Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Một câu chú tụng mười vạn lần và những bộ kinh chú

Đạo Học - Khuyên Thiện04/10/202616 phút đọc4 lượt đọc
Một câu chú tụng mười vạn lần và những bộ kinh chú

Người ta bảo tụng một câu chú mười vạn lần thì thấy hiệu quả, và hơn một nghìn bộ kinh chú kể đủ chuyện: tôn giả A Nan bị chú thuật làm mê, tôn giả A Nan mắc bệnh nặng, ma vương bị hàng phục. Có người xem đó là sóng âm tác động lên tâm. Sức của một lời chú nằm ở tiếng, hay ở lòng người tụng...


Chú không chỉ để trừ ma, mà là chỗ cô đọng của cả bộ kinh

Chú ngữ thuộc phần tôn giáo, gồm phép tu đặc thù của đạo Phật lẫn Đạo giáo. Nghĩa của Phật chú rất rộng: nhiều kinh chú là bản thu nhỏ của những bộ kinh lớn, ẩn chứa nghĩa Phật sâu xa. Chú là nội dung quan trọng của việc tu trì chứ không chỉ để hàng ma trừ quỷ. Chú là mật kinh, kinh là hiển chú; kinh và chú vốn không phải hai nghĩa khác nhau, niệm kinh hay niệm chú đều là niệm Phật. So hai bên, chú là phần tinh nghĩa cô đọng của kinh, hàm ý rất sâu. Vì chú gói được toàn bộ thâm nghĩa của Phật pháp nên còn gọi là "tổng trì". Nhất tự chú của Mật giáo như "Án, A, Hồng" đều có ý nghĩa chủng tử chú. Sáu chữ đại minh của Quán Âm "Án ma ni bát mê hồng", câu "Nam mô A Di Đà Phật" của Tịnh Độ tông và bài chú mười tám chữ trong Tâm kinh đều là phần cô đọng nhất của kinh Phật, rất đáng học hỏi.

Lối cô đọng ấy cũng thấy trong văn hóa truyền thống Trung Hoa. Phần tinh túy nhất của văn hóa bói toán xưa thuộc loại mật kinh, có thể coi là ngang với chú. Chẳng hạn bốn chữ "nguyên, hanh, lợi, trinh" của Chu Dịch là một "tứ tự chú" hàm nghĩa sâu, chứa cả tinh túy của Kinh Dịch, xem như "chú trong chú". Đạo giáo cũng có những lời chú sâu xa; nhiều bộ nội đan kinh là hình thức của chú kinh, như bài Đỉnh khí ca trong Tham đồng khế thực chất là chú luyện đan.

Kế thừa văn hóa vừa cần ghi chép hệ thống, quy mô lớn, vừa cần gọt giũa, tinh luyện câu chữ. Văn hóa Trung Hoa có kho kinh điển mênh mông như biển, mà Kinh Dịch, kiệt tác tiêu biểu, chỉ gần năm nghìn chữ; Lão Tử cũng chỉ năm nghìn chữ mà bất hủ nghìn đời. Đại tạng kinh của đạo Phật đồ sộ gần bốn mươi triệu chữ, mà Tâm kinh chỉ vài trăm chữ. Nên chú là tinh túy của kinh, phần không thể thiếu. Những bộ như Tứ khố toàn thư hay Cổ kim đồ thư tập thành có hàng triệu chữ, còn những kiệt tác tập đại thành quy mô nhỏ như Dịch kinh, Luận ngữ, Lão Tử đếm trên đầu ngón tay; đó là điều đáng chú ý khi kế thừa và phát huy văn hóa truyền thống.

Vì sao tụng một câu mười vạn lần lại có sức?

Khoa học nay chưa giải thích hết, nhưng người xưa đã để lại một con số và một thói quen kiên trì.

Nhà Phật cho rằng tụng chú mười vạn lần thì thấy hiệu quả, chủ yếu vì sinh ra sự "cảm triệu" giữa chúng sinh và chư Bồ tát, từ đó thu được công đức của Bồ tát, mau chứng quả Phật; nhiều người cùng tụng ở một chỗ thì cảm triệu càng dễ. Niệm chú còn có uy lực tiêu tai, hàng ma. Sao chú lại có sức lớn như vậy? Theo quan niệm khoa học hiện đại, chú là một loại sóng âm, hiệu ứng tổng hợp gắn bó chặt với tâm lý học, y học và vật lý.

Nhưng ý nghĩa huyền bí của Phật chú nay vẫn chưa làm sáng tỏ hết. Vì Phật chú gồm cả "tụng thầm không thành tiếng" lẫn "tụng ra tiếng"; mà tụng thầm không phải là không có âm thanh phát ra, chứng tỏ tác dụng không đơn thuần là âm thanh, mà là một kiểu truyền dẫn và tiếp nhận ẩn trong nội lực. Những điều ấy còn đợi chúng ta khám phá; con người tìm hiểu chính cơ thể mình vẫn còn nông cạn, chưa vào được những vùng phức tạp.

Hoạt động tâm lý tầng cao của Phật học cũng cần đi sâu nghiên cứu. Phật học rất coi trọng tu trì tâm lý, đặc biệt A lại da thức phản ánh độ sâu của hoạt động tâm lý ấy, là "tuyệt chiêu" vượt phiền não, đoạn vọng niệm. Tuy thuộc tín ngưỡng tôn giáo, nó cũng đưa ra cách giải quyết vấn đề căn bản về xã hội và tâm lý. Cái "chúc do" (lời chúc, lời khấn) của Trung Quốc cổ đại cũng đáng nghiên cứu như một cách giải tỏa khủng hoảng và mâu thuẫn trong lòng. Tóm lại, quá trình tâm lý siêu thoát và thanh lọc của Phật học tuy là chuyện tôn giáo quy y, nhưng có thể gỡ cơn khủng hoảng tinh thần; quy luật biến đổi tình cảm và hoạt động tâm lý trong đó rất đáng học hỏi.

Chú và sức khỏe: tâm đi trước, thân theo sau

Người tu Phật thường sống lâu. Vì sao một câu niệm lặp đi lặp lại lại gắn với tuổi thọ?

Ngoài tác dụng giúp người tu thành Phật, Phật chú còn giúp tăng sức khỏe, kéo dài tuổi thọ. Câu "Nam mô A Di Đà Phật" niệm mười vạn lần không chỉ mau chứng cảnh Phật mà còn kéo dài tuổi thọ. Niệm chú không thuộc phạm trù trường thọ, nhưng có thể tăng thọ; đó là kết quả của tâm lý ảnh hưởng sinh lý. Do nhà Phật chú trọng tu tâm tính, hiệu ứng tâm lý của sự chuyên tâm thành kính sinh ra tác động lên sinh lý. Sự kết hợp giữa gia trì, quán tưởng và tụng chú của ba mật bên Tạng Mật vô hình chung đem lại tác dụng tăng cường sức khỏe, kéo dài tuổi thọ; trong chuyện này Tạng Mật tỏ ưu thế. Trong đó quán tưởng tam mạch thất luân, quán tưởng minh điểm và phép đếm hơi thở Kim cương đem lại tác dụng điều tiết hơi thở khi gia trì niệm Phật, phản ánh mối gắn bó giữa sinh lý và tâm lý. Đó cũng là một lý do đệ tử nhà Phật sống lâu.

Nhà Phật còn có chú trường thọ riêng, như Thánh lục tự tăng thọ đà la ni kinh, đặc biệt là "lục tự quyết" xuy, hô, ha, hi, hư, tứ giúp tăng sức khỏe, phòng bệnh. Vì âm luật của sáu chữ cao thấp, mạnh yếu khác nhau nên tác động đến ngũ tạng: sách Ma ha chỉ quán nói "ha" trị gan, "xuy, hô" trị tim, "hư" trị phổi, "hi" trị thận, "hô" trị tỳ; sách Tiểu chỉ quán nói tim thuộc "hô", thận thuộc "xuy", tỳ và phổi thuộc "hô", "hư"; khi tạng nóng, mệt thì "hư" tự tới, chỗ tim tắc nghẽn thì nói "hư". Tóm lại, Phật chú có tác dụng nhất định đối với tăng sức khỏe, phòng bệnh, kéo dài tuổi thọ; riêng phép tu ba mật trong Tạng Mật rất đáng học hỏi.

Những bộ kinh chú tiêu biểu trong Đại tạng

Riêng kinh chú trong Đại tạng đã hơn một nghìn bộ. Chọn vài bộ để thấy mỗi bộ nói với ai, về nỗi sợ nào.

Chư Phật tâm đà la ni kinh do Huyền Trang vâng chiếu dịch, nói rằng chúng sinh khổ não mà dốc lòng thọ trì đọc tụng sẽ vượt qua và đoạn diệt trăm nghìn kiếp khổ sinh tử, chứng quả chính đẳng chính giác, tu hành mau chóng, không thoái chuyển, tiêu trừ nghiệp ác, quân ma đều kinh sợ lẩn tránh. Khi Phật nói xong thần chú, biển lớn và đại địa của ba nghìn đại thiên thế giới chấn động, cung điện các cõi trời cùng nghiêng ngả, ma quân suy sụp, nhìn nhau hoảng loạn; những chúng sinh cần được độ giật mình kêu lên, chỉ có các vị thiên đã tin sâu Tam bảo vui mừng nhảy múa rải hoa cúng dường, khuyên Ma quân lễ pháp quy y. Phật nói với các Bồ tát: ta thương xót chúng sinh nên nói đà la ni này cho họ thoát khổ nạn, hãy luôn nhớ nghĩ và truyền khắp thế giới.

Lục tự đà la ni chú kinh kể Phật ở núi Kỳ Xà Quật, thành Vương Xá, cùng năm trăm đại tỳ khưu. Tôn giả A Nan bị cô gái Chiên Đà Lợi dùng chú thuật làm mê muội, bạch với Thế Tôn rằng mình bị chú thuật. Phật bảo A Nan chớ sợ, hãy thọ trì chú sáu chữ này để bốn chúng được lợi ích, yên ổn, an lạc. Kinh nói chú trừ được bệnh tiêu hóa, bệnh hàn nhiệt, trừ chú thuật, tà thuật, xác chết đi, bùa yểm. Ai biết tên của thần chú này thì không sợ nạn vương quyền, nạn thù địch, giặc cướp, lửa thiêu, thủy tai, ở nơi thành thị chợ búa hay chốn hoang vắng đều không sợ, cũng không sợ kẻ gièm pha rình mò; thậm chí uống phải trà có độc cũng không hại mà còn chuyển thành có ích.

Thánh kinh đà la ni đại minh tăng thọ lục tự, do Thi Hộ vâng chiếu dịch, kể Phật ở vườn Cấp Cô Độc, nước Xá Vệ. Lúc đó A Nan mắc bệnh nặng, Phật biết chuyện đích thân tới, trải tòa ngồi, bảo: ta có thần chú sáu chữ đại minh đà la ni, có thể tiêu tai nạn, tăng thọ mệnh; ông thọ trì thì không chỉ ông có lợi mà còn khiến bốn chúng (tỳ khưu, tỳ khưu ni, ưu bà tắc, ưu bà di) mãi mãi yên ổn, thoát mọi khổ ách. Thần chú này do bảy mươi bảy vị Câu Chi Phật và sáu vị đại uy đức cùng nói: Như Lai, Đế Thích, Đa Văn Thiên Vương, Trì Quốc Thiên Vương, Tăng Trưởng Thiên Vương, Quảng Mục Thiên Vương. Phật dạy có uy lực lớn, người lo nạn vương pháp, nạn nước lớn, lửa lớn mà nhất tâm trì niệm sẽ được phù hộ, giải thoát, tai nạn mau tiêu; người ấy trường thọ, không bệnh, tà ác không xâm phạm; trì tụng, chép lại để cúng dường là cách tốt nhất. A Nan nghe xong tin nhận làm theo.

Kim Cương Dược Xoa oán thù vương tức tai đại uy thần niệm tụng nghi quỹ (Kim Cương Trí dịch) có hình tượng thần phẫn nộ mắt giận miệng gầm dữ dội, tụng minh chân ngôn; khi Phật nói lời ấy, ba nghìn đại thiên thế giới sáu lần chấn động, người tụng được tăng thần lực, xin hộ trì Phật pháp không thoái chuyển; nếu có kẻ tạo oán với người lương thiện làm họ phiền não, pháp sư nên vẽ hình thần phẫn nộ lớn nhỏ tùy ý. Đại sư chú pháp kinh (Lưu Chỉ dịch) nêu thần chú Tỳ Na Dạ Ca nhất tự, mỗi ngày đủ một nghìn tám trăm biến, được coi là công năng bậc nhất; lại có hai chú khác xếp thứ hai và thứ ba, trong đó một chú dặn người tụng không được chạm vào đầu tượng.

