Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Mắt thấy tai nghe và nghề thông sử của Tư Mã Thiên

Đạo Học - Khuyên Thiện03/10/202612 phút đọc2 lượt đọc
Mắt thấy tai nghe và nghề thông sử của Tư Mã Thiên

Có người viết sử không ngồi trong thư phòng mà lên đường, đi xem tận nơi những chuyện mình sắp chép. Nhờ thế ba nghìn năm được nối thành một dòng sông liền mạch, và những bộ sử đời sau đều mang dáng dấp của ông…


Bóng Hoàng Lão phía sau và thái độ coi nhẹ hình pháp hà khắc

Thời Hán tuy lấy Nho học làm dòng tư tưởng chủ đạo, vẫn có một mức độ nhất định tư tưởng Hoàng Lão thấm vào. Nhất là Đậu Thái hậu ham học Hoàng Lão, nên tư tưởng ấy cũng được phản ánh ở mức nhất định trong các đời vua nhà Hán. Vì vậy trong quá trình cai trị, ảnh hưởng của tư tưởng gia đạo, dù chỉ là phần nhỏ, là điều không tránh khỏi. Sử ký phản ánh điều ấy, và cũng là chỗ để thấy bộ sử không chỉ có một màu.

Bên cạnh việc đề cao Nho học và tiếp thu đạo gia, Tư Mã Thiên còn có khuynh hướng coi nhẹ quốc pháp một cách rõ nét. Trước hết khuynh hướng này hiện ở việc ông phê phán mạnh mẽ Tần Thủy Hoàng. Ông tả tướng mạo hình hài Tần Thủy Hoàng rất xấu xí, vạch trần hành động tàn ác của ông ta khi đốt sách, chôn học trò. Ông còn vạch những hình phạt tàn ác của nhà Tần và bọn quan tham độc ác của nhà Hán, qua đó bộc lộ rõ thái độ xem nhẹ hình pháp nghiêm khắc.

Trung thành với sự thật: tra cứu tư liệu và đích thân đi khảo sát

Có những người viết sử ngồi trong thư phòng, nhưng người này còn lên đường, đi xem tận nơi những chuyện mình sắp chép.

Sử ký là một bộ chính sử, không chỉ có giá trị cao về nghệ thuật văn học mà còn chói sáng chủ nghĩa duy vật. Trong quá trình biên soạn, Tư Mã Thiên đúc ra quy luật phát triển của lịch sử và nâng lịch sử lên tầm triết học, nên Sử ký toát lên một nhãn quan lịch sử khoa học.

Điều thứ nhất là trung thành với sự thật lịch sử. Khi chép sử, Tư Mã Thiên chú trọng ghi sự thật về người và việc. Ông không chỉ nghiêm túc tra cứu tư liệu mà còn đích thân đi khảo sát, điều tra, nên tư liệu của Sử ký phong phú, xác thực, tình tiết chặt chẽ, đúng tinh thần thực sự cầu thị.

Điều thứ hai là phương pháp biên soạn khoa học. Ông học, đọc và rút kinh nghiệm từ Thượng Thư, Quốc ngữ, Xuân Thu, Chiến quốc sách…, đồng thời phát huy tính độc lập của bản thân, nhờ vậy làm nên bộ Sử ký lớn nhất Trung Hoa. Vấn đề quan trọng là chọn lọc tư liệu một cách khoa học. Có thể nói Tư Mã Thiên nắm chắc toàn bộ quá trình phát triển của ba nghìn năm lịch sử Trung Hoa, lại thông tỏ như lòng bàn tay mọi chuyện của bàn dân thiên hạ cũng như tam giáo cửu lưu.

