Bài tổng quan
Dịch toàn cơ: lấy trời làm phép, thông và trung làm quý
Bộ chú Dịch đời Nam Tống chia ba cuốn, mở đầu bằng ý coi trời là phép tắc. Từ đó nó bàn sang đạo vua tôi, rồi trở về với âm dương và lẽ tiến thoái. Dịch ở đây vừa nói chuyện trời, vừa nói chuyện người.
Dịch toàn cơ là tác phẩm của Ngô Hàng, người Nam Tống, tự Đức Viễn. Bộ chú gồm ba cuốn thượng, trung, hạ, mỗi cuốn chín thiên, về sau được đưa vào Thông chí đường kinh giải và Tứ khố toàn thư. Điều làm nó đáng chú ý là việc nối lý Dịch với đời sống xã hội: cuốn thượng nói về lẽ trời, cuốn trung nói việc người, cuốn hạ quay về giải nghĩa kinh.
Coi trời là phép tắc
Cái nền của bộ chú là một câu: đạo Dịch không gì lớn hơn Càn Khôn.
Có chín thiên bàn về lẽ trời: pháp thiên, thông lục tử, quý trung, sơ thượng định vị, lục cửu định danh, thiên địa bát quái, luận biến hữu cơ, tượng, cầu đoạn. Chủ đề chính của các thiên ấy là lý của trời.
Quý thiên: vận trời không cùng
Lời tựa nói đạo của Dịch không gì lớn hơn Càn Khôn, thánh nhân lấy trời làm phép tắc nên có thiên pháp thiên. Theo bộ chú, đạo pháp thiên làm cho mình ngày một tốt hơn, và đạo không gì lớn bằng trời. Từ tư tưởng quý trời, bộ chú cho rằng mọi âm dương, cương nhu, động tĩnh của con người đều do trời ban cho. Trời thuộc dương, đất thuộc âm, người gồm cả hai; trời động thì đất tĩnh, thể trời cương, thể đất nhu, người có cả cương lẫn nhu. Từ đó nổi lên quan điểm con người ở giữa trời đất, thần ở tại tâm, rồi đến lý luận thuận ứng thiên thời, làm theo thứ tự bốn mùa.
Quý thông: không cứng nhắc một nghĩa
Bộ chú nhấn mạnh biến thông, qua các thiên luận biến, thiên địa bát quái, thông lục tử. Thiên bàn về sáu quẻ con nói trời có lúc của trời, đất có lợi của đất, người có trí của người, và sáu quẻ con đều quý ở chỗ thông. Nghĩa là nhận thức và dùng lý Dịch phải biến thông, linh hoạt. Như câu: Khảm không phải lúc nào cũng hiểm, Ly không phải lúc nào cũng sáng, Cấn không phải lúc nào cũng dừng, Tốn không nhất định phải đi, Chấn thì tùy lúc mà động. Nguyên tắc chung của sự thông biến là dùng sai đạo thì tổn thương, dùng đúng đạo thì được lợi.
Bộ chú còn nói rõ biến của quẻ qua quái biến, hào biến, hỗ thể. Đảo ngược các quẻ là biến, các quẻ nương nhau là biến, và đặc biệt gắn hào của quẻ với thời của trời, tượng của đất để làm sáng tinh túy của thuyết quái khí:
Quẻ biến từ trời, hào biến từ đất, ngược quẻ như ngày đêm, hỗ thể như bốn mùa.
Đạo biến quẻ vốn có trong tự nhiên, theo ý trời cao đất thấp mà dựng Càn Khôn. Bộ chú cho rằng quái biến liên hệ chặt với biến hóa của trời đất, không phải biến riêng lẻ hay ngẫu nhiên, nên đó là tư tưởng biện chứng gắn với sự đổi thay của vũ trụ.
Quý trung: giữa là chỗ đứng của Dịch
Bộ chú nhấn mạnh rằng trên dưới trong lý quý ở trung thông, đạo thánh hiền quý ở trung dung, và đạo của Dịch không phải trung thì cũng là chính. Chữ trung ở đây gồm cương trung, nhu trung, trung chính, chí trung, trung hành, trung trực. Mỗi quẻ có hai ngôi giữa, hào năm ở vị dương trung; sáu mươi tư quẻ đều nói trung, quẻ chưa được trung thì hào cũng được trung, và được trung nghĩa là tốt. Toàn bộ Chu Dịch là cầu trung, từ đạo Càn đến đạo Khôn đều lấy trung làm quý.
Việc người, việc vua tôi
Từ trời xuống đất, đến lúc phải nói chuyện người nắm quyền và người dưới quyền.
Có chín thiên bàn về việc người: minh vị, minh quân đạo, luận dưỡng, luận hình, luận phạt, luận thánh, biện nội, biện cát hung, lấy nhân sự làm chính.
Trước hết, lấy cương nhu làm nền để nói quan hệ âm dương, nổi bật tính cứng mạnh của ngôi cương. Cả thiên đều nhằm nêu đạo vua cần cương kiện, đạo bề tôi cần nhu thuận. Lấy cương khắc nhu, nhu khắc cương, ấy là lý cương nhu tinh tế. Đạo thánh nhân là không thái quá, không bất cập, đủ cả cương và nhu; cương nhu hòa hợp, chủ cương kiện, sáng suốt, oai đức chiếu sáng, thông trong ngoài, trên dưới nương tựa không gì chẳng lợi. Sáu hào lập vị, và từ sự nương nhau của cương nhu trong những quẻ chỉ có một hào khác loại giữa năm hào cùng loại, bộ chú nêu rõ quan hệ vua tôi.
Tiếp đó, bộ chú tôn đạo dương: quân tử là dương, tiểu nhân là âm; dương là trời, là ban ngày; âm là đất, là ban đêm. Quân tử ở vị cao, sáng; tiểu nhân ở chỗ thấp, tối. Bộ chú xem dương là chính đạo của con người.
Cuối cùng, qua quan hệ tổn ích, hư thực, bộ chú bàn lẽ quý bên trên. Quẻ có trong ngoài, vị có trên dưới, và trên dưới trong ngoài ngược nhau. Thiên tổn ích nói tổn ở trong, ích ở ngoài, ấy là tổn một nhà mà ích một nước. Nhìn chung, qua các quan hệ cương nhu, âm dương, tổn ích, nhấn mạnh trọng cương, tôn dương, tôn bên trên và đem vào đời sống, thúc đẩy việc ứng dụng lý Dịch vào xã hội.
Âm dương nương nhau, tiến thoái có lúc
Giữa người với người vẫn còn một chiếc la bàn: trong âm có dương, trong dương có âm.
Có chín thiên quay về giải nghĩa kinh: thông quái, thông tượng, thông dao, thông từ, thông chứng, dịch quái, dịch hệ, tồn hỗ thể, quảng diễn, lấy giải nghĩa kinh làm tôn chỉ.
Trước hết là âm dương cương nhu. Bộ chú nêu rằng âm dương nương nhau, chỉ có âm thì không có dương, chỉ có dương thì không có âm, và trong âm có dương, trong dương có âm thì lý mới rõ. Từ hai quẻ Ký Tế và Vị Tế, bộ chú nhấn mạnh quan hệ vừa đối lập vừa thống nhất của âm dương cương nhu: quẻ có sáu vị âm dương, là chỗ của các hào; họa phúc không thường; có âm dương hòa là Ký Tế, mất cương nhu là Vị Tế. Cho nên cương không thể chỉ ở vị cương, cương nhu phải hòa hợp.
Tiếp theo là động và tĩnh. Bộ chú nói dương quý ở động, âm quý ở tĩnh, và coi động tĩnh là quan hệ đối lập thống nhất. Thiên Thông chứng nêu thêm các cặp thông và định, thường và biến:
Đạo Dịch vừa thông vừa định, thông đến cùng là biến, định là thường. Biến không cùng là đạo trời, thường không loạn là đức đất.
Ba là tiến thoái. Qua các thiên tồn hỗ thể, quảng diễn, bộ chú giải thích quan hệ biện chứng giữa tiến và thoái của âm dương. Ví dụ gặp một dương thì chỉ sợ muộn, gặp một âm thì ghét sớm; lui thì an ổn, tiến thì nguy. Tư tưởng này phát huy từ sự lên xuống của hào hai, hào năm, và từ việc hào biến để quẻ biến. Nó gần với lẽ cùng thì biến của Dịch.
Giá trị của một bộ chú giải lý Dịch
Trời, đất và người cùng nằm trong một quẻ, và nhìn từ đó thì không có việc nào đứng riêng.
Thứ nhất, Dịch toàn cơ nhấn mạnh quan niệm tam tài của Chu Dịch, tức trời, đất, người và xã hội, và tư tưởng ấy xuyên suốt cả ba cuốn thượng, trung, hạ, phát huy đủ ba mặt: sự lý, triết lý và luân lý. Thứ hai, bộ chú giải thích rõ lý Dịch, gồm lý luận cơ bản và tư tưởng biện chứng như lý âm dương, quan niệm vận động, quan niệm trung hòa, có giá trị tham khảo lớn. Thứ ba, bộ chú nối đầy đủ triết lý Dịch với nhân sự xã hội, nên có giá trị tham khảo lớn về mặt sự lý.
Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 3, thuật lại có lược bớt.
