Bài tổng quan
Thái bình kinh: ước mơ âm dương hòa hợp, phép giữ một
Giữa những năm lũ lụt hạn hán liên miên, giặc nổi như ong, có người ngồi viết một bộ kinh dài cả trăm quyển để xin cứu vãn sự lệch lạc của trời đất. Họ định nghĩa hai chữ thái bình bằng một câu rất ngắn...
Một bộ kinh sinh ra giữa thời loạn
Trong kho kinh của Đạo giáo, Thái bình kinh là một bộ rất đặc biệt: vừa là kinh điển tôn giáo, vừa là một tác phẩm triết học có giá trị. Nguyên bản có tên Thái bình thanh lĩnh thư, gồm một trăm bảy mươi quyển, tác giả và năm ra đời đều chưa rõ. Theo ghi chép trong Hậu Hán thư, bộ kinh ấy chậm nhất đã có vào thời Hán Thuận đế. Sử cũ kể rằng thuở trước, đời Thuận đế, một người tên Sùng nhặt được bộ sách thần ở vùng Khúc Dương, tên là Thái bình thanh lĩnh thư, một trăm bảy mươi quyển, nội dung nói về âm dương ngũ hành, có thêm cả lời bói toán. Có người tâu lên vua rằng Sùng dùng sách ấy để làm điều mê tín. Sách bị thu lại, về sau lọt vào tay Trương Giác.
Bản được giữ trong Chính thống đạo tàng gồm một trăm mười chín quyển, thực tế chỉ còn năm mươi bảy. Nội dung phong phú, chủ yếu phản ánh tư tưởng thần tiên và quan niệm thái bình của Đạo gia thuở sơ khai, và là tác phẩm tiêu biểu của phái phù thủy trong Đạo giáo. Kinh được chia làm mười bộ theo thứ tự thiên can là giáp, ất, bính, đinh, mậu, kỷ, canh, tân, nhâm, quý, mỗi bộ mười bảy quyển. Bản tóm lược là Thái bình kinh sao, do đạo sĩ Lư Khâu Phương Viễn đời Đường biên soạn, mười bảy quyển, cũng được cất trong Đạo tàng.
Dĩ nhiên bộ kinh có những chỗ hạn chế, như phần phù chú, bùa thuật, nên người xưa còn gọi là sách thần. Lời bình trong Hậu Hán thư rằng sách bàn âm dương ngũ hành mà thêm thắt nhiều lời bói toán nhảm nhí không phải là vô căn cứ. Nhưng đằng sau lớp áo ấy là một cái nhìn về thế giới rất nhất quán, lấy âm dương làm hạt nhân.
Âm dương cân bằng thì thiên hạ yên
Thái bình kinh chịu ảnh hưởng sâu của tư tưởng âm dương trong Chu Dịch, đến mức mọi luận thuyết trong đó đều lấy âm dương làm gốc. Trên nền câu một âm một dương gọi là đạo, kinh coi một âm một dương là cái sở dụng, đem lý luận âm dương của Chu Dịch thu vào Đạo gia và dùng rất khéo. Đặc sắc nhất là phần dẫn tư tưởng âm dương hợp đức trong Dịch, nhấn mạnh sự cân bằng của âm dương, và đề xướng hòa hợp âm dương, thuận đạo đức. Đó cũng là cơ sở lý luận để kinh nói chuyện thái bình, và tư tưởng âm dương hợp đức xuyên suốt cả bộ kinh được xem là tôn chỉ thái bình của Đạo gia.
Chỗ cắm rễ xã hội của tư tưởng ấy rất rõ. Cuối thời Tây Hán, triều đình mục nát, giặc giã nổi như ong, xã hội chao đảo, điều nhân dân mong là được sống yên ổn thái bình. Cho nên lúc này nói chuyện âm dương hòa hợp là đúng với lòng người. Kinh viết rằng khí dương ổn định thì vạn sự phát sinh, khí âm ổn định thì vạn sự trưởng thành. Âm dương cân bằng thì thái bình yên ổn, âm dương chênh lệch thì sóng gió nổi lên.
Lý luận chủ yếu về hòa hợp là âm dương tương giao và tương sinh. Nghĩa là trong âm có dương, trong dương có âm, hai bên bồi bổ cho nhau. Chỉ có dương không có âm thì không có sự sống, tất bị diệt vong, ngược lại cũng vậy. Có cả âm lẫn dương mà không hòa hợp thì cũng không thể sinh sôi thịnh vượng, rồi cũng suy tàn. Trên trời dưới đất, âm dương giao nhau mới có sự thuận hòa. Mọi việc, một âm một dương mới tương sinh, mới bồi bổ cho nhau. Ở phương nam khí dương lên tột đỉnh thì bắt đầu sinh khí âm, ở phương bắc khí âm đến cùng cực thì bắt đầu sinh khí dương.
Âm dương thiên lệch là nguyên nhân chính khiến âm dương bất hòa. Dương thịnh thì âm suy, mà âm suy thì không hòa hợp được với dương thịnh. Dương cực thì chuyển sang âm, âm cực cũng vậy. Kinh còn dẫn lý luận cương nhu của Dịch để nói rõ sự đắp đổi lẫn nhau: có cương tất có nhu, có đực tất có cái, đó là gốc của đạo, và sự vận hành của âm dương là chỗ tinh diệu của thần linh. Yếu không thắng được mạnh, nhu không thắng được cương, đó là đại loạn. Cũng như Chu Dịch, kinh có phần trọng dương hơn âm, vì dương thường đầy và chắc, âm thường khuyết và mềm. Trong luyện đan, kinh nhấn mạnh phải biết kích dương kìm âm, vì dương cực là tốt, âm cực là xấu, dương cực sinh tiên, âm cực thành quỷ.
Thế nào là thái bình
Giữa những năm lũ lụt hạn hán liên miên và dân chúng kêu trời, có người đã viết ra một định nghĩa giản dị cho hai chữ ấy.
Lời mở đầu của bộ kinh kể lại thời cuộc: ngày nay âm dương trời đất đều sai lệch, nên muôn vật tổn thương, các bậc đế vương trị quốc không hòa, lũ lụt hạn hán liên tiếp, giặc dã nổi như ong vỡ tổ, triều đình lại gia tăng hình phạt, tội ác chồng chất, dân chỉ còn biết kêu trời. Thêm quan lại hoành hành, của cải cạn dần, nỗi khổ của muôn dân chấn động cả trời xanh, làm cho nắng mưa đổi khác, mặt trời mặt trăng, tinh tú không còn vận hành theo lẽ thường. Vì vậy xin làm bộ sách Thái bình này, mong cứu vãn sự bất yên của trời. Đó là bức tranh thật của xã hội thời ấy, và cũng là mảnh đất cho tư tưởng thái bình ra đời.
Vậy thái bình là gì? Kinh viết: thái là to lớn, bình là ngay ngắn vững vàng, khí làm cho vạn vật sinh sôi và thông thoáng. Các bậc đế vương chăn dắt muôn dân mà làm được vậy thì không chỉ thiên hạ thái bình, mà đại nghiệp cũng muôn đời ổn định. Bên cạnh tôn chỉ công bằng và ổn định, hướng tới một cuộc sống hòa bình, thân ái, vui vẻ, kinh nêu ra quan niệm cùng chung sống, ba khí hợp nhau mà trị. Vua là cha, quan là mẹ, muôn dân là con, ba lực lượng ấy hòa hợp, đồng tâm hiệp lực, cùng xây một sự nghiệp, cùng sống trong một mái nhà, thương yêu nhau. Tư tưởng xã hội ấy đúng với nguyện vọng cháy bỏng của người dân thời đó, nên trở thành cương lĩnh của Đạo Thái bình do Trương Giác cầm đầu.
Tam hợp tương thông
Ba thứ hợp làm một là một điểm nổi bật khác của kinh. Hiểu rộng thì tam hợp là trời, đất, người hợp thành một thể, cụ thể là khí dương, khí âm và khí trung hòa. Với thân người thì đó là tinh, khí, thần.
Về trời, đất, người, kinh nhấn mạnh rằng người và trời đất tương ứng với nhau, trời đất sinh ra người. Khí dương, khí âm của trời đất hợp nhau mà tạo ra người, trời, đất, người, đó là tam tài. Người do trời đất sinh nên người cũng cùng một gốc với trời đất. Vì thế con người không phải một cá thể hoàn toàn cô lập, mà là một tiểu vũ trụ luôn gắn bó với sự đổi thay của tự nhiên. Trời, đất và người vốn cùng một nguyên khí, chia thành ba thể, mỗi thể có một khởi đầu riêng. Một phần khác của kinh nói tuy ba khí nhưng là một thể, tinh, thần, khí đều là một thể, bắt nguồn từ nguyên khí của trời, đất, người. Thần nhận từ dương khí, tinh nhận từ âm khí, khí nhận từ khí trung hòa, tuy ba mà một.
Kinh cho rằng trong trời đất luôn có ba khí: âm, dương và trung hòa, ba khí hòa nhau nuôi vạn vật. Hai khí âm dương giao nhau tạo thành khí trung hòa, ba khí hợp lại nuôi sống muôn vật, và trong mỗi vật ba khí ấy luôn thông nhau, thương nhau. Tư tưởng này chịu ảnh hưởng đạo trung dung của nhà Nho và câu lấy khí rỗng làm hòa của Lão Tử, nổi bật nhất là khí trung hòa. Đó cũng là nền của tư tưởng thái bình.
Về tinh, khí, thần, kinh nói rõ ba thứ ấy thống nhất ở thần, và đó là chỗ dựa cho tư tưởng ôm thần, giữ một. Người ta vốn sinh từ khí hỗn độn tự nhiên, khí sinh tinh, tinh sinh thần, thần sinh minh, vốn đều cùng một khí âm dương. Rồi khí chuyển thành tinh, tinh chuyển thành thần, thần chuyển thành minh. Người muốn trường sinh thì phải biết giữ khí, hợp thần. Trong ba báu ấy, nổi bật nhất là nguyên khí. Kinh viết rằng thần ở người sinh từ thiên khí, thiên khí lại sinh từ nguyên khí, thần dựa vào khí mà còn. Vì thế người có khí tất có thần, có thần tất có khí, thần mất thì khí mất và khí mất thì thần cũng không còn.
Giữ một: thu lại cái đã tản
Từ cái nhìn về ba khí mới nảy ra một lối tu rất đơn giản về mặt chữ nghĩa: giữ lấy một thứ, chỉ một thôi.
Thủ nhất nghĩa là giữ lấy tinh, khí, thần. Ý tưởng này bắt nguồn từ câu ta giữ lấy một của Trang Tử trong thiên Tại hữu. Theo nghĩa rộng, nhất là tinh, khí, thần, gọi là ba hợp làm một. Theo nghĩa hẹp, nhất là thần. Mục đích của thủ nhất là làm cho tinh, khí, thần hậu thiên trở lại thành tinh, khí, thần tiên thiên. Người muốn trường sinh phải giữ khí và hợp thần, để tinh khí, hình thể và tư duy hợp làm một.
Làm thế nào để giữ một? Kinh dặn đầu tiên phải đưa suy nghĩ về chỗ thanh tĩnh, ngồi định ở nơi phòng kín tường cao để không còn nghe tiếng ồn bên ngoài. Tức là đầu óc phải tập trung rất cao, rồi bắt đầu từ việc giữ thần, và việc này đòi hỏi kiên trì. Trong phép thủ nhất, một trăm ngày đạt tiểu tĩnh, hai trăm ngày đạt trung tĩnh, ba trăm ngày mới đạt đại tĩnh. Hơn nữa còn phải biết hòa mình với sự biến hóa âm dương của trời đất.
Giữ thần là hạt nhân: muốn giữ một thì phải giữ cho thần luôn tỉnh. Không để ngoại cảnh quấy rối thì nội thần sáng, mới thành công. Giữ một là cùng thần dạo chơi, vạn vật quy tụ, hưởng thọ lâu dài. Ngoài giữ thần, kinh còn chú trọng giữ khí. Cái đạo của trời đất sở dĩ lâu dài là vì luôn giữ khí không để mất. Cho nên trời dùng khí gây việc lành dữ, muôn vật cũng làm theo, không có khí thì vạn vật đều tuyệt. Đỉnh cao của thủ nhất là thu lại tinh, khí, thần tiên thiên đã tản đi khắp nơi, nhất là thần khí. Kẻ ngu không biết thu thần khí nên mất đạo, thu được thì khỏe mạnh sống lâu.
Về giữ khí, kinh nêu hai phép: ăn ít và ăn khí. Ăn ít là giảm thức ăn, nhất là thịt cá. Ăn khí là luyện tập hít thở. Chữ ăn ít về sau là cơ sở của phép tịch cốc, còn ăn khí trở thành nội dung quan trọng của khí công. Kinh viết trời cũng dùng phép này để điều hòa không khí, các bậc cao sĩ trước khi nhập đạo cũng giảm ăn những vật hữu hình và tăng ăn khí, để nguyên khí hội hợp. Trong quá trình giữ một có thể đạt tới chỗ sáng suốt thông cả sáu cõi ngoài, vạn thần tự đến, thông với thần. Cuối cùng có thể đổi được cả ngoại cảnh, tiêu tai trừ bệnh, giúp vua trị nước, trường sinh, nhìn thấu muôn vật.
Lìa xác thành tiên và phù chú
Thái bình kinh cho rằng hồn có thể lìa khỏi xác. Khi tu luyện đến đỉnh cao, hồn thăng lên trời thành tiên, nhưng chuyện ấy rất khó, trăm vạn người không được một. Người nào lên trời giữa ban ngày là đã đạt tới bậc chân nhân, tự tính đã thiện, tự tâm đã sáng, trời đất mến mộ mà cho thành công. Có thể xem chuyện bay lên trời là điều hoang tưởng, nhưng đáng suy nghĩ ở ý này: tu luyện đến chỗ tinh thần cùng trời đất, người hòa với tự nhiên. Cuộc sống của một người có hạn, nhưng sức sống tinh thần có thể trường tồn. Bậc cao nhân của nhà Nho, bồ tát của nhà Phật, tiên nhân của Đạo gia thực ra đều là những người có sức sống tinh thần vĩnh cửu. Tu cho sức sống ấy không mất là cảnh giới cao nhất của việc tu luyện.
Còn phù chú là lời cầu và bùa vẽ. Phù là dùng tay bắt quyết vẽ chữ triện và chữ thần bí, bùa là tờ giấy trắng ghi tên chư thần. Phù chú được tin là cảm thông được các vị thần khắp đất trời, diệt ma trừ tà, đem điều lành cho người nhờ cậy. Người sáng lập Đạo giáo là Trương Đạo Lăng rất giỏi dùng phù chú chữa bệnh, giải hạn. Tam quốc chí chép rằng những người theo đạo Thái bình khi chữa bệnh, ông thầy cầm một cây gậy trúc chín đốt, đọc phù chú, bắt người bệnh cúi đầu nghĩ về tội lỗi của mình, rồi đốt bùa hòa nước cho uống. Trương Đạo Lăng sáng lập đạo Ngũ đấu mễ, tiền thân của Đạo giáo, đại diện cho phái phù thủy sau này, không giống phái luyện đan. Hậu Hán thư cũng chép về Trương Giác, người đất Cự Lộc, tự xưng là Đại hiền lương sư, theo đạo Hoàng Lão, dạy nhiều đệ tử, khi chữa bệnh thì quỳ lạy, cúi đầu nghĩ về tội lỗi, rồi dùng phù chú, người khỏi rất nhiều, dân chúng tin phục.
Gom lại, Thái bình kinh đã phát huy rất tinh tế triết lý âm dương trong Chu Dịch. Tư tưởng thái bình thấm khắp tác phẩm, xác lập một cách sống tích cực, yêu đời trong phép nội đan, có ý nghĩa với các thuật luyện đan về sau. Còn những lời phù chú được ghi trong kinh trở thành tư liệu tiêu biểu của phái phù thủy trong Đạo gia.
Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 4, thuật lại có lược bớt.
