáp: Càn và Khôn là đêm rằm đầy trăng và đêm cuối tháng, tức hai cực của âm dương. Cấn và Đoài là thượng huyền và hạ huyền, tức nửa đầu và nửa sau tháng, là điểm giữa của âm dương. Tốn và Chấn là lúc trăng bắt đầu sinh phách rồi dần sinh sáng, và như vậy gom đủ tám tiết của trăng. Từ cuối tháng đến rằm là dương lên âm xuống, đúng với tiến dương hỏa. Từ rằm đến cuối tháng là âm lên dương xuống, ứng với lui âm phù.

Từ đó Tham đồng khế chỉ ra một điều lớn. Thân người không phải một cá thể đứng riêng, mà là một chỉnh thể gắn với hoàn cảnh trong ngoài. Luyện đan dưỡng sinh chỉ có thể đạt tới mức cao của chuyện nuôi tính, kéo dài mệnh khi hòa được với hoàn cảnh quanh mình. Đó cũng là giá trị chính của cuốn kinh.

Cát Hồng và tin vào thứ không mục

Ở phía bên kia của cùng một chiếc lò, có một người tin rằng chỉ thứ gì lửa không thiêu nổi mới giúp con người sống lâu.

Cát Hồng đời Tấn để lại ba phép dưỡng sinh chính. Một là đề xướng công phu thai tức, lấy hơi thở của thai nhi làm kiểu mẫu. Hai là coi trọng phép phòng trung. Ba là đặc biệt đề cao thuật luyện đan. Phần nội thiên của Bão Phác Tử gồm mười quyển, trong đó chương Kim đan và chương Hoàng bạch chuyên về luyện đan.

Đóng góp chính ở đây là nêu ra phương pháp cụ thể của việc luyện, bổ sung những chỗ Tham đồng khế còn thiếu, và đồng thời, nhìn từ bên ngoài, mở ra con đường sớm nhất cho những thí nghiệm hóa học của Trung Quốc. Cát Hồng coi trọng luyện đan vì ông phản đối việc dùng thuốc cây cỏ. Ông nói: thuốc cây cỏ chôn xuống thì mục, nấu lên thì nát, đốt đi thì cháy thành tro, nó chẳng tự sống nổi thì làm sao làm người sống được.

Ngược lại, kim đan là thứ vật chất mà đốt lửa càng lâu thì biến hóa càng kỳ diệu. Vàng bỏ vào lửa, trăm lần luyện cũng không tiêu, chôn xuống đất cả đời cũng không rỉ. Ông cho rằng con người tìm ở ngoại vật cái bền chắc để làm cho mình bền chắc, như dầu mỡ nuôi ngọn lửa không tắt. Ông tin rằng một khi đã tin và uống kim đan thì có thể kéo dài tuổi thọ, thậm chí cải lão hoàn đồng.

Ông còn viết rằng cây cỏ đốt đi thì thành tro bụi, còn đan sa đốt đi thì thành thủy ngân, tích tụ lại lại hóa thành đan sa. Vì thế nó có thể làm người sống lâu, chỉ bậc thần tiên mới thấy rõ lẽ này. Rồi ông chuyên tâm luyện đan thạch. Trong quá trình ấy ông đã phát hiện hiện tượng thăng hoa trong phản ứng hóa học của khoáng chất, và quan sát được phản ứng hoàn nguyên giữa đan sa với thủy ngân oxy hóa. Từ đó tích lũy được nhiều kinh nghiệm cho nghề luyện kim, bào chế thuốc và hóa học của Trung Quốc. Bão Phác Tử nội thiên nhờ vậy trở thành bộ sách lớn của thuật luyện đan, và có thể gọi đó là bộ kinh điển của phép ngoại đan.

Đặt hai con đường cạnh nhau sẽ thấy một điều thú vị. Một bên đi tìm cái bất tử ngoài thân, trong lò, trong khoáng vật, và bằng chính con đường ấy đã chạm đến những quy luật hóa học đầu tiên. Bên kia, khi chiếc lò ngoài làm người ta trúng độc, họ quay vào lấy thân mình làm lò, và tìm thấy nơi dịch lý một chiếc bản đồ cho nhịp thở, nhịp tim, nhịp của trời đất. Một bên cho ta kinh nghiệm thực nghiệm, một bên cho ta khung lý luận. Cả hai đều là những cách người xưa gõ cửa chuyện sống lâu và sống khỏe.

Tóm lại, kinh điển tu luyện nội đan của Đạo gia là Chu Dịch tham đồng khế, và nó bắt nguồn từ dịch lý. Pháp bảo ấy có giá trị lớn trong luyện tập dưỡng sinh, và thấy rõ được con đường nuôi tính, kéo dài mệnh, tức sống lâu trường thọ.

Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 4, thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện