Bài tổng quan
Phật học đi qua huyền học Ngụy Tấn và Nho học Tống Minh
Những người học trò ngồi nghe giảng kinh trong một ngôi nhà thô sơ, chưa ai ngờ hạt giống ấy sẽ thành cả một cánh rừng. Gặp thời loạn, chữ không của nhà Phật nghe giống hệt chữ hư của Lão Tử. Hai dòng tư tưởng xa lạ nhau ấy đã nhận ra nhau ở điểm nào?
Mục lục · 7 phần
- 01Tiếng kinh đầu tiên nghe trong những mái nhà sơ sài
- 02Thời loạn, người ta tìm chỗ dựa nơi chữ không
- 03Ngọn gió triều đình lúc thổi lên, lúc thổi xuống
- 04Hai ngọn núi của Phật học Đại thừa: Không tông và Hữu tông
- 05Vì sao Thiền hợp với huyền học Ngụy Tấn hơn cả Nho học
- 06Thiền bồi đắp cho Nho học đời Tống Minh
- 07Những chỗ Phật và Nho Dịch không thể gật đầu cùng nhau
Tiếng kinh đầu tiên nghe trong những mái nhà sơ sài
Quan điểm của đạo Phật và của Chu Dịch cách nhau như trời với vực, vậy mà hai bên lại gắn bó mật thiết trong lịch sử văn hóa Trung Hoa. Dịch có ảnh hưởng lớn đến việc đạo Phật được lưu truyền và nảy nở ở đây, và ngược lại, đạo Phật cũng góp phần làm cho Dịch học phát triển. Cả hai hệ tư tưởng đều thấm rất sâu vào đời sống tinh thần của người xưa.
Theo ghi chép trong Tam quốc chí, đạo Phật được truyền vào Trung Hoa từ năm Nguyên Thọ thứ nhất đời Hán Ai Đế. Sử chép rằng các đệ tử và học trò đã được nghe giảng Phù đồ kinh trong những ngôi nhà thô sơ. Đó là hạt giống đầu tiên, còn rất nhỏ, chưa ai ngờ nó sẽ thành một cánh rừng.
Thời loạn, người ta tìm chỗ dựa nơi chữ không
Khi mọi thứ bên ngoài đều chao đảo, người ta dễ nghe hơn những lời nói về cái không.
Đến thời Nam Bắc triều, Ngụy Tấn, đạo Phật lan nhanh. Đó là lúc chiến tranh liên miên, lòng dân hoang mang trống rỗng, và huyền học đang thịnh. Chữ không của nhà Phật nghe rất giống chữ hư của Lão Tử, nên đạo Phật mau chóng đi vào dân gian. Một bên mong chờ một kiếp sau, một bên mơ một lối thoát khỏi đời thường; một bên nói tứ đại đều không, một bên nói có sinh ra từ không. Dưới ảnh hưởng của thuyết không và thuyết vô, tôn giáo này lớn nhanh khác thường.
Nhưng chỗ không hợp với Nho gia và Chu Dịch vẫn còn. Muốn đứng lâu, đạo Phật phải chịu thỏa hiệp, chịu Nho hóa, chịu Trung Hoa hóa. Người có công lớn trong chuyện này là đại sư Tuệ Viễn. Ông đưa quan niệm trung hiếu của Nho gia vào nhà Phật, làm cho nhà Phật cũng có đạo trung, đạo hiếu; ông lại nhận tư tưởng tông pháp của Nho gia mà dựng nên chế độ tông tự trong chùa chiền. Từ đó giữa cửa Phật cũng có thầy có trò như cha có con, và những cuộc tranh giành y bát truyền pháp cũng nổ ra giống hệt ngoài đời.
Điển hình là cuộc tranh ngôi chính tông giữa Thần Tú của Bắc thiền và Tuệ Năng của Nam thiền, kéo dài rất lâu. Chỉ đến khi Tuệ Năng qua đời, dòng Nam thiền mới được ngôi chính tông. Các nhà sư cũng học theo nếp Nho gia, đặt vua lên địa vị cao nhất. Đạo Phật phải Nho hóa và Trung Hoa hóa đến tận gốc mới thật sự hòa vào văn hóa nơi này.
Ngọn gió triều đình lúc thổi lên, lúc thổi xuống
Sang đời Đường, các bậc vua chúa phát triển tôn giáo vì những mục đích riêng, nên đạo Phật cũng có chỗ dựa về kinh tế và địa vị. Cha con Lý Thế Dân muốn đề cao Lý Nhĩ, tức Lão Tử, nên tôn sùng Đạo giáo. Võ Tắc Thiên muốn có quyền ngang họ Lý nên hết lòng nâng đỡ đạo Phật. Bà từng quy y cửa Phật, nên sau khi nắm quyền đã dựng và sửa rất nhiều chùa chiền. Đường Huyền Tông thì mở rộng giao thiệp, đón nhiều văn hóa Đông Tây vào Trung nguyên, kinh Phật theo đó cũng vào. Đó là thời kỳ rực rỡ của đạo Phật.
Điều này cho thấy đạo Phật, cũng như các tôn giáo khác, không thể tách rời chính trị mà luôn đan vào chính trị. Lúc Đường Thái Tông yêu mến Lý Nhĩ thì Đạo giáo hưng thịnh. Lúc Võ Tắc Thiên đè Đạo giáo xuống thì đạo Phật được trọng. Đến Đường Huyền Tông thì trọng cả hai.
Trước thời Tống Minh, ba giáo đã thành thế chân vạc, nhưng đạo Phật vẫn chịu sự hạn chế của Nho và Dịch, tức dòng văn hóa chính thống của Trung Hoa. Bước sang Tống Minh, đạo Phật thật sự đi sâu vào lòng người. Sau khi Thiền tông hòa với Nho Dịch của Trình Chu, đạo Phật được giới học thuật công nhận, và nhờ Nho hóa sâu sắc nên mới đứng vững. Nhưng đến đây luật thịnh cực tất suy cũng bắt đầu: từ cuộc đấu giữa Phật và Nho, đến lúc đạo Phật thỏa hiệp, rồi đến lúc suy dần, tất cả cho thấy nền văn hóa riêng của Trung Hoa đã chín và đã vững.
Hai ngọn núi của Phật học Đại thừa: Không tông và Hữu tông
Có một câu hỏi mà cả hai phái đều trả lời, nhưng trả lời ngược nhau: thế giới này có thật không?
Phật giáo Trung Hoa chủ yếu nhận hai đại phái của Phật giáo Ấn Độ.
Không tông do Long Thụ và Đề Bà sáng lập, dựa vào Bát nhã kinh, mà trung tâm là học phái Trung Quán. Các tác phẩm nổi tiếng gồm Trung luận, Thập nhị môn luận, Đại trí độ luận, Bách luận. Quan điểm chính là tự tính không, vạn pháp không. Chữ tính chỉ bản thể, chữ pháp chỉ muôn vật, nên nói vạn pháp tính không tức là mọi sự vật đều rỗng, không có thực thể tự nó tồn tại, và nói duyên khởi tính không tức là cái gì có mặt thì chỉ có mặt nhờ duyên. Long Thụ còn nói duyên khởi hữu, tức cái có chỉ là cái có giả, tồn tại dựa trên điều kiện nhất định.
Hữu tông lấy Vô Trước và Thế Thân làm chính, thuộc học phái Pháp tướng duy thức, một dòng Du già của Ấn Độ. Kinh luận chính là Du già sư địa luận và Giải thâm mật kinh. Lý luận cốt lõi là vạn pháp duy thức: có thức mới có cảnh, không thức thì không cảnh. Phái này do Huyền Trang đưa về, hưng thịnh đời Đường, mà chủ yếu là Pháp tướng duy thức tông.
Tóm lại: một bên đi từ Bát nhã, nhìn mọi sự vật là không, về sau đi vào dòng Thiền của Tuệ Năng; một bên đi từ Du già sư địa luận, nhìn mọi sự vật là do thức, về sau là Pháp tướng duy thức tông của Khuy Cơ.
Vì sao Thiền hợp với huyền học Ngụy Tấn hơn cả Nho học
Thiền tông gần với huyền học Ngụy Tấn hơn là gần Nho học. Với Nho học, Thiền học đi qua một vòng ba bước: đụng nhau, rồi xung đột và bị ngăn cấm, rồi hòa làm một. Còn với huyền học thì hai bên vốn đã giống nhau. Có thể nói Thiền sở dĩ lớn mạnh ở thời Ngụy Tấn là nhờ có huyền học dọn đường. Lý do hòa nhập gồm ba điều.
Cùng trọng gốc, khinh ngọn
Cả hai đều chuyên bàn về bản thể. Thiền tông chú ý đến cái tâm trong bản thể ấy, cho rằng Phật ở tại tâm. Huyền học lại chú ý đến cái Đạo, cho rằng muôn vật sinh ra từ Đạo. Một bên lấy tâm làm gốc, một bên lấy Đạo làm gốc, nhưng cùng trọng cái gốc sâu xa mà xem nhẹ cái ngọn thấy bằng mắt. Tâm tính của nhà Phật và Đạo thể của huyền học cùng đi một hướng, nên huyền học Ngụy Tấn mở đường được cho Thiền tông.
Cùng xuất phát từ chữ hư
Thiền tông nói tự tính không và duyên khởi hữu: bản tính của sự vật là không, còn cái có chẳng qua do duyên mà thành, không duyên thì là không, nên cái có cũng chỉ là giả. Bởi vậy cuộc tranh luận không và hữu thực ra vẫn đứng trên nền không. Lão Trang phân biệt hữu và vô, nói hữu sinh từ vô, nhưng cuối cùng cũng quy về vô. Như thế, điểm xuất phát của không hữu trong Thiền và hữu vô trong Lão đều gắn với chữ hư. Sự ăn khớp ở tầng gốc này giúp Thiền tông hình thành.
Cùng chán đời thực
Lối bỏ cõi trần của nhà thiền và lối ở ẩn của các nhà huyền học đều là sự chọn lựa của người chán cuộc đời hiện thực. Nỗi chán ấy ngoài chỗ bất mãn với chính sự còn nằm trong cách nhìn thế giới là hư không: nguồn gốc của thế giới là hư vô, nên cuộc sống thực cũng không thật, và vì vậy có thể vượt qua, cần được giải thoát.
Gom lại, Thiền tông nảy nở mạnh ở thời Ngụy Tấn là vì xã hội lúc ấy có nền như vậy, mà nền ấy lại do chỗ giống nhau về nguồn gốc tư tưởng quyết định. Thiền và huyền học hòa vào nhau rất nhanh, hoàn toàn không phải ngẫu nhiên.
Thiền bồi đắp cho Nho học đời Tống Minh
Một nho sinh nghe một câu thiền ngữ mà thấy lòng bừng sáng, và từ đó cả một ngành học bắt đầu chuyển mình.
Thiền tông bắt đầu thịnh từ đời Đường, sang đời Tống thì ảnh hưởng sâu đến Nho học. Nho học Tống Minh thu lấy tinh hoa của Thiền, rồi phát triển thành một Nho học mới mà đại diện là Lý học Trình Chu. Ảnh hưởng ấy hiện ra ở ba chỗ.
Thứ nhất, bàn về tâm tính của Thiền thúc đẩy việc tìm hiểu bản thể trong Nho học. Lý học Trình Chu không dời bản thể vào tâm tính, nhưng nhờ tính tư biện của Thiền, vốn trọng bản thể, mà lý bản thể của Chu Hi được đẩy lên rất cao siêu. Còn tâm học của Vương và Lục, chịu ảnh hưởng của tâm tính luận, lại phát triển thành tâm bản thể. Nhờ Thiền trọng bản thể, việc bàn về bản thể trong Nho học đạt tới đỉnh cao chưa từng có.
Thứ hai, phương pháp giáo hóa linh hoạt của Thiền. Đời Tống, Nho học đã trở nên máy móc và cứng nhắc, trong khi Thiền với lối dạy mềm dẻo thu phục được lòng người, làm bừng tỉnh các sĩ phu. Vô hình trung, điều ấy thúc đẩy cách nghĩ của Nho học, và góp phần hình thành các phái Nho đời Tống Minh, gồm lý học Trình Chu và tâm học Vương Lục.
Thứ ba, Thiền mở ra một thời kỳ hòa nhập mới giữa Nho học chính thống và văn hóa bên ngoài. Giữa Phật học và Nho học có sự cọ xát, một mặt Thiền bị Nho đồng hóa mà thành Thiền Nho hóa, mặt khác Nho học hút tinh hoa của Thiền mà thành Nho Thiền hóa. Sự giao hòa ấy mở ra một thời giao lưu văn hóa tươi đẹp. Sau đời Tống tuy Thiền tông suy, nhưng ảnh hưởng của nó trong lịch sử tư tưởng Trung Hoa không thể xem nhẹ.
Những chỗ Phật và Nho Dịch không thể gật đầu cùng nhau
Đạo Phật vừa tới Trung Hoa đã va vào một mâu thuẫn sâu với Nho học, dòng văn hóa chính thống của nơi này. Chỗ va rõ nhất là cách nhìn thế giới, cách nhìn đời người và cách nhìn đạo lý.
Tin thần hay không tin thần
Mâu thuẫn gốc là chuyện tin hay không tin vào thần. Dịch và Nho không tin thần, tôn trọng sự khách quan, nhấn mạnh việc xem tượng để lấy nghĩa. Họ cho rằng sinh mệnh ra đời do trời đất, âm dương, khí hóa. Họ nhấn mạnh tự lực, chủ trương ai cũng có thể như Nghiêu, Thuấn, tự mình giải trừ nỗi khổ. Đạo Phật lại hết lòng tin Phật chính là thần, cầu Phật giúp mình thoát nạn. Từ chỗ này sinh ra sự đối lập sâu giữa thuyết có thần và thuyết không thần, và đó cũng là một lý do khiến đạo Phật bị kìm hãm.
Để làm dịu, đạo Phật đưa ra tam thế luân hồi và nhân quả báo ứng thay cho thuyết linh hồn, nhờ vậy dựng được thế đứng vững chắc. Hơn nữa, nhân quả báo ứng của nhà Phật giống thiện ác báo ứng của Dịch Nho; chỉ khác là Dịch Nho nhấn mạnh ở kiếp này còn nhà Phật nhấn mạnh ở kiếp sau. Chu Dịch dạy rằng đạo làm người là nhân và nghĩa, nên kiếp này làm thiện thì được quả tốt. Nho gia dựa vào đó mà phát triển thành báo ứng thiện ác trong dòng họ huyết thống, đòi hỏi cả một nếp giữ gìn, theo dõi lẫn nhau, đưa báo ứng cá nhân thành chuyện của cộng đồng, có tác dụng tích cực nhất định. Dù cách nói của nhà Phật nghiêng về kiếp sau hơn, cả hai cùng nhắm tới một đích: ngăn điều ác, khen điều thiện. Nhờ vậy mâu thuẫn dịu bớt, và đạo Phật còn góp phần phát huy đạo đức, luân lý truyền thống.
Xuất gia hay giữ đạo hiếu
Nho và Dịch coi trọng đạo hiếu, nên không thể chấp nhận lối xuất gia. Đạo Phật thấy đời là bể khổ, nên rời nhà đi tu. Quan điểm của nhà Phật còn nhìn khổ và sướng không phải một cặp đối nhau trong một thể, mà chỉ nhận cái khổ của đời người và cái sướng sau cái chết; coi sống chết không đáng lo, nên có khuynh hướng coi nhẹ sự sống, coi trọng cái chết. Nho Dịch ngược lại: không tin có kiếp sau, đề cao hiện thực, quý kiếp này, càng không thể rời cha mẹ, bỏ gia đình đi tu. Để làm dịu, đạo Phật đặt ra hai lối tu: xuất gia và cư sĩ. Cư sĩ không cần bỏ gia đình, có thể lập gia thất. Nhờ vậy giải quyết được một phần mâu thuẫn, mở đường cho đạo Phật lan rộng.
Đạo cao hơn vua hay vua cao hơn tất cả
Theo truyền thống nhà Phật, đạo cao hơn chính trị. Hòa thượng gặp hoàng đế không phải quỳ lạy, và chúng sinh đã xuất gia thì không còn phân đẳng cấp. Điều này đụng thẳng vào chế độ đẳng cấp của Trung Hoa, nơi vương quyền đứng trên hết. Nho Dịch đề cao thứ bậc dòng tộc, vua tôi, luân lý trung hiếu, nhân nghĩa, nên không thể chấp nhận một đạo không biết đến trung hiếu.
Để tháo mâu thuẫn, trong chùa người ta cũng đặt phép tắc nghiêm ngặt, giữa thầy và trò có tình trung hiếu như cha với con. Đồng thời luân lý Nho gia được đưa vào nhà Phật, tức là buộc nhân quả báo ứng với trung hiếu nhân ái. Lòng từ bi của nhà Phật lại thống nhất với lòng thành ái của Nho gia. Nhờ những mối nối ấy, chỗ vênh giữa Nho và Phật dần được hàn lại.
Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 4, thuật lại có lược bớt.