Điều thứ ba là tôn trọng quy luật phát triển của lịch sử. Tính khoa học của Sử ký còn hiện ở chỗ Tư Mã Thiên khéo dự báo và tôn trọng quy luật ấy. Phần lớn tư liệu chọn biên soạn đều phản ánh những thời khắc then chốt của lịch sử, những biến thiên của xã hội, những sự kiện trọng đại liên quan đến sự tồn vong của quốc gia và vinh nhục của dân tộc. Khi viết về các sự kiện lớn, ông chú trọng kể những cuộc chiến tranh gắn với xu thế đi tới của lịch sử. Tóm lại, việc biên soạn Sử ký rất coi trọng quy luật khách quan, từ sự thật khách quan mà chọn lọc, ghi chép khoa học, nên nó phản ánh được các bước ngoặt của lịch sử và rõ nét cả xu thế phát triển của xã hội. Vì thế tính khoa học của nó rất cao.

Thông sử kỷ truyện: vượt khỏi khuôn khổ tháng năm và triều đại

Trước khi có bộ sử này, người ta kể chuyện đời xưa theo từng năm, từng nước, và chưa ai nối được cả dòng sông dài ba nghìn năm.

Những sách chuyên về sử ra đời trước Sử ký có nhiều thể loại: biên niên sử như Xuân Thu, Tả truyện, Công Dương truyện, Cốc Lương truyện; kỷ sự đoạn đại như Quốc ngữ và Chiến quốc sách; và sử ca như Thế bản.

Sử ký là bộ thông sử kỷ truyện đầu tiên của Trung Hoa. Lối viết của nó vượt ra ngoài khuôn khổ tháng năm và triều đại, giúp xem xét lịch sử theo chiều sâu. Nó thuộc thể loại thông sử kỷ truyện, gồm các thể tài bản kỷ, biểu, thư, thế gia, liệt truyện. Ưu điểm của nó là không bị hạn chế bởi niên đại, nên rút ra được quy luật của lịch sử xã hội một cách tổng hợp và toàn diện. Vì vậy nó có ảnh hưởng sâu sắc đến các thế hệ sau, như "Thông sử" của quan sử lệnh đời Lương Vũ Đế hay "Tư trị thông giám" của Tư Mã Quang, đều cho thấy dấu vết của Sử ký trong cách chọn lọc và biên soạn.

Viết cả lịch sử của thời đang sống

Sử ký không chỉ là bộ thông sử xuất sắc mà còn là bộ sử đương đại vĩ đại. Noi theo tinh thần dẹp ác, giúp thiện, đánh tà, giúp chính của Khổng Tử, Tư Mã Thiên với sự quan sát sắc bén và nhãn quan chính trị tốt đã làm nổi bật lịch sử đương đại. Ông viết lịch sử đương đại vượt lên cách viết sử biệt lập của thể biên niên trước đó, dùng thể kỷ truyện để kể bao quát, thấu suốt lịch sử đời Hán, nhờ đó phản ánh được dây chuỗi nhân quả, chỉ ra ngọn nguồn của hưng vong và nắm được quy luật phát triển của xã hội. Sau Sử ký, hàng loạt tác phẩm lịch sử đương đại và kỷ sự đoạn đại của Trung Hoa lần lượt ra đời.

Điển hình ấy còn hiện ở quan điểm sử học hiện thực của ông. Tư Mã Thiên dùng một nửa bộ sử để viết lịch sử đương đại, dùng nhãn quan lịch sử tiến bộ quan sát xã hội và chọn chỗ đứng để mô tả hiện thực. Thái độ yêu ghét rõ ràng, tốt xấu nói thẳng của ông phá lề thói tách bạch lịch sử với hiện thực của sử sách trước. Sử ký còn dám lấy chuyện sử để giảng nghĩa lý, quan sát diễn biến thời thế mà dự báo xu hướng lịch sử và sự thịnh suy của xã hội. Qua đó thấy trong bộ sử, lịch sử và hiện thực là một thể thống nhất hữu cơ.

Người thầy đặt nền móng và đầu mối nối liền sử cũ với sử mới

Từ một bộ sử đồ sộ, hàng chục bộ chính sử về sau cứ thế nối nhau ra đời, và mỗi bộ đều mang dáng dấp của người đi đầu.

Tư Mã Thiên là người thầy vĩ đại của sử học Trung Hoa, người đặt nền móng cho sử học sau Khổng Tử. Tư liệu trong Sử ký xác thực, nội dung phong phú, vượt qua thử thách của lịch sử, thậm chí có giá trị như một hóa thạch sống. Ông xuất thân từ dòng dõi sử học, lại làm quan trông coi hồ sơ, tài liệu của hoàng gia và thư ký cung đình, nên có điều kiện tả thực lịch sử. Thêm vào đó ông chịu gian truân đi khảo sát thực tế, dày công học đọc, tra cứu, nên hoàn thành được bộ Sử ký đồ sộ uyên thâm, làm rường cột cho sử sách đời sau. Từ sau Sử ký, chính sử Trung Hoa ra đời hàng loạt.

Sử ký còn là đầu mối nối tiếp trong sử sách Trung Hoa. Với sử trước, nó tiếp nối Xuân Thu, Tả truyện, Quốc ngữ, Chiến quốc sách. Với sử sau, nó tạo cơ sở cho Hán thư, Tam quốc chí, Tư trị thông giám ra đời. Cả về việc ghi chép lịch sử lẫn sự nghiệp phát triển sử học, nó đều có tác dụng lớn về tính kế thừa và phát triển.

Tư Mã Thiên chắt lọc tư liệu trong Xuân Thu, Tả truyện, đúc kết thể tài của Quốc ngữ, Chiến quốc sách, gọt giũa, chọn lọc sử cũ, mạnh dạn đột phá, sáng tạo thể loại thông sử kỷ truyện. Đặc biệt ông đúc kết tư tưởng giúp thiện dẹp ác của Xuân Thu, mạnh dạn hiệu đính lịch sử, nên tạo lập phong cách chuẩn mực cho sử sách đời sau. Hơn nữa, trên cơ sở ghi chép sự việc thuần túy của Xuân Thu, ông bổ sung thêm phần ghi chép, mô tả nhân vật và bình luận về sự việc, nhân vật, làm giàu thêm nội dung cho sử học.

Sử ký là một tác phẩm mang tầm thế kỷ, gồm mười hai bản kỷ, tám thư, mười biểu, ba mươi thế gia, bảy mươi liệt truyện, tất cả một trăm ba mươi bài, năm mươi hai vạn chữ. Trên cơ sở các sử sách đời Hán, ông chỉnh lý, biên soạn có hệ thống, kể sâu sắc toàn bộ sự kiện lịch sử từ thời Hiên Viên đến thời Vũ Đế, suốt ba nghìn năm. Vì vậy Sử ký không chỉ là tâm huyết của Tư Mã Thiên mà còn là kết tinh trí tuệ của biết bao nhà sử học, đúng là bộ tổng tập lịch sử vĩ đại trước thời Tiền Hán. Nó vừa là cơ sở của sử học Trung Hoa cổ đại, vừa là xương sống của sự nghiệp phát triển sử học, đồng thời là bộ tổng tập nổi tiếng về lịch sử cổ đại, nên mang một giá trị chưa từng có về mặt sử học.

Những câu nói của bộ sử còn sống đến nay trong thành ngữ

Nhiều câu chữ trong bộ sử đã thoát khỏi mặt giấy và đi vào lời ăn tiếng nói của muôn đời.

Trong Sử ký có nhiều câu hay được truyền tụng mãi. Câu "Tiền sự bất vong, hậu sự chi sư" lấy từ Tần Thủy Hoàng bản kỷ, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc rút bài học lịch sử đối với sự hưng vong của đất nước. Tạm dịch: nhớ kỹ việc trước, sẽ nên việc sau.

Trung ngôn nghịch nhĩ lợi vu hành, độc dược khổ khẩu lợi vu bệnh.

Câu này lấy từ Lưu Hầu thế gia: lời nói thẳng, nói thật thường khó nghe nhưng có ích cho người nghe, cũng như thuốc hay trị bệnh thì đắng miệng, khó uống. Người đời nói "thuốc đắng dã tật".

"Dạ văn Hán quân tứ diện giai Sở ca" lấy từ Hạng Vũ bản kỷ: trong trận ở Cai Hạ, Hạng Vũ nghe đêm xuống bốn bề vang lên khúc ca nước Sở, biết mình bị bao vây. Người sau dùng thành ngữ "tứ diện Sở ca" để chỉ tình thế bị địch vây chặt.

"Thất chi hào ly, sai chi thiên lý", lấy từ bài tự thuật của Thái sử công, nghĩa là từ một lỗi nhỏ có thể gây ra sai lầm lớn, tạm dịch: sai một ly đi một dặm.

"Hiệp thiên tử dĩ lệnh thiên hạ, thiên hạ mạc cảm bất thính" lấy từ Trương Nghi liệt truyện, là gốc của thành ngữ nói về quyền thần khống chế vua, mượn danh nghĩa Thiên tử để ra lệnh cho cả thiên hạ.

"Đào lý bất ngôn, hạ tự thành khê" lấy từ Lý tướng quân liệt truyện: cây đào, cây mận không nói, nhưng người đến hái quả nhiều nên dưới gốc thành lối mòn. Câu ví người thật sự có công thì không cần nói, người đời vẫn biết đến.

"Thị cố quân tử dĩ nghĩa tử nan, thị tử như quy", lấy từ Phạm Thư Thái Trạch liệt truyện, là gốc của thành ngữ "thị tử như quy": người anh hùng nơi chiến trận không sợ hy sinh, coi cái chết nhẹ nhàng như trở về nhà mình, nhẹ tựa lông hồng.

"Thí do cư cao ốc chi thượng kiến linh thủy dã" lấy từ Cao Tổ bản kỷ, gốc của thành ngữ "cao ốc kiến linh": như đổ nước từ nóc nhà xuống, hình dung thế mạnh không gì ngăn nổi, quân đi như tháo nước.

"Thần thỉnh hoàn bích quy Triệu" lấy từ Liêm Pha Lạn Tương Như liệt truyện, kể việc Lạn Tương Như quyết chí vì nghĩa, dù phải hy sinh thân mình, rốt cuộc đòi lại được ngọc Hòa thị, giữ quyền lợi cho nước Triệu. Người sau dùng "hoàn bích quy Triệu" để chỉ việc trả của về chủ, của ai nấy dùng.

"Nhất tự thiên kim" lấy từ Lã Bất Vi liệt truyện: Lã Bất Vi treo thưởng nghìn lạng vàng cho ai sửa được tác phẩm Lã thị Xuân Thu của ông, dù chỉ một chữ. Về sau thành ngữ dùng để khẳng định trình độ cao siêu về ngôn từ, văn chương, nghĩa là một chữ đáng nghìn vàng.

"Chỉ lộc vi mã" lấy từ Tần Thủy Hoàng bản kỷ: Nhị Thế nhà Tần cười hỏi, Thừa tướng nhầm sao, gọi con hươu là con ngựa. Quyền thần Triệu Cao muốn làm loạn nên cố ý bảo con hươu là con ngựa để thử lòng người, và ai không nói theo đều bị hãm hại. Người đời sau dùng tích ấy để chỉ việc ngang nhiên đổi trắng thay đen, bóp méo sự thật.

"Trí giả thiên lự tất hữu nhất thất, ngu giả thiên lự tất hữu nhất đắc" lấy từ Hoài Âm Hầu liệt truyện, nghĩa là dù tài giỏi cũng có lúc sai, dù ngu cũng có lúc đúng, tạm dịch: nhân vô thập toàn.

"Vô lập chùy chi địa" lấy từ Hóa thực liệt truyện, nghĩa là không có tấc đất cắm dùi, người sau dùng để chỉ cảnh không có chỗ dung thân.

Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa, tập 2, thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện