Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Phượng Thư sụp đổ, già Lưu chân chất, mỗi tầng một giọng

Đạo Học - Khuyên Thiện03/10/202610 phút đọc1 lượt đọc
Phượng Thư sụp đổ, già Lưu chân chất, mỗi tầng một giọng

Người đàn bà tính toán giỏi nhất nhà ngã xuống đất chỉ vì một tin báo, rồi quay sang xin từng bà từng thím cố chịu khó thêm một ngày. Cùng lúc ấy, một bà già nhà quê đứng giữa tiệc tự gọi mình ăn khoẻ như trâu, và cả phòng cười ầm. Hai lối nói chung một cuốn truyện…


Tài hoa của Phượng Thư lên đỉnh ở phủ Ninh, gãy ở vườn Đại Quan

Khi nói về cá tính của một người, truyện luôn gắn nó với vận hưng suy của cả gia tộc. Tài hoa của Vương Hi Phượng biểu thị rõ rệt nhất là ở hồi thứ 13, đoạn nàng giúp giải quyết việc bên phủ Ninh, và đó cũng là thời kỳ cực thịnh của nhà họ Giả.

Dấu mốc nhà họ Giả chuyển từ thịnh sang suy là hồi thứ 74, "Quá nghe đèm hót, khám xét vườn Đại Quan". Sau bữa cơm chiều, chờ Giả Mẫu ngủ yên, bọn Bảo Thoa đã về trong vườn rồi, vợ Vương Thiện Bảo liền mời Phượng Thư vào buồng, sai khoá cả cửa ngách, rồi bắt đầu khám xét từ chỗ các bà già canh đêm. Trong lần khám xét này, Phượng Thư chỉ tươi cười với các cô gái, không thấy vẻ ra oai thường ngày, đẩy việc mất lòng người cho nhà Vương Thiện Bảo gánh, và cũng bộc lộ cách cư xử của nàng. Còn cá tính Thám Xuân thể hiện đầy đủ trong lần khám này, nhất là câu nàng tuyên bố nhà họ Giả bắt đầu từ thịnh chuyển sang suy:

Thế mới biết những nhà đại gia thế này, chỉ người ngoài đến thì một lúc không thể giết chết được. Đúng như người xưa đã nói "con sâu trăm chân, chết cũng không ngã"! Tất phải do người trong nhà giết lẫn nhau trước, mới tan nát sạch sanh!

Nói xong, Thám Xuân chảy nước mắt.

Cuối đường của người tính giỏi nhất nhà

Có người tính được việc của cả thiên hạ, nhưng đến lúc nhà mình sụp thì tính không kịp.

Sau cái chết của Giả quý phi, thế của nhà họ Giả đã mất. Khi phủ bị khám xét và tịch thu, phủ Ninh và phủ Vinh rơi vào cảnh chiều tà, Vương Hi Phượng đổ bệnh gục từ đấy. Đoạn tả Phượng Thư nghe tin nhà bị khám xét vẽ nên bộ mặt thảm hại của nàng như một bức biếm hoạ sống động: riêng Phượng Thư hai mắt trợn ngược, nghe rồi ngã lăn ra đất chết ngất.

Đó là Phượng Thư mà người ta nói "việc đời tính rất thông minh, còn mình mình tính vận mình vẫn sai". Đến khi cụ bà quy tiên, nàng phải lo toan cả nhà đến lúc lụn bại, nên đã nói với mọi người:

Các bà các thím thương tôi với! Tôi đã bị bề trên quở trách, vì là các người không trông nom đầy đủ, làm cho người ta chê cười. Ngày mai các người cố chịu thêm khó nhọc một tí!

Có thể nói con người sắp chết cũng có tấm lòng từ thiện, con chim sắp chết cũng cất tiếng kêu ai oán. Đoạn này làm nổi hẳn kết cục đường cùng của Phượng Thư; so với lúc nàng ra oai khi giúp việc phủ Ninh thì khác nhau một trời một vực.

Đảo ngược, lấy vui tả buồn, và đầu cuối khớp nhau

Nhà văn khéo không báo trước nỗi buồn, mà để nó nằm ngay trong chỗ vui nhất.

Truyện tả cá tính nhân vật thường dùng thủ pháp đảo ngược, khéo làm cá tính thêm kịch tính. Hồi thứ 74, khi khám xét vườn Đại Quan, câu trước viết: chưa dứt lời thì nghe "bốp" một tiếng, vợ Vương Thiện Bảo bị Thám Xuân tát vào mặt. Câu sau viết tiếp: Thám Xuân nổi giận, trỏ vào vợ Vương Thiện Bảo hỏi: mày là hạng gì mà dám nắm lấy áo tao? Chẳng qua tao nể mặt bà, thấy mày cũng đã có tuổi nên mới gọi mày là già, mày lại cậy chủ nhà… Lối viết đảo lộn ấy tả thấu đáo cá tính Thám Xuân.

Truyện còn rất khéo lấy vui tả buồn. Tả Giả Nguyên phi hoàn toàn trong cuộc vui thăm nhà mà nỗi bi thương nổi lên: nàng ngậm ngùi giọt lệ khi về thăm nhà. Nỗi buồn trong cuộc vui ấy phản ánh cá tính Nguyên Xuân, không ham phú quý, thương nhớ người thân. Chuyện Thám Xuân gả xa là dòng đại hỉ đại bi, và khúc "Phân cốt nhục" đã tả sống động tâm lý của nàng:

Đường xa mưa gió một chèo, cửa nhà ruột thịt thôi đều bỏ qua…
Con đành lỗi với mẹ cha, khóc thương chỉ thiệt thân già đó thôi.
Cùng thông, số đã định rồi, hợp tan âu cũng duyên trời chỉ đây.
Phân chia hai ngả từ nay… con đi, xin chớ lo phiền.

Cuộc đời Sử Tương Vân lại được đặt trên một nền buồn trong vui. May mà nàng trời sinh lạc quan, nếu không không biết kết cục ra sao. Khúc "Lạc trung bi" viết:

Tương Giang lạnh ngắt, Cao Đường vắng tanh.
Trần hoàn may rủi đã đành, việc gì khóc quản lo quanh bận lòng!

Một điểm quan trọng nữa là đầu cuối liên quan nhau, trước sau ăn khớp, nên cá tính càng sâu. Chuyện Giả Bảo Ngọc rũ sạch duyên trần là trước sau rất khớp, càng chứng tỏ quyết tâm phá vỡ hồng trần. Hồi thứ 22, "Nghe câu hát, Bảo Ngọc hiểu đạo thiền": Bảo Ngọc nói: cả nhà là thế nào? Họ có người này người nọ, còn tôi thì trần trụi, chẳng bấu víu vào đâu cả. Câu ấy khớp với hồi 120 ở cuối truyện, khi Giả Chính dưới trời tuyết bỗng gặp Bảo Ngọc đã xuất gia:

Chỗ ta ở, đỉnh núi thanh u,
Chỗ ta chơi, cõi không mịt mù!
Ai đi cùng ta, ta đi theo ai?
Mênh mông mù mịt, về nơi Đại hoang!

Ngôn ngữ đúng với thân phận: già Lưu, Vương phu nhân, Tích Xuân, Tiểu Đại

Một người nhà quê và một bà chủ phủ lớn không thể dùng cùng một câu nói, và nhà văn khéo là người biết điều đó.

Lời nói của nhân vật trong truyện rất chú trọng bản sắc. Ngôn ngữ có bản sắc là ngôn ngữ phù hợp với giai cấp, thân phận, tính cách của người nói, và phải là lời nói chân thực của nhân vật. Về điều này Tào Tuyết Cần biểu hiện xuất sắc, nổi bật nhất là khi khắc hoạ già Lưu: một người nhà quê chân chất sống động trên mặt giấy.

Già Lưu nói với Phượng Thư: tôi biết nhà ta bây giờ cũng khó khăn thực, nhưng tục ngữ nói "con lạc đà còm rúm vẫn lớn hơn con ngựa"; dù thế nào nhà ta chỉ nhổ một cái lông măng cũng còn to hơn cả cái lưng chúng tôi (hồi thứ 6). Bà tính giá cua năm nay mỗi cân năm phân, mười cân thì năm đồng, năm năm hai mươi lăm, ba năm mười lăm, cộng thêm rượu và đồ ăn khác, ít ra cũng hơn hai mươi lăm lạng bạc; a di đà Phật, món tiền ấy người nhà quê chúng tôi ăn được một năm (hồi thứ 39). Khi Giả Mẫu nói "ở đây chật lắm, ta ra chỗ khác chơi", già Lưu cười đáp: người ta thường nói "con quan thì ở nhà quan", hôm qua thấy trong phòng cụ bày những tủ to, hòm to, bàn to, giường to, trông thật oai vệ, chỉ cái tủ còn to và cao hơn gian nhà của chúng tôi. Và khi Giả Mẫu mời ăn, bà đứng dậy nói to: già Lưu, già Lưu, ăn khoẻ như trâu, ăn phàm như lợn, không hề ngẩng đầu (hồi thứ 40). Những lời thô thiển mà chất phác ấy phản ánh bản sắc của nhân dân lao động.

Vương phu nhân có thể coi là đại biểu của giai cấp áp bức, và bản tính đó hiện ra khắp truyện. Chuyện bức tử Kim Xuyến: Vương phu nhân bỗng trở mình dậy, tát vào mặt Kim Xuyến một cái và mắng: con đĩ hèn hạ này, các cậu nhà này đều bị chúng mày làm hư hỏng cả (hồi thứ 30). Kim Xuyến là a hoàn hầu hạ bà mười mấy năm, chỉ vì đùa mấy câu với Bảo Ngọc mà bị làm nhục, đánh đuổi đi, cuối cùng nhảy giếng tự tận, đủ thấy bà tàn ác đến thế nào. Hồi 74, bà nhục mạ Tình Văn: bà cười nhạt, bảo đẹp thật, giống hệt "Tây Thi đang ốm"; ngày nào mày cũng giở lối trai lơ ấy ra cho ai xem? Mày cứ tưởng ta không biết việc mày làm à? Ngày mai sẽ lột xác mày ra. Bà hỏi hôm nay Bảo Ngọc đã đỡ chưa, và khi nghe người ta nói Tình Văn không còn gần gũi cậu, bà tin là thật và nói: a di đà Phật, mày không gần gũi Bảo Ngọc thì thực là phúc cho ta, không cần mày phải bận lòng; mày là người của cụ cho sang hầu Bảo Ngọc, để ngày mai ta mang trình cụ cho mày về. Tình Văn có cá tính cứng rắn, đâu chịu được những lời nhục mạ như thế, nên bị đuổi vài ngày đã hàm oan mà chết.

Tích Xuân là tiểu thư thứ tư của Giả phủ. Trong buồng nàng có a hoàn Nhập Hoa, khi khám xét vườn Đại Quan đã tìm ra một số đồ vật. Phượng Thư chuẩn bị tha cho nó, nhưng Tích Xuân chẳng nghĩ đến tình chủ tớ bao năm, lạnh lùng nói: chị đừng tha cho nó, ở đây nhiều người, nếu không trừng trị thì những đứa lớn trông thấy không biết còn xảy ra thế nào nữa; chị tha nó tôi cũng không tha; may sao chị sang đây, chị mang ngay nó về, đánh nó, giết nó hay bán nó đi, tôi cũng mặc kệ. Những câu ấy tái hiện bản sắc một tiểu thư quý tộc không coi nô bộc trong nhà ra gì.

Giả Mẫu là đại biểu chung cho quan niệm đạo đức phong kiến, nên có thái độ khó chịu với mối tình của cô cháu ngoại Đại Ngọc. Ở hồi 97, bà nói: nhà chúng ta đây việc khác cố nhiên không có, còn cái thứ tâm bệnh ấy lại càng không thể có; con Lâm nếu mắc bệnh khác thì mất bao nhiêu tiền ta cũng bằng lòng, nhưng nếu là bệnh ấy thì chẳng những không chữa được mà ta cũng chẳng thương. Mấy câu ấy cho thấy thái độ lạnh lùng của kẻ bảo vệ luân lý phong kiến.

Giả Xá là cậu cả con nhà quý tộc, một con sói già háo sắc, muốn ép Uyên Ương làm vợ bé. Khi biết nàng không chịu, hắn rít răng chửi mắng, phản ánh đầy đủ bản tính của kẻ áp bức: bảo nó nghĩ kỹ đi, dù nó lấy ai nữa cũng khó thoát khỏi tay ta, trừ phi nó chết đi hoặc suốt đời không lấy chồng.

Tiểu Đại là lão nô bộc già từng cứu mạng lão gia nhà họ Giả: cõng ông cụ ra khỏi đám người chết, bản thân chịu nhịn đói, đi ăn cắp thức ăn về cho chủ ăn, hai ngày không có nước uống, được nửa bát nước cũng đưa cho chủ, còn mình đi uống nước đái ngựa. Khi chủ thăng quan, giàu sang phú quý thì ông vẫn suốt đời là nô bộc. Chính vì từng liều mình cứu chủ, có danh phận đặc biệt, nên Tiểu Đại mới dám vạch trần những xấu xa của Giả phủ, dám mắng tổng quản Lại Nhị, mắng cậu cả Giả Dung, thậm chí mắng cả cụ Giả Trân. Chuyện chửi mắng ấy biểu thị sự vô nghĩa vô tình của Giả phủ đối với ông, và phản ánh cá tính dám phản kháng của Tiểu Đại: suốt đời làm nô bộc nhưng bản tính không cam chịu làm đầy tớ.

Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 2 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện