Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Vì sao thiên hạ nhiều lần chia rẽ: đất phong, quân phiệt, quan mục nát

Đạo Học - Khuyên Thiện03/10/202611 phút đọc2 lượt đọc
Vì sao thiên hạ nhiều lần chia rẽ: đất phong, quân phiệt, quan mục nát

Hơn năm trăm năm Xuân Thu Chiến Quốc không có một ngày yên, rồi ba trăm năm từ Tam Quốc đến Nam Bắc triều, rồi lại năm đời mười nước. Mỗi lần thiên hạ vỡ ra đều có cùng những vết rạn, và mỗi lần người ta vá bằng những cách rất giống nhau…


Chư hầu cát cứ: năm trăm năm không một ngày yên

Năm 771 trước Công nguyên, cuối đời Tây Chu, U Vương hủ bại, để lấy lòng ái phi Bao Tự đã diễn trò đốt lửa gọi chư hầu, dẫn tới mất nước. Năm 770, Chu Bình Vương lên ngôi nhờ các chư hầu Trịnh, Tấn giúp, phế thái tử Nghi Cữu, rồi dời đô về Lạc Ấp, gọi là Đông Chu. Từ đó thiên hạ bước vào thời chư hầu chia rẽ, tức Xuân Thu Chiến Quốc, kéo dài hơn năm trăm năm, từ năm 770 tới năm 221 trước Công nguyên.

Sau khi dời đô, nhà Chu như mặt trời xế bóng, bất lực trước chư hầu. Hơn một trăm nước nuốt nhau, đến cuối Xuân Thu chỉ còn một phần ba. Vương thất Chu ngày càng thu hẹp, đã mất từ lâu khả năng kiềm chế chư hầu, sống được là nhờ dựa vào chư hầu. Nước nào mạnh lên thì Chu vương mất dần quyền, các nước tranh bá lên cao trào mới, cả Trung Nguyên loạn lạc triền miên.

Thời Xuân Thu, Tề Hoàn Công, Tống Tương Công, Tấn Văn Công, Tần Mục Công, Sở Trang Vương thay nhau xưng bá. Bá chủ lấy thiên tử nhà Chu làm bình phong, nước nào không phục là đưa binh ra ngay. Sang Chiến Quốc, bảy nước Tần, Sở, Hàn, Triệu, Ngụy, Tề, Yên tranh hùng thôn tính nhau, cuối cùng nước Tần ở phía tây bình định thiên hạ.

Để chống nước Tần mạnh như hổ báo, nhiều kế sách nảy ra. Có kế "liên hoành", liên kết với nước mạnh để đánh các nước yếu, do Trương Nghi cầm đầu. Có kế "hợp tung", hợp sức các nước yếu để chống một nước mạnh, do Tô Tần dẫn dắt, lấy nước Tề làm nòng cốt, hợp Triệu, Sở, Hàn, Ngụy thành một khối chống Tần. Để thực hiện hai kế ấy, bảy nước du thuyết lẫn nhau, lừa bịp, ly gián nhau. Nước Tần nhờ cuộc biến pháp Thương Ưởng mà giàu mạnh, phá được hợp tung, cuối cùng dùng sách lược kết giao xa, đánh gần, đánh nước yếu trước, mạnh sau, kết thúc thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc.

Đó cũng là thời kỳ biến đổi sâu sắc cả chính trị lẫn kinh tế. Đồ sắt được dùng nên kinh tế xã hội phát triển nhanh, đất khai hoang tăng mau, giữa các nước nảy sinh tranh ruộng đất, dẫn tới chư hầu tự xưng bá. Các nước lại tranh nhau đua tiếng, nước nào cũng cho mình hơn, không ai chịu ai. Gốc sâu xa nằm ở chế độ phong đất để lại từ xưa, khiến mỗi chư hầu cát cứ một nơi, tất yếu phải phân chia lại bằng chiến tranh. Về sau Tần Thủy Hoàng theo kế của Lý Tư, thay chế độ phong đất bằng quận huyện, thực sự mở ra một kỷ nguyên mới.

Ba trăm năm phân liệt từ cuối Hán đến Tùy

Từ năm 220 đến năm 581, gồm Tam Quốc Ngụy, Thục, Ngô, hai nhà Tấn với mười sáu nước, rồi Nam Bắc triều, đất nước chia cắt hơn ba trăm năm. Nguyên nhân chính có bốn.

Quân phiệt hỗn chiến

Cuối Đông Hán, Hán Thiếu Đế lên ngôi, hai đại tướng Viên Thiệu và Đổng Trác nổi lên, sau đó có Tào Tháo, Lưu Biểu, Lưu Bị, Lã Bố, Tôn Sách, tất cả hơn mười nhà quân phiệt. Qua hỗn chiến, Đổng Trác bị giết, Tào Tháo đón Hán Hiến Đế tới Hứa huyện, nhờ thế mạnh về binh lực và "mượn thiên tử ra lệnh chư hầu" mà đối địch Viên Thiệu, đánh bại Viên Thiệu ở Quan Độ, thống nhất miền Bắc. Năm 208, Tào Tháo mang chí thống nhất Nam Bắc, dẫn đại quân xuống nam, đánh trận Xích Bích với Tôn Quyền ở Giang Đông và Lưu Bị ở phía nam, đại bại phải rút về bắc, đến chết vẫn chưa nguôi chí ấy. Năm 220 Tào Phi phế Hán Hiến Đế, tự xưng đế, đặt quốc hiệu Ngụy, từ đó hình thành thế chân vạc Ngụy, Thục, Ngô kéo dài bốn mươi năm, chiến tranh Nam Bắc liên miên, Trung Nguyên rối ren, mãi tới Tây Tấn mới tạm thống nhất.

Nội loạn các vương

Năm 263 Ngụy diệt Thục. Năm 265 Tư Mã Viêm cướp chính quyền Ngụy, xưng đế, lập Tây Tấn. Năm 280 Tấn Vũ Đế diệt Ngô, thống nhất Nam Bắc, thế Tam Quốc chấm dứt. Tây Tấn tồn tại ngắn ngủi ba mươi sáu năm, trong đó nội loạn mười sáu năm, vì loạn tám vương. Buổi đầu, Tư Mã Viêm lầm tưởng Tào Ngụy mất là vì không phong vương cho anh em họ hàng, nên phong rộng cho hoàng tộc, kèm cả quân đội, mầm đại loạn về sau chính do nhận thức sai ấy. Khi Vũ Đế mất, Huệ Đế nối ngôi, quyền thực rơi vào tay Giả hậu. Năm 291, Giả hậu giết Dương Tuấn, người tranh quyền với mình. Năm 300, Triệu Vương Luân dấy binh giết Giả hậu, phế Huệ Đế, tự xưng đế, rồi loạn tám vương nổ ra. Họ giành ngôi, đem quân chém giết nhau, phá nặng sản xuất, dân lầm than.

Mâu thuẫn dân tộc và mười sáu nước

Loạn tám vương tạo cơ hội ngàn vàng cho các tộc ở phía bắc đánh xuống: Hung Nô, Tiên Ti, Khương và các tộc khác do tù trưởng cầm quân. Năm 316 tù trưởng Hung Nô họ Lưu diệt Tây Tấn, Tư Mã Duệ chạy đến Giang Nam lập Đông Tấn, đóng đô ở Kiến Khang. Từ đó Đông Tấn đối địch các tù trưởng phía bắc, chiến tranh kéo dài hơn một trăm ba mươi năm, hai bên thay nhau xưng vương, đất nước lại phân thành mười sáu nước.

Loạn trong, giặc ngoài: Nam Bắc triều

Năm 420, sau khi Đông Tấn mất, mâu thuẫn dân tộc và phe quân phiệt giành quyền khiến đất nước chia thành Nam triều và Bắc triều, kéo dài một trăm bảy mươi năm. Nam triều từ Lưu Dụ thay nhà Tấn đến năm 589 Trần mất, qua bốn triều Tống, Tề, Lương, Trần. Bắc triều từ năm 439 Bắc Ngụy thống nhất phương bắc, đến 534 chia thành Đông Ngụy, Tây Ngụy, qua Bắc Tề, rồi Bắc Chu. Năm 581, Tùy Văn Đế Dương Kiên thống nhất Nam Bắc, chấm dứt hơn ba trăm năm phân liệt.

Cuối Đường rối loạn: ngũ đại thập quốc

Từ năm 907 đến năm 960, miền Bắc có năm đời: hậu Lương, hậu Đường, hậu Tấn, hậu Hán, hậu Chu. Miền Nam có mười nước: Ngô, Nam Đường, Ngô Việt, Mân, Sở, Nam Bình, Nam Hán, tiền Thục, hậu Thục, Bắc Hán. Năm 907, Chu Ôn diệt Đường, lập hậu Lương, "ngũ đại" bắt đầu. Năm 960 Triệu Khuông Dận "hoàng bào khoác thân" thay hậu Chu mà lên ngôi, dựng Bắc Tống.

Cuối Đường, quốc lực sau loạn An Sử cứ tụt dốc, xã hội hỗn loạn, hiểm họa chia cắt ngày càng rõ. Khoảng mười phiên vương mỗi người có quân riêng, cát cứ một phương, nuốt nhau để thêm lực và nhòm ngó ngôi báu. Cùng lúc ở phương nam mười nước lần lượt xưng vương, dựng kinh đô riêng, nước mạnh xưng đế, nước yếu câu kết với các tộc biên giới, thường xuyên quấy nhiễu nội địa, giết người cướp của, cường hào ác bá mọc như nấm, dân lầm than.

Triều đình mục, giặc ngoài nhòm: thế giằng co Nam Bắc đời Tống

Cuối Bắc Tống, triều chính tối tăm, Tống Huy Tông hôn mê bất tài, tin dùng gian thần Sài Kinh, Đồng Quán, ăn chơi xa xỉ, ra sức vơ vét của dân, bách tính khuynh gia bại sản, dẫn đến các cuộc khởi nghĩa của Phương Lạp, Tống Giang, Trương Định làm rung chuyển chế độ. Nhân cơ hội ấy quân Kim tràn xuống phía nam, quân Tống không hề chống cự. Quân Kim tiến sát Đông Kinh, tức Khai Phong, Huy Tông hoảng loạn truyền ngôi cho thái tử Triệu Hoàn, tức Khâm Tông. Năm 1127 quân Kim hạ Khai Phong, bắt sống cả hai vua, Bắc Tống diệt vong.

Cùng năm đó, Khang vương Triệu Cấu, tức Tống Cao Tông, lên ngôi ở phủ Ứng Thiên, định đô Lâm An, quốc hiệu Nam Tống. Từ đó bắt đầu thế đối đầu lâu dài giữa Nam Tống và Kim. Nhạc Phi được gọi là người làm rung chuyển núi sông, dẫn quân đánh bại quân Kim. Đúng lúc ông thừa thắng truy kích, Tống Cao Tông liên tiếp ra sắc lệnh triệu ông về triều, rồi giết ông để dễ cầu hòa với quân Kim. Nam Tống và Kim tiếp tục giằng co, và Nam Tống mất cơ hội đánh bại Kim để thống nhất đất nước. Vương triều hủ bại, chịu thoái nhượng đã mở đường cho giặc ngoài, đồng thời là một nhân tố dẫn tới phân liệt.

Tóm lại, quân phiệt hỗn chiến, nội loạn phiên vương, triều đình hủ bại là ba yếu tố lớn gây ra chia rẽ, thêm vào đó mâu thuẫn dân tộc gay gắt cũng tạo thế đối lập giữa các tộc.

Ba lối giữ cho thiên hạ khỏi tan

Giữ chặt quyền trung ương, cắt bớt thế địa phương

Nhìn lại xã hội phong kiến, có hai nguyên nhân chính dẫn tới chia rẽ: nội loạn phiên vương và quân phiệt hỗn chiến. Từ cuối Đông Hán đến Tam Quốc, nguyên nhân chính là quân phiệt hỗn chiến. Còn loạn của Tây Tấn và loạn cuối Đường là do phiên vương cát cứ. Do vậy lịch sử sinh ra những đối sách như "bãi đất phong", "tước binh quyền", tức là cắt bớt thế lực các phiên vương. Hán Vũ Đế có kế chia nước chư hầu lớn thành nhiều nước chư hầu nhỏ. Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dận "mượn chén rượu tước binh quyền" của các tướng cấm quân trong triều. Tần Thủy Hoàng thay chế độ phong đất bằng quận huyện để tập trung quyền về trung ương. Ba người đều cắt bớt thế địa phương, củng cố chính quyền trung ương, giữ được thống nhất và chặn được chia rẽ.

Còn thời Xuân Thu Chiến Quốc chia năm xẻ bảy hơn năm trăm năm, chính là do thiên tử Đông Chu để tuột cơ hội thống nhất thiên hạ, thế lực chư hầu ngày càng lớn, năm bá thôn tính nhau gây loạn triền miên ở Trung Nguyên.

Không để bên trong mục nát

Nhìn lại năm nghìn năm, triều nào vua anh minh, bề tôi cần mẫn thì chính quyền vững, xã hội yên ổn thống nhất. Ngược lại, vua hồ đồ, quan liêu hủ bại, chính quyền lỏng lẻo, xã hội nhiều biến động thì khó tránh bị chia rẽ. Loạn An Sử kéo dài tám năm là do Huyền Tông cuối đời hồ đồ, triều chính mục nát, gian thần Lý Lâm Phủ, Dương Quốc Trung cầm đầu gây ra. Hủ bại dẫn tới nội loạn, nội loạn hủy diệt triều chính, đó là quy luật. Tây Tấn ngắn mệnh vì loạn tám vương, mà chính Tây Tấn đẻ ra loạn tám vương vì triều chính thối nát, Giả hậu độc quyền, chư hầu nhòm ngó ngai vàng. Đại loạn Nam Bắc triều đời sau đã được ủ từ cuối Bắc Tống, ngòi nổ là sự ngu dốt của Tống Huy Tông và bọn gian thần Sài Kinh, Đồng Quán, để người Kim tràn xuống phương nam cát cứ lâu dài. Từ Hy chuyên quyền, triều chính hủ bại, nhu nhược thỏa hiệp, để người phương Tây mấy lần xâm lấn.

Giữ hòa hợp giữa các dân tộc

Từ xưa mâu thuẫn dân tộc gay gắt thường dẫn tới biên giới rối ren, chiến tranh, đất nước bị xé lẻ, nhất là khi nội loạn và ngoại xâm cùng nổ, sinh thế đối đầu Nam Bắc. Nam Bắc triều chia hơn một trăm bảy mươi năm là do phe quân phiệt và mâu thuẫn dân tộc cuối đời Đông Tấn gây ra. Vì vậy các minh chủ rất coi trọng việc hòa hợp dân tộc. Đường Thái Tông để thắt chặt quan hệ hữu hảo với thổ ty địa phương đã gả công chúa Văn Thành cho thổ ty Tây Tạng. Công chúa Văn Thành cùng sứ giả Đại Đường mang theo nhiều thợ giỏi, thư tịch, giống cây trồng sang Tây Tạng để thúc đẩy sự gắn bó giữa người Hán với người Tây Tạng, tăng đoàn kết, tránh chia rẽ.

Tóm lại, phải luôn củng cố chính quyền trung ương, tránh để nội bộ hủ bại, tăng sự đoàn kết giữa các dân tộc, đó là những yếu tố bảo đảm một triều chính mạnh và ngăn xã hội rạn nứt.

Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 3, thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện