Bài tổng quan
Phượng Thư chưa thấy mặt đã nghe tiếng, mỗi người một giọng
Cả căn phòng im thin thít, nên tiếng cười của người đàn bà đến muộn vang lên như một nhát cắt. Chưa nghe hết câu, ai cũng biết ai đang nắm quyền trong cái nhà này. Còn ở một góc khác, hai cô gái đang đấu nhau bằng những câu nghe như chỉ để đùa…
Ngôn ngữ là chất liệu đầu tiên của văn học
Nhà văn Goóc-ki từng nói yếu tố đầu tiên của văn học là ngôn ngữ, và văn học chính là nghệ thuật ngôn ngữ. Tào Tuyết Cần là nhà văn hiện thực vĩ đại, đồng thời là bậc thầy ngôn ngữ vĩ đại nhất của Trung Hoa. Nghệ thuật ngôn ngữ của ông đạt đến độ hoàn mỹ, có thể nói cổ kim chưa từng có.
Ngôn ngữ trong Hồng lâu mộng rực rỡ muôn màu, làm giàu thêm kho tàng tiếng nói Trung Hoa như một vườn trăm hoa tươi đẹp, mỗi thứ tiếng một sắc, như những bông hoa nở rộ điểm xuyết cho cả khu vườn. Sự ra đời của nó khiến nền văn học cổ điển thêm sáng chói. Lời văn sáng đẹp, thuần khiết, mọi thứ như do tự nhiên tạo thành, không có vết đục đẽo. Bộ truyện gom lại nghệ thuật ngôn ngữ trước thời Minh, Thanh và trở thành đỉnh điểm của nó. Mức hoàn mỹ ấy đúng như nhà Hồng học Du Bình Bá dẫn lời Tống Ngọc: thêm một phần thì dài quá, bớt một phần lại ngắn quá.
Hơn bốn trăm người, mỗi người một giọng
Nếu che tên đi mà vẫn nhận ra ai đang nói, thì người viết đã làm xong phần khó nhất.
Hồng lâu mộng là kiệt tác về ngôn ngữ nhân vật. Cá tính hoá lời nói chính là tinh tuý của nghệ thuật ấy. Tào Tuyết Cần không để nghìn người như nhau, trăm người một giọng: dưới ngòi bút ông, nhân vật muôn hình muôn vẻ và rất sống động. Sở dĩ họ sống động như thật là nhờ lời nói được cá tính hoá một cách cao siêu.
Truyện có hơn bốn trăm nhân vật, trong đó mấy chục người được viết sống động, hơn chục người khiến ta không thể quên: Phượng Thư, Bảo Ngọc, Đại Ngọc, Bảo Thoa, già Lưu, chị ba Vưu, Tình Văn, Giả Mẫu, Giả Nguyên Xuân, Thám Xuân, Uyên Ương, Sử Tương Vân, Tập Nhân… Ai cũng đầy đặn, có xương có thịt. Nổi nhất là Phượng Thư, Bảo Ngọc, Đại Ngọc, Bảo Thoa, chị ba Vưu, Tình Văn và già Lưu.
Trong số đó, Phượng Thư là điển hình trong điển hình. Qua sự hưng suy của nhà họ Giả, Tào Tuyết Cần phản ánh sự suy vong của xã hội phong kiến thời kỳ cuối, rồi lấy đời Phượng Thư để diễn đạt việc xã hội ấy đi đến suy vong là tất yếu. Vì thế ngòi bút ông nắm chặt lấy Vương Hi Phượng, một thiếu nữ quý tộc sinh trong nhà cự phú "vua Đông hải thiếu ngọc làm giường, Long vương phải đến vay Kim Lăng Vương", sau thành mợ hai lo liệu việc nhà của một thế gia quý tộc truyền đời, "họ Giả mà không là giả, ngọc làm nhà ở vàng làm ngựa cưỡi". Chọn nàng làm vai chính, ông khắc hoạ rất sâu cái giả dối, đanh đá, ác độc và tháo vát của nàng.
Phượng Thư xuất hiện: tiếng cười đến trước người
Trong một căn phòng mà ai cũng nén hơi thở, chỉ một người dám cười thành tiếng, và nhờ thế mọi người biết ai đang nắm quyền.
Ở cả tám mươi hồi đầu lẫn bốn mươi hồi sau, việc khắc hoạ nhân vật trung tâm này đều dùng thủ pháp "chòm sao tôn nguyệt", cố tôn Vương Hi Phượng lên. Trước hết là lúc nàng xuất hiện, được tả qua con mắt Lâm Đại Ngọc:
Nói chưa dứt lời đã nghe phía sau nhà có tiếng cười nói: "Tôi đến chậm rồi, không được ra đón khách phương xa!"
Đại Ngọc lấy làm lạ, nghĩ bụng: ở đây ai cũng im hơi lặng tiếng, khép nép nghiêm trang, không biết người nào dám vô lễ, ăn nói bô bô như thế. Chợt thấy bọn hầu gái đỡ một người đàn bà đẹp từ phòng sau bước ra. Người này trang sức khác hẳn các cô kia, gấm thêu lộng lẫy, trông như tiên nữ thần phi: trên đầu có dây vàng bát bảo xâu hạt châu vào búi tóc, cài trâm ngũ phượng Triêu Dương đính hạt châu, cổ đeo vòng vàng chạm con ly, mình mặc áo vóc đại hồng thêu trăm bướm lượn hoa bằng chỉ kim tuyến, ngoài khoác áo xanh lót lông chuột bạch viền chỉ ngũ sắc.
Mọi người phải im lặng, chỉ riêng Phượng Thư dám chưa thấy người đã nghe tiếng. Chỉ một câu "Tôi đến chậm rồi, không được ra đón khách phương xa!" đã tôn thân phận khác thường của người đàn bà quý tộc này. Rồi đến vẻ mặt: cặp mắt phượng, mày cong lá liễu, dáng người thon thả, điệu bộ phong lưu. Qua con mắt Đại Ngọc, hình tượng Phượng Thư hiện ra sắc màu rực rỡ.
Tính cách đanh đá, tháo vát của nàng cũng được biểu hiện bằng thủ pháp làm nổi bật, như đoạn nàng giúp quản lý phủ Ninh, thể hiện sâu sắc cái giỏi giang của một mợ hai quản gia nhà quý tộc. Sáng hôm sau, đúng giờ mão hai khắc, Phượng Thư lại đến; đàn bà và người hầu trong phủ đã đủ mặt, thấy nàng cùng vợ Lại Thăng đang cắt cử các người chấp sự thì đều đứng ngoài cửa sổ nghe ngóng, không dám vào. Họ nghe nàng nói:
Đã giao cho ta, nếu ta có điều gì làm cho các người khó chịu, thì cũng đành vậy. Ta không nhu nhơ như mợ các người, muốn gì được nấy đâu. Các người cũng đừng lấy nề rằng phủ này từ trước đến nay vẫn thế. Bây giờ hết thảy đều theo lệnh ta, nếu làm sai một tý, bất luận là người có thể diện đều nhất luật trừng trị.
Nói xong, nàng sai Thái Minh đọc danh sách, đọc đến tên người nào thì gọi người ấy lên nhận mặt. Cách quyết đoán ấy hiện ra trọn vẹn chỉ qua mấy câu.
Đoạn già Lưu vào phủ cũng tôn nàng lên qua cách nàng sắp xếp mọi việc đâu vào đấy. Thấy Giả Mẫu vui vẻ, Phượng Thư mời già Lưu ở lại: nhà chúng tôi tuy không rộng bằng vườn trại của bà, nhưng cũng có vài gian buồng để không, bà ở lại vài hôm, kể chuyện cũ chuyện mới ở quê cho bà tôi nghe.
Thủ pháp "chòm sao tôn nguyệt" này làm cá tính nhân vật có hiệu quả đặc biệt, trong động có tĩnh. Nó không chỉ dùng cho Phượng Thư mà còn cho Giả Nguyên Xuân, Giả Mẫu, Thám Xuân…: Nguyên phi thăm nhà, Phượng Thư giúp việc phủ Ninh, Giả Mẫu vui mừng đặt tiệc, Thám Xuân lo liệu việc nhà, già Lưu vào vườn Đại Quan đều thế cả. Văn tài của Giả Bảo Ngọc cũng được tôn lên như vậy. Giả Chính cười nói: chỗ này thú đấy, đêm trăng ngồi dưới cửa sổ đọc sách cũng không uổng một đời. Rồi ông nhìn sang Bảo Ngọc, cậu sợ quá cúi đầu, mọi người vội lảng sang chuyện khác. Có hai người nói chỗ này nên có bức liễn đề bốn chữ, thì Bảo Ngọc thưa: mấy chữ ấy cũ lắm, sao bằng bốn chữ "Hữu phượng lai nghi" còn hơn. Mọi người nhao lên khen hay.
Ba người trong một căn phòng và những lời nói bóng gió
Có lúc cả ba người đều nói chuyện thời tiết, nhưng mỗi câu đều là một mũi kim.
Trái lại, cá tính của ba nhân vật Bảo Ngọc, Đại Ngọc, Bảo Thoa lại được biểu hiện bằng mâu thuẫn tâm lý tế nhị. Hồi thứ 8, lúc Đại Ngọc bước vào khi Bảo Ngọc đang ngồi chơi chỗ Bảo Thoa, đã khắc hoạ nổi bật điều ấy.
Bảo Thoa chưa nói hết câu thì có người vào báo: cô Lâm đến chơi. Chưa dứt lời, Đại Ngọc đã tha thướt tới nơi. Trông thấy Bảo Ngọc, Đại Ngọc cười: ối chao, tôi đến không đúng lúc rồi! Bảo Ngọc vội đứng dậy mời ngồi. Bảo Thoa cười hỏi sao chị lại nói thế. Đại Ngọc đáp: nếu biết anh ấy ở đây thì tôi chẳng đến làm gì. Bảo Thoa hỏi thế là thế nào, Đại Ngọc nói:
Thế nào à? Khi đến thì cùng đến, khi không đến thì chẳng ai đến cả; hôm nay anh ấy đến, ngày mai tôi đến, cứ cắt lượt nhau, thế có phải là ngày nào cũng có người đến không? Như thế thì không có lúc nào buồn quá, mà cũng không có lúc nào vui quá. Có gì mà chị không hiểu?
Chỉ một đoạn đã lộ rõ quan hệ tế nhị giữa ba người, và miệng lưỡi chua cay của Đại Ngọc bộc lộ hết cá tính nàng, cho thấy lối cá tính hoá lời nói của truyện hết sức tài tình.
Những câu nói bóng gió có ẩn ý thường dùng để biểu hiện cá tính Lâm Đại Ngọc, xuất phát từ danh phận đặc biệt và hoàn cảnh đặc biệt của nàng. Bảo Thoa thấy Bảo Ngọc đứng ngẩn người thì ngượng, vứt chuỗi hạt xuống, toan quay đi, thấy Đại Ngọc đứng ở bậc cửa, ngậm khăn lụa cười. Bảo Thoa nói: chị không chịu được gió, sao lại ra đứng trước ngọn gió làm gì? Đại Ngọc cười đáp: tôi mới ở trong buồng ra, vì nghe trên trời có tiếng chim kêu, chạy ra nhìn thì ra là "con nhạn ngó ngẩn". Nguyên là Bảo Ngọc vừa nhìn da thịt nõn nà của Bảo Thoa mà ngây ngất, nên quên không đỡ lấy chuỗi vòng nàng vừa cởi ra, đúng lúc Đại Ngọc bước vào thấy.
Những câu như thế càng nổi bật khi mâu thuẫn lên đến cao trào. Đoạn đốt thơ của Đại Ngọc đưa tâm tư nàng lên đỉnh cao. Hồi thứ 97: Đại Ngọc thấy nửa người phía dưới đau ê ẩm, ngồi không vững nhưng vẫn cắn răng chịu, gọi Tuyết Nhạn bảo: tập thơ của ta… vừa nói vừa thở. Tuyết Nhạn đoán nàng đòi tập thơ vừa sửa hôm trước, liền lấy đưa đến. Đại Ngọc tức quá, hai mắt trợn ngược, ho lên và khạc ra máu. Tử Quyên lấy khăn lau miệng cho nàng. Đại Ngọc nắm khăn mà chỉ vào cái rương rồi thở dốc, nhắm mắt. Tử Quyên tưởng nàng muốn lấy khăn lụa, bảo Tuyết Nhạn mở rương lấy ra một chiếc khăn trắng; Đại Ngọc nhìn qua, vứt sang bên, cố hết sức nói: có chữ kia! Lúc đó Tử Quyên mới hiểu nàng đòi chiếc khăn lụa cũ có đề thơ, đành bảo Tuyết Nhạn lấy ra. Đại Ngọc cầm khăn, chẳng xem, giơ tay cố xé nhưng tay run lẩy bẩy không xé nổi. Nàng nhìn một chút, nhắm mắt, thở một hơi rồi nói: đốt nổi than. Tuyết Nhạn đốt nổi than đặt vào cái giá kê dưới đất. Đại Ngọc cầm cái khăn tay vừa rồi, nhìn ngọn lửa, gật đầu, rồi vứt khăn lên trên lửa. Tử Quyên giật mình muốn cướp lấy nhưng hai tay không dám động đậy.
Đến đây mâu thuẫn của ba người Bảo Ngọc, Đại Ngọc, Bảo Thoa đã tả đến mức cực nóng; cá tính của họ ở tiêu điểm lớn này phát triển đến đỉnh điểm, lời văn cũng đạt tới độ điêu luyện cao. Trước lúc lâm chung, Đại Ngọc chỉ buột miệng kêu: "Bảo Ngọc! Bảo Ngọc! Anh thật…" Nói đến chữ "thật", cả người toát mồ hôi lạnh, không nói thêm gì nữa, đủ thấy nỗi chung tình của nàng.
Còn Bảo Ngọc, sau khi vào động phòng và phát hiện cô dâu là Bảo Thoa, cậu không quản gì nữa, luôn miệng đòi đi tìm cho được cô Lâm. Bảo Thoa thấy đến cơ sự này cũng vứt bỏ bộ mặt giả dối, nói toạc: nói thật với cậu, trước đây hai ngày, khi cậu còn ốm mê không biết gì, em Lâm đã chết rồi.
Cao Ngạc viết tiếp phần sau thực sự thành công, đẩy bi kịch hôn nhân phong kiến tới cực điểm. Đoạn ấy đối ứng với các khúc "Uổng ngưng mi", "Phi điểu các đầu lâm" và "Chung thân ngộ" mà Tào Tuyết Cần viết ở hồi thứ 5, và Cao Ngạc thực sự viết tiếp theo những ý đó. Trong đó có những câu: "Một bên trăng dọi trên sông, một bên hoa nở bóng lồng trong gương"; "Khôn thì vào cửa "không" này, dại thì tính mệnh có ngày mất toi"; "Cuộc đời ngán nỗi tang thương, đẹp không toàn đẹp, lời càng đúng thay. Dù cho án đặt ngang mày, cuối cùng vẫn thấy lòng này băn khoăn". Bốn mươi hồi sau không hề trái với các hồi trước của Tào Tuyết Cần, chứng tỏ nghệ thuật cá tính hoá lời nói của Hồng lâu mộng xuyên suốt từ đầu đến cuối.
Một đôi chống lại đạo đức cũ, và câu nói để phân người tri âm
Có một câu hỏi nhỏ mà Bảo Ngọc dùng để thử mọi người: bạn có nói lời nhảm nhí hay không?
Truyện miêu tả rất rõ ngôn ngữ cá tính của Bảo Ngọc và Đại Ngọc: một đôi chống lại quan niệm đạo đức phong kiến. Vì sao Bảo Ngọc rất tôn trọng nữ giới và từng nói "xương thịt của con gái là nước kết thành, xương thịt của con trai là bùn kết thành", "thực là linh khí trong trời đất đều tụ trên người những nữ nhân" (hồi thứ 111)? Vì cậu rất căm ghét lễ giáo phong kiến, nhất là bọn vệ sĩ phong kiến tiêu biểu là Giả Chính. Thái độ của một người với vấn đề này là ranh giới để cậu phán đoán ai là tri âm. Bảo Ngọc ngả theo Đại Ngọc là vì Đại Ngọc không bao giờ nói những lời bậy bạ.
Bảo Thoa, một nhân vật điển hình của phía bảo vệ lễ giáo, thì khác. Bảo Thoa hết sức tiến cử con đường làm quan với Bảo Ngọc, và chính vì thế tình cảm của Bảo Ngọc càng ngả về Đại Ngọc.
Đoạn Đại Ngọc chôn hoa là mượn hoa để gửi gắm tình cảm, biểu hiện sự phản kháng câm lặng của một thiếu nữ bố mẹ đều mất, phải gửi thân nhà họ hàng. Nàng tuy không nói, nhưng lại hơn cả có nói:
Thân kia trong sạch muôn vàn, đừng cho rơi xuống ngập tràn bùn nhơ.
Giờ hoa rụng có ta chôn cốt, chôn thân ta chưa biết bao giờ?
Chôn hoa người bảo ngẩn ngơ, sau này ta chết ai là người chôn?
Lời chôn hoa đó là sự phát triển của "ba trăm sáu chục thoi đưa, gươm sương dao gió những chờ đâu đây". Nó phản ánh cá tính rõ nét của người con gái kiên quyết giữ cho "thân vẫn trắng trong", không chịu rơi vào vũng bùn phong kiến, và đó chính là đỉnh cao của ngôn ngữ cá tính Lâm Đại Ngọc.
Khi nhân vật được tả cũng cần gắn với sự hưng suy của xã hội. Điển hình nhất là Vương Hi Phượng, còn Thám Xuân là hình ảnh thu nhỏ trong những hình ảnh thu nhỏ. Việc khắc hoạ những nhân vật này đủ để miêu tả xã hội phong kiến từ thịnh đến suy, và đó là bút pháp thành công nhất của lối xã hội hoá tính cách nhân vật trong Hồng lâu mộng.
Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 2 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.
