Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Đạo Gia

Bài tổng quan

Năm hành của núi và các hình huyệt lõm, kẹp, nhũ, đột

Đạo Học - Đạo Gia06/10/202612 phút đọc1 lượt đọc
Năm hành của núi và các hình huyệt lõm, kẹp, nhũ, đột

Thẳng là Mộc, nhọn là Hỏa, vuông là Thổ, tròn là Kim, quanh co là Thủy: người xưa đọc núi non bằng đúng năm chữ ấy. Rồi từ hình núi họ suy ra hình huyệt, và từ hình huyệt suy ra cả hướng đặt mộ lẫn năm sinh của người hưởng phúc. Vậy vì sao riêng một hành lại bị cấm kết huyệt?


Núi trên mặt đất không đứng ngẫu nhiên: mỗi ngọn là hình bóng của một vì sao trên trời, và mỗi hình dáng của nó thuộc về một trong năm hành. Biết nhìn núi theo năm hành, người xem đất đoán được núi ấy sinh người văn hay người võ, đem lại giàu sang hay cô quạnh, rồi mới biết nên tìm chỗ lõm, chỗ kẹp hay chỗ nổi để đặt huyệt.

Năm hành: từ trời xuống đất, từ đất vào người

Ngũ tinh chính là ngũ hành. Ngũ tinh thành tượng trên trời, hình thành địa hình dưới đất. "Ngọc Xích Kinh" nói tinh tú phân bố trên trời thì dưới đất nó tạo ra sơn mạch và thủy lưu. Thiệu Tử giải rộng thêm: tinh khí trên trời là ngũ tinh, xuống đất hóa thành ngũ tài, tức ngũ hành; khí thống nhất trong năm mà thành ngũ thần; trên thân người là ngũ tạng, trong vật thể là ngũ sắc, ngũ âm, ngũ vị, và hành trong ngũ thường. Đế vương thừa theo ngũ vận mà đặt ra ngũ quan, phân thành ngũ lễ, lập ngũ hình để trị nước an dân. Xét sự được mất của ngũ tinh thì lấy các hiện tượng tự nhiên như mưa, nắng, nóng, lạnh cùng loài động vật, thực vật làm điềm báo cát tường hay tai họa. Địa pháp cũng tuân theo ngũ hành nên mới chia thành hình ngũ tinh sơn để kiểm nghiệm cát hung.

Ngũ hành lại có cửu tinh là Tham, Cự, Lộc, Văn, Liêm, Vũ, Phá, Phụ, Bật; cửu tinh lại hóa thành cửu diệu là Thái Dương, Thái Âm, Kim Thủy, Tử Khí, Thiên Tài, Thiên Cương, Táo Hỏa, Cô Diệu, Tảo Đãng.

Hình dáng của năm hành trên núi

Hình thể của ngũ tinh được cổ nhân diễn hóa như sau: lấy tượng thẳng (trực) mà thành Mộc, lấy tượng nhọn (tiêm) mà thành Hỏa, lấy tượng vuông (phương) mà thành Thổ, lấy tượng tròn (viên) mà thành Kim, lấy tượng quanh co (khúc) mà thành Thủy. Vì vậy núi dựng đứng, cao vượt thì thuộc Mộc; núi lởm chởm nhọn là Hỏa; núi tròn trặn là Kim; núi quanh co lưu động là Thủy.

Cùng một hình tròn, có ngọn núi sáng sủa khiến người ta kính phục, lại có ngọn nặng nề chỉ khiến người ta ngột ngạt.

Các nhà phong thủy lấy hình dáng núi để đặt tên ngũ tinh thì phải phân rõ cát hung. Liêu công xem Kim là văn tinh, Mộc là tướng tinh; Tử Vi lại xem Kim là võ tinh, Mộc là văn tinh. Ngũ tinh biến hóa vô cùng, dù chỉ một vị cũng có thể vừa là văn vừa là võ, vừa là cát vừa là hung. Vì vậy mỗi hành được chia ba cách: thanh, trọc, hung. Tinh thần, tức đỉnh ngọn, đẹp đẽ, màu sắc sinh động là thanh; to lớn mà nặng nề là trọc; xấu ác và mang sát khí là hung.

Kim tinh: thanh là quan tinh, trọc là võ tinh, hung là lịch tinh; đóng ở phương Tây, mùa Thu. Mộc tinh: thanh là văn tinh, trọc là tài tinh, hung là hình tinh; đóng ở phương Đông, mùa Xuân. Thủy tinh: thanh là tú tinh, trọc là khoa tinh, hung là đăng tinh; đóng ở phương Bắc, mùa Đông. Hỏa tinh: thanh là hiển tinh, trọc là táo tinh, hung là sát tinh; đóng ở phương Nam, mùa Hạ. Thổ tinh: thanh là tôn tinh, trọc là phú tinh, hung là đới tinh; đóng ở trung tâm, ứng với lúc chuyển mùa. Trong ngũ tinh, thổ tinh là trấn tinh, trấn giữ đại hải và Hoàng Hà, phụ trách Tây nhạc Hoa Sơn, vạn vật từ đó sinh ra nên thổ tinh chủ phú túc.

Núi cao, đồi thoải và đất bằng theo từng hành

Mỗi hành khi hiện ra trên núi cao, trên sườn đồi thoải (bình cương) hay trên đất bằng (bình chi) lại có dáng tốt riêng. Kim tinh: núi cao như cái chuông, cái búa, đỉnh tròn không nhô nhọn, màu sắc sinh động là cát; bình cương như cái nón úp, cây đổ, bàn tính gãy là cát; bình chi như cái bánh đường ngon lành, màu mỡ là cát. Mộc tinh: núi cao dựng đứng như cây bút mà không thiên lệch là cát; bình cương uyển chuyển khúc chiết, khí thế giống chữ "chi", chữ "huyền" là cát; bình chi tựa cần đàn, đôi chỗ nổi lên là cát. Thủy tinh: núi cao nhấp nhô như sóng nước là cát; bình cương linh động như mây bay nước chảy lại bằng phẳng là cát; bình chi như cái chiếu trải rộng, địa thế nhấp nhô tựa sóng nước là cát. Hỏa tinh: núi cao tựa ngọn lửa bốc lên giữa tầng trời, sơn mạch từ tổ sơn trải ra là cát; bình cương như chân tay duỗi ra, hoặc ngang hoặc dọc sinh ra hỏa diệm sơn, thủy hỏa liền nhau thì cát; bình chi thế chênh chếch, lấp lánh ánh sáng như cầu đá bắc qua sông là cát. Thổ tinh: núi cao nặng nề như bức bình phong, hùng vĩ đoan chính bằng phẳng là cát; bình cương như cái kỷ dày, nặng mà phong mãn là cát lợi của thổ tinh; bình chi bằng phẳng như bàn cờ, vuông vức là cát.

Tính nết của từng hành: điều nào cát, điều nào hung

Kim tinh có hình thể tròn trặn không nhọn, tính tình an tĩnh; sơn thế trầm tĩnh là cát, bốn phía lưu động không ngừng là hung. Mặt núi tròn đầy vuông vức là cát, nhọn nghiêng là hung; đỉnh bằng phẳng, phong mãn là cát, vỡ vụn là hung; chân núi tròn đầy là cát, nhọn, lệch, chạy tản mác là hung.

Mộc tinh hình thể dựng thẳng mà không ngay ngắn, tính tình ôn thuận. Sơn thế dựng đứng mà kiên nghị, thanh tú là cát; nghiêng lệch tản mạn là hung.

Thủy tinh hình thể linh động, tính tình trầm tĩnh. Núi tầng tầng lớp lớp như sóng nước nhấp nhô là cát, nếu ở giữa rời rạc tản mác là hung; mặt núi như sóng trào liên miên bất tuyệt là cát, tiêu tán hỗn loạn là hung. Đỉnh tròn trịa, khúc triết như muốn cuộn lên là cát, đỉnh thô kệch nghiêng lệch là hung; chân núi bằng phẳng chỉnh tề cân đối là cát, cuồn cuộn xông tới không thu hồi được là hung.

Hỏa tinh hình thể như ngọn lửa bốc cao, tính tình nóng nảy. Sơn thế cao vút linh động là cát, thô kệch nặng nề là hung. Mặt núi sáng sủa, bên dưới tươi tốt là cát; nếu đá núi lởm chởm lại vỡ vụn thì hung. Đỉnh như đầu ngọn lửa, nhọn thì cát, vỡ vụn là hung. Chân núi chênh chếch mang theo tinh tú là cát, chuyển theo hướng ngược, thô kệch là hung.

Thổ tinh hình thể vuông vức, nặng nề mà đoan chính, tính tình trầm ổn, thanh cao mà chậm rãi. Sơn thế hùng hậu, cao vút là cát, nghiêng lệch là hung. Mặt núi bằng phẳng cao vượt là cát, thô kệch tản mác là hung; đỉnh nhọn, tươi nhuận, dày là cát, đỉnh tròn mà ẻo lả là hung; chân núi bằng phẳng, thu rút lại là cát, vỡ vụn như bọt nước là hung.

Lõm, kẹp, nhũ, đột: bốn hình để đặt huyệt

Khi đã biết núi thuộc hành nào, bước sau là nhận ra hình huyệt. Có những địa thế "biên oa" là thế lõm bị khuyết một bên, vì tinh tú đã đứng lại, mặt tuấn mở rộng, tinh khí không kết thành huyệt được, bèn tạo ra một khoảng bình địa ở phía dưới, bên còn lại hơi nhô lên bao bọc; địa thế này phải cạn và bằng phẳng mới hợp cách. "Tịnh oa" là cùng một tinh phong mà có mấy chỗ lõm có thể hạ huyệt, long mạch cần cực quý mới kết được chân huyệt; trong chỗ lõm phải đều đặn viên mãn, vách ngăn phân minh mới hợp cách. "Phân kiềm" là nơi kết huyệt tách ra hai bên tả hữu, thường tản mác trên bình địa; "hợp kiềm" thì chân khí kết tụ tại nơi hai nhũ nhô ra, ở giữa kết thành huyệt, có vài chỗ cao vượt lên. "Thiểm nhũ" và "trắc nhũ" là nhũ lệch về một bên, địa huyệt lệch theo một hướng, không phải chính; bên ngoài có thanh long bạch hổ bao bọc thì gần như hợp quy cách. "Cốt đột" là địa thế mơ hồ không rõ ràng, nhìn kỹ mới thấy đường nét thực; "tịnh đột" là hai đột liên kết với nhau, nên hạ huyệt ở chỗ giao nhau, vì khí hợp của nó như hai thế vượt lên, tựa thái cực bị bao trong vòng tròn. Lại có thế "oa kiềm nhũ đột bất táng", tức bốn hình huyệt nhưng không thể táng.

Khi hình huyệt đã rõ, mỗi hành lại cho thêm một bộ dáng và một phương hướng riêng.

Mỗi hành trong ngũ tinh đều có chính thể, trắc não và bình diện, mỗi thế đều có các dạng lập, miện, tọa, và phân lớn nhỏ, cao thấp, lõm cạn, lõm sâu. Kim tinh có thái dương chính thể, thái âm chính thể, thái dương trắc não, thái âm trắc não, bình diện thái dương, bình diện thái âm. Hình huyệt của Kim tinh tọa các hướng Thân, Canh, Dậu, Tân, Càn, Khôn, Cấn thì địa huyệt đều hội tụ được chân khí thịnh vượng, chủ sinh người tướng mạo thanh tú, thông minh khoáng đạt; những năm Ất Dậu, Ất Sửu sinh người nhận phúc ấm đều ứng nghiệm. Mộc tinh có nhị thể, trắc não, bình diện, khúc xích nhũ, hoành mộc nhũ, công tự mộc kiềm, đảo địa mộc. Ngô công nói đảo địa mộc dài một trăm mấy mươi trượng, ngang hay dọc đều có thể hạ táng; thế ngang cần tìm huyệt ở giữa, vì tinh khí bao bọc rất vượng. Các địa huyệt của Mộc tinh tọa hướng Dần, Mão, Giáp, Ất, Tốn đều có tinh khí thịnh vượng, chủ sinh người thanh tú, tâm tính khoáng đạt; người sinh năm Hợi, Mão, Mùi phát cả phú lẫn quý.

Thủy tinh có chính thể, trắc não, bình diện. Các địa huyệt của Thủy tinh tọa hướng Nhâm, Quý, Tý, Hợi sinh khí thịnh vượng, chủ sinh người diện mạo thanh thoát, tâm tính phóng khoáng; người sinh năm Thân, Tý, Thìn phú quý song toàn. Kinh nói thủy tinh phần lớn xuất do đất, chỗ kỳ diệu của nó thật khó nói hết. Thổ tinh có chính thể, trắc não, thiên tài oa, thiên tài kiềm, thiên tài nhũ, thiên tài đột, bình diện, kỳ bàn oa, kỳ bàn kiềm, kỳ bàn nhũ, kỳ bàn đột, ngọc kiển, phổ chiên, đồ đao. Hình huyệt của Thổ tinh tọa các hướng Thìn, Tuất, Sửu, Khôn, Cấn, Tỵ, Ngọ đều được địa tinh khí thịnh vượng, chủ sinh người tướng mạo phúc hậu, tâm tính khoan dung độ lượng.

Ba cách lớn: chính thể, trắc não, bình diện

Huyệt có ba cách lớn là chính thể, trắc não và bình diện. Chính thể thì tinh thần, đỉnh mặt đoan trang, ngay thẳng, hình thế tôn quý. Trắc não thì đầu mặt nghiêng lệch, hình thể không ngay ngắn. Bình diện thì tinh phong cúi đầu xuống đất, bằng phẳng, cao thấp không đều. Theo phép ngũ tinh của Tử Vi thì Kim gọi là võ tinh, Mộc là văn tinh, Thủy là tú tinh, Hỏa là lộc tinh, Thổ là tài tinh. Liêu công lại chia thành chín cách định huyệt tinh: chính thể, khai khẩu, huyền nhũ, cung cước, song tí, đơn cổ, trắc não, một cốt và bình diện. Nay chỉ luận ba cách chính thể, trắc não, bình diện, và gọi sáu loại còn lại là huyệt, vì cung cước, song tí, đơn cổ thực ra là "kiềm hình huyệt", khai khẩu là "oa hình huyệt", huyền nhũ là "nhũ hình huyệt". Chính thể, trắc não, bình diện mỗi cách đều đã bao gồm oa, kiềm, nhũ, đột cùng biến hóa của chín cách; còn Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ lại dựa vào ba cách này mà quán thông mọi sự.

Hỏa tinh không thể kết huyệt mà chỉ có thể làm đối và án của tổ sơn. Trong cổ thư của các nhà địa lý nổi tiếng như Quách Phác, Dương công, Ngô công đều viết hỏa tinh không kết huyệt. Vì sao vậy? Vì tính của Hỏa quá nóng nảy: Kim vào Hỏa thì chảy ra, Mộc vào Hỏa thì bị thiêu cháy, Thủy vào Hỏa thì khô cạn, Thổ vào Hỏa thì héo hắt. Do đó Hỏa không thể kết huyệt mà chỉ có thể làm diệu khí long, làm sa phía trước tổ sơn. Tinh phong thuộc Kim, Mộc, Thủy, Thổ muốn kết huyệt cần có các địa hình oa, kiềm, nhũ, đột mới xem là có địa huyệt.

Thế và hình cùng thuận thì gọi là toàn khí, thế và hình nghịch nhau thì gọi là quai khí.

Kinh nói phàm khi nói chữ "hình" tức có ý chỉ huyệt: ngàn thước là thế, trăm thước là hình; hình và thế hòa thuận gọi là toàn khí, nghịch nhau gọi là quai khí. Thế cát mà hình cũng cát gọi là toàn cát; thế hung mà hình cũng hung gọi là trùng hung. Nếu thế hung mà hình cát thì trăm phúc có một họa; nếu thế cát mà hình hung thì phúc ít họa nhiều. Do vậy mới nói quan sát khí thế để tìm long rất dễ, nhưng trèo đèo lội suối để điểm địa huyệt thì ngược lại, cực kỳ khó.

Nguồn: Lưu Bá Ôn, Địa Lý Toàn Thư, tập 1.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Đạo Gia