Bạt tế khổ nạn đà la ni kinh do Huyền Trang dịch: chí thành kính lễ Như Lai Bất Động và thọ trì thần chú này thì đoạn trừ được tội ngũ vô gián, bốn tội nặng, mười ác cùng tội hủy báng chính pháp và chư thánh hiền; mau chứng chính đẳng bồ đề vô thượng. Phật thuyết bạt trừ tội chướng chú vương kinh do Nghĩa Tịnh dịch: đây là thần chú tạng tâm vương, thần chú căn bản tối thắng, có thể trừ mọi ách nạn khổ não, tội chướng, ác nghiệp, lại trường thọ không bệnh, giàu vui, nói năng thông biện, nhiều người yêu mến, và thông hết các chú vương khác. Khi Thích Ca nói xong chú này, thế giới các Phật khác cùng chấn động, mọi chướng ngại do Tỳ Na Dạ Ca gây ra tự tiêu.

Thỉnh Quán Thế Âm Bồ tát tiêu phục độc hại đà la ni chú kinh (đời Đông Tấn) có lời nguyện cầu như bài thơ: xin cứu con khỏi khổ ách, soi chiếu ánh sáng thanh tịnh, để tránh khổ bị sát hại; con nay tự quy y, mong Ngài đến cho con đời này vui, lòng đại bi che chở, diệt trừ si mê, phiền não và bệnh tật, cho con niềm an lạc, nghe danh Ngài cứu nạn, như người cha lành của thế gian, cứu con thoát khổ, được vào Đại Niết bàn. Thập phương chư Phật cứu hộ chúng sinh thần chú: Phật dạy thần chú này cũng là lời dạy của vô lượng chư Phật ba đời mười phương, người trì tụng được chư Phật và đại Bồ tát hộ trì, thoát nạn đao thương, độc hại, sợ hãi, bệnh tật, được yên ổn. Kinh nói mọi nỗi sợ, độc hại, hổ lang, sư tử, thú dữ nghe thần chú này miệng đều ngậm chặt không thể làm hại; người phá phạm hạnh, làm mười điều ác nghe chú này thì tội tiêu và trở lại thanh tịnh.

Hoa nghiêm kinh tâm đà la ni là thần chú do Như Lai Phổ Hiền nói, qua bản dịch của Tam Tạng Thực Nghĩa Nan Đà nước Vu Điền. Riêng bản dịch ấy nói ai tụng chú này một lượt thì bằng đọc cả ba quyển thượng, trung, hạ của Hoa nghiêm trong Long tạng; nếu tụng liên tục đủ mười vạn lần thì sẽ ngộ giáo lý vi diệu, hiểu hết giáo tạng, phúc đức đầy đủ và đổi được chướng nghiệp. Phật thuyết Lục tự thần chú vương kinh kể Phật ở rừng Kỳ Đà, có một cô gái ngoại đạo tên Chiên Đà La chuyên làm điều ác, bùa chú, sai khiến được quỷ thần, sơn hà, nhật nguyệt, ngũ hành, Nam Đẩu, Bắc Thần, mọi quỷ mị tà ma; mê hoặc A Nan và các thiện nhân khác, tội ác chồng chất. Phật thấy A Nan hoảng hốt thì thương cảm vô cùng nên dạy Vương kinh lục tự thần chú.

Thiên thủ thiên nhãn Quán Thế Âm Bồ tát đại bi tâm đà la ni do Bất Không dịch, chép trong bộ Mật giáo của Đại tạng, mở đầu bằng lời tán: kính lễ đại bi Quán Thế Âm, nghìn tay trang nghiêm rộng hộ trì, trong lời chân thực nói mật ngữ, phù hộ chúng sinh được đầy đủ; thân tướng oai nghiêm nhiều nguyện học, nghìn mắt quang minh chiếu khắp, trong tâm vô vi khởi từ tâm, mãi diệt trừ mọi ác nghiệp; thiên long thánh chúng cùng gia hộ, thọ trì thân là ánh quang minh, tẩy rửa trần lao cùng thoát khổ, con nay quy y cùng phát nguyện; trăm nghìn tam muội sớm tu thành, thọ trì tâm là tạng thần thông, qua cửa phương tiện chứng bồ đề, sở nguyện nơi tâm đều viên mãn. Rồi lời nguyện xướng: kính lễ Đại bi Quán Thế Âm, xin mau biết hết thảy pháp, mau được mắt trí tuệ, mau độ hết chúng sinh, sớm được phương tiện, sớm ngồi thuyền Bát nhã, sớm thoát biển khổ, sớm được con đường giới định, sớm lên Niết bàn, sớm vào nhà vô vi, sớm thể nhập pháp thân. Nếu con hướng đến núi dao, núi dao tự tan nát; hướng đến lửa, lửa tự tắt; hướng đến địa ngục, địa ngục tự tan hoang; hướng đến ngạ quỷ, ngạ quỷ tự no đủ; hướng đến a tu la, ác tâm tự điều phục; hướng đến súc sinh, súc sinh tự có đại trí tuệ. Phát nguyện xong thì chí tâm niệm danh hiệu Quán Thế Âm và danh hiệu Bản sư A Di Đà Như Lai, thường xuyên tụng thần chú, một đêm đủ năm biến sẽ trừ được trọng tội sinh tử vô số ức kiếp nơi thân.

Phật thuyết Đại luân Kim cương tổng trì đà la ni kinh nêu mười điều người muốn thọ trì pháp môn tổng trì cần làm khi tụng kinh, ngồi thiền, hành thiện: thanh tịnh; tận tâm chí thành; kiên trì không thoái; báo bốn ân Phật; rộng đạt thệ nguyện (ngày đêm tinh cần báo ân sư tăng, cha mẹ); báo ân Bồ tát; báo ân Kim cương; báo ân ba mươi ba cõi trời; báo ân tứ đại thiên vương; báo ân tiên nhân trì chú. Thế Tôn nói xong thần chú, dặn Chấp Kim Cương Thần, Trì Chú Tiên Nhân và chư tỳ khưu rằng trước hết phải mặc áo mới sạch, thắp hương cúng dường, tụng thần chú bảy ngày bảy đêm; nếu chỉ đốt hương và nước sạch trì tụng đủ mười vạn biến cũng thành tựu hết các pháp chú khác, khi mệnh chung mau được về cõi Phật. Một chú khác kể danh hiệu các Bồ tát: Kim Cương Tạng, Văn Thù Sư Lợi, Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm, Thập Nhất Diện Quán Thế Âm, Cứu Thoát, Định Tự Tại Vương, Địa Tạng, Vô Thượng, Di Lặc; mười vạn chư Phật xoa đầu thọ ký; người trì chú này là pháp môn căn bản của vô lượng chư Phật trong quá khứ, tiêu trừ hết thảy tội chướng; chúng sinh đơn căn thì từ mồng một tháng giêng đến trước tượng Phật trì thần chú này mười vạn biến.

Cuối cùng là Vô Năng Thắng đại minh đà la ni kinh do Pháp Thiên dịch: thành tâm lễ chính giác cùng pháp hiền thánh tăng, Bồ tát nói thần chú, lời chú phá chướng ngại. Bồ tát Vô Năng Thắng khi nói thần chú này đã biến thân thành tượng thiên nữ đứng trước Ma vương, khởi tâm thương xót, chắp tay trên đầu nói: tâm Bồ tát thanh tịnh, như ta nói nghĩa thắng, đại trí đại quang minh, vĩnh đoạn si mê, xưa kia cầu Bồ tát, quân ma nay đã hàng, hàng rồi ma quân thua, lại được không sợ hãi, thị hiện nơi thế gian, quyết tâm thành chính giác, làm thầy cõi trời người, mau chóng độ quần sinh; các con nhìn thấy đó, lòng sinh đại hoan hỷ; quyến thuộc Ma vương không đến được bờ giác, nay sức đại thần chú phá sạch binh phiền não. Bồ tát Vô Năng Thắng dùng tiếng Phạn vi diệu trì đủ mười vạn biến.

Gom lại, hơn một nghìn bộ chú kinh là một phần quan trọng của kinh Phật; Phật chú là nội dung đặc thù của Phật học, cũng là một trong những điều chủ yếu của người tìm hiểu, nghiên cứu Phật học.

Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 4, thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện