Bài tổng quan
Lời thề Cam, Thang, Mục và cuộc dời đô của Bàn Canh
Mặt trời kia bao giờ diệt? Ta xin cùng ngươi chết chung. Đó là lời kêu của trăm họ nước Hạ nguyền rủa vua Kiệt, và vị vua đầu nhà Thương nghe thấy nó trước khi ra quân. Từ cánh đồng Cam đến đất Mục Dã, những lời thề ấy đã mở và đóng nhiều triều đại…
Cam thệ: lời thề ở cánh đồng Cam và cuộc tranh ngôi đầu tiên
Cam Thệ là lời thề của vua răn dạy quân sĩ khi xuất chinh. Cam là tên một địa danh gần nước Hộ, nơi Khải, con của Đại Vũ, đóng quân sau khi lên ngôi. Hữu Hộ không phục Khải, bèn cất quân đánh, hai bên giao chiến ở đất Cam, và Khải huấn dụ tướng sĩ. Hữu Hộ cho rằng Nghiêu, Thuấn đều truyền ngôi cho người hiền, nay Khải một mình chiếm ngôi vị nên họ đứng lên phản kháng. Từ đó mở màn cuộc đấu tranh quyền lực giữa chế độ nhường ngôi và chế độ cha truyền con nối, đồng thời mở ra những cuộc tranh giành đẫm máu giữa con thứ và con đích về quyền ngôi vua.
Chép rằng Khải và Hữu Hộ đại chiến ở cánh đồng Cam, bèn triệu tập sáu quan khanh. Vương nói: "Này, những người coi giữ lục sự, ta nói với các ngươi. Hữu Hộ trái với quy luật tự nhiên của ngũ hành, coi thường trật tự tam chính là thiên, địa, nhân; trời muốn tuyệt mệnh nó, nay ta thay trời hành đạo. Quân bên trái chiến xa nếu không dùng tên bắn chết địch là các ngươi không tuân mệnh lệnh; quân bên phải không dùng mâu đâm chết địch là các ngươi không tuân mệnh lệnh; người đánh xe không giữ ngay ngắn hàng ngũ cũng là không tuân mệnh lệnh. Ai chấp hành thì thưởng trước linh vị tổ tiên, ai không chấp hành thì giết ở miếu thờ xã tắc."
Ý là Khải và Hữu Hộ quyết chiến ở đất Cam, sử quan chép lại tình thế trước trận. Khải triệu tập tướng sĩ sáu quân, chỉ trách Hữu Hộ trái quy luật vũ trụ, không đúng với tam tài, nên trời sẽ cắt đứt quốc vận của họ. Ta sẽ vâng thiên mệnh mà cất quân thảo phạt. Các tướng sĩ dùng cung tên hay giáo mác, kỵ binh, hễ chấp hành mệnh lệnh, dũng cảm xung phong thì ta ban thưởng. Còn trái mệnh lệnh thì ta sẽ giết hoặc biếm xuống làm nô lệ.
Thang thệ: mặt trời kia bao giờ diệt
Đây là lời động viên của vị vua đầu tiên nhà Thương trước khi ra quân đánh Kiệt. Hạ Kiệt là vị vua cuối cùng của triều Hạ, hoang dâm vô độ, bạo ngược hung tàn, khiến vận nước suy vi, dân oán thán, nên Thang khởi binh đánh. Thang Thệ do sử quan chép lại. Y Doãn phụ giúp Thang đánh Kiệt, đưa quân từ đất Nhi lên đánh nhau với Hạ Kiệt ở đất Minh Điều.
Vua Thành Thang nói: "Các ngươi hãy đến đây, chú ý nghe lời ta. Chẳng phải ta nhỏ mà dám làm loạn với bề trên, mà vì Hạ Vương phạm nhiều tội, mệnh trời muốn diệt ông ấy. Nay các ngươi sẽ nói: vua của chúng ta không quan tâm tới chúng ta, bỏ việc đồng áng mà dấy binh đánh nhà Hạ, vì sao vậy? Dù ta có nghe lời kêu oán của các ngươi, nhưng vì Hạ Vương có tội, ta e ông trời nổi giận, chẳng lẽ lại không đi đánh? Nay các ngươi lại sẽ hỏi tội của Hạ Vương thế nào. Hạ Vương đày ải dân chúng, bóc lột sức dân tàn khốc, dân biếng nhác thường than: ông mặt trời kia, bao giờ mới lặn? Chúng tôi xin cùng chết với ông. Đức của nhà Hạ như vậy, nay ta phải đưa quân đi. Ta mong các ngươi tận tâm phù trợ ta cùng thay trời hành đạo, ta sẽ trọng thưởng; các ngươi chớ không tin, ta hứa không nuốt lời. Còn nếu không tuân lời thề, ta sẽ nghiêm minh trừng phạt, không có ngoại lệ khoan hồng."
Ý nghĩa lịch sử của việc Thương Thang đánh Hạ Kiệt là mở đầu cho cảnh kẻ dưới đứng lên đánh kẻ trên, là tấm gương đầu tiên của việc thảo phạt bạo quân, và là biểu tượng của chiến tranh chính nghĩa trong lịch sử Trung Quốc. Câu nổi tiếng trong đó là lời sau, vốn là tiếng kêu của trăm họ nước Hạ cầu mong và nguyền rủa Hạ Kiệt.
Thời nhật hạt táng? Dư cập nhữ giai vong.
Mặt trời kia bao giờ diệt? Ta xin cùng ngươi tiêu vong.
Bàn Canh dời đô: cùng ngồi một thuyền
Thiên Bàn Canh là văn tích do các sử gia sưu tầm được. Sử ký – Ân bản kỷ chép rằng trăm họ nhờ Bàn Canh mà làm ra ba thiên Bàn Canh. Bàn Canh là con của Tổ Đinh nhà Thương, vua đời thứ hai mươi của đại Thương. Ông có tầm nhìn chiến lược khác thường: sau khi lên ngôi, ông dời kinh đô nhà Thương từ đất Am (nay là Khúc Phụ, Sơn Đông) sang đất Ân (nay là An Dương, Hà Nam). Cuộc dời đô, dời dân ấy giúp tránh thủy tai, ổn định lòng người và phát triển kinh tế. Thiên này là lối văn hồi ức của đời sau ghi lại những lời cáo dụ, động viên của Bàn Canh với thần dân, chia làm ba thiên thượng, trung, hạ. Hai thiên đầu khuyên răn bề tôi, thiên hạ là lời cáo dụ với trăm họ.
Lời ông nói đại ý: nay ta định dời đô để an định quốc gia, mà các ngươi không lo cho nỗi khốn khó của dân, lại không bàn bạc với ta, không kính cẩn cảm động ta, chỉ tự chuốc khổ cho mình, như ngồi thuyền mà không chịu sang sông, thuyền mục không chở nổi, nếu cố sẽ chìm. Chẳng ai chịu xem xét nguyên nhân mà tự mình khó chịu, sao khỏi được? Các ngươi không lo xa mà nhớ lại tai họa đã qua, chỉ tận tình lo nghĩ chuyện hiện có, nếu mai kia mất đi thì các ngươi sống ra sao? Nay ta lệnh cho tất cả các ngươi cùng ta một lòng, nếu không thì không bẩn cũng tự hôi, sợ rằng con người dựa vào bản thân mà sinh ra ở lòng. Ta thay đổi để duy trì là thuận mệnh trời, chứ há ta dùng uy để ép các ngươi, đó chẳng qua là để nuôi dưỡng các ngươi.
Ý đoạn kinh này: Bàn Canh khuyên răn những thần dân không muốn dời đô. Dời đô là vì sự an định và hưng vượng của quốc gia, mọi người nên hiểu nỗi khổ của ta. Nay quân dân cũng như cùng ngồi một thuyền, nếu đồng tâm hiệp lực thì khó khăn nào cũng làm tốt, nếu không hợp tác thì sẽ chìm thuyền. Các ngươi không lo tính xa, không nghĩ đến tai họa, không tìm cách thoát khỏi hiểm khốn mà lại yên phận nơi ưu hoạn; có được hôm nay sao chắc có ngày mai, trăm họ sẽ sống ra sao. Ta lệnh các ngươi đồng tâm một lòng, đừng để lời xấu dèm pha; ta phải nhờ trời xanh cứu các ngươi để quốc gia hưng vượng, dân yên.
Sau khi Bàn Canh dời đô, nhà Thương thoát cảnh thủy tai, đời sống nhân dân bắt đầu ổn định, kinh tế phát triển, nhà Thương bước vào thời trung hưng. Ý nghĩa lịch sử to lớn của việc này không chỉ là chuyện hưng suy của nhà Ân, mà là Ân Thương dần trở thành trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị của Trung Quốc, thúc đẩy sự phát triển của Trung Nguyên và khẳng định sự thống nhất của vùng đất này, ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của xã hội cổ đại Trung Quốc. Bàn Canh dời đô sang đất Ân là hành động tiên phong của thời đại.
Mục thệ: trận Mục Dã và con gà mái gáy sáng
Vị vua cuối cùng của nhà Thương là vua Trụ, ông vua bạo tàn, hoang dâm, sủng ái Đát Kỷ, giết hại trung thần, khiến đất nước suy vong. Sau khi Chu Văn Vương mất, Chu Vũ Vương kế vị, tiếp tục sự nghiệp diệt nhà Ân. Sau buổi minh ước ở Mạnh Tân, chư hầu rầm rộ hướng về nước Chu. Lúc vua Trụ làm mất lòng dân, quần thần quay giáo, người thân lìa tan, Vũ Vương cho rằng thời cơ diệt Trụ đã chín. Năm 1066 trước Công nguyên, hai bên quyết chiến ở đất Mục Dã. Vua Trụ vội gom được bảy mươi vạn người chống lại, nhưng thấy rõ thất bại, bèn tự vẫn ở Lộc Đài, ái phi Đát Kỷ cũng bị giết. Từ đó nhà Tây Chu phồn vinh đánh bại và lật đổ triều Thương đã suy bại, hư hỏng. Thiên Mục Thệ nổi tiếng chính là bản chép trận đại quyết chiến giữa hai thế lực cũ và mới.
Chu Vũ Vương xuất động ba trăm chiến xa, ba nghìn dũng sĩ, đánh nhau với quân Thương ở Mục Dã. Trời mờ sáng ngày giáp tý, Vũ Vương dẫn quân đến Mục Dã sát thành đô nhà Thương, cử hành nghi thức thệ sư. Tay trái ông cầm búa lớn màu vàng, tay phải cầm cờ đuôi trâu màu trắng để chỉ huy toàn quân. Ông nói: "Vất vả xa xôi thay, những người từ phương Tây đến!" Rồi nói: "Các vua, các đại thần như Tư đồ, Tư mã, Tư không, Á lữ, Sư thị, Thiên phu trưởng, Bách phu trưởng, cùng các nước Dung, Thục... hãy giơ giáo, bày thuẫn, dựng mâu lên, ta sẽ nói lời thệ sư."
Vũ Vương lại nói: "Người xưa có câu: gà mái không gáy sáng, nếu gà mái gáy sáng thì nhà ấy sắp lụi bại. Nay vua Thương chỉ nghe lời đàn bà, bỏ phế việc tế tự tổ tiên, không đoái hoài đến lễ tế, coi khinh anh em dòng họ không dùng, nhưng với kẻ trọng phạm thì lại tôn sùng, tín nhiệm, trọng dụng, để chúng đảm nhiệm những chức đại phu, khanh sĩ trọng yếu. Nay ta thi hành nghiêm túc, thay trời trừng phạt. Việc chiến sự hôm nay yêu cầu không được kẻ đi sáu bước người đi bảy bước, mà phải dừng lại đợi nhau, hàng ngũ chỉnh tề. Các tướng sĩ hãy gắng lên! Nếu các ngươi không hết mình tiến lên, ta sẽ trừng phạt!"
Ý đoạn văn: vào thế kỷ mười một trước Công nguyên, Vũ Vương dựng ba trăm chiến xa, ba nghìn dũng sĩ đánh nhau với vua Trụ ở Mục Dã. Mờ sáng ngày giáp tý trước lúc lâm trận, toàn quân tập trung ở Mục Dã làm lễ thệ sư. Vũ Vương tay cầm búa vàng, tay cầm cờ lệnh nói: hãy giơ giáo, bày thuẫn cho chỉnh tề, dựng mâu lên để ta bắt đầu tuyên thệ.
Ý nghĩa lịch sử của việc Vũ Vương phạt Ân là thế này: nước Chu từ một nước chư hầu nhỏ vùng biên của nhà Ân đã dần phát triển, "ba phần thiên hạ đã có hai phần". Về sau khởi binh diệt Trụ, tiêu diệt vương triều Thương, dựng lên nhà Tây Chu cường thịnh nhất thời cổ Trung Quốc. Ý nghĩa lịch sử của nó mở ra mô hình xã hội phong kiến Trung Quốc, đẩy lịch sử vào bước ngoặt mới, đồng thời chứng minh một chân lý: thế lực mới ắt thắng thế lực cổ hủ, lạc hậu, hư bại. Nước Chu tuy nhỏ nhưng từ Chu Văn Vương đã khéo léo thi hành nền chính trị nhân đạo và nhiều biện pháp cải cách khiến nhà Chu ngày càng hưng thịnh. Ngược lại, tập đoàn thống trị của vua Trụ ngày càng hư bại, chuyên tàn bạo, xa hiền gần nịnh, khiến mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt, cuối cùng quần thần quay giáo, người thân lìa tan, nội bộ rã ra, nên Chu Vũ Vương thắng lợi. Sự diệt vong của vua Trụ nhà Thương trở thành một bài học quan trọng: quần chúng phản đối, người thân chia lìa, quân sĩ trở giáo cho thấy một thành lũy rất dễ sụp khi nội bộ mâu thuẫn.
Cuộc chiến Mục Dã thành sự kiện lịch sử trọng đại của thời cổ, được khắc trên đồ đồng nhà Tây Chu. Có câu nổi tiếng "tẫn kê vô thần": đây là một cách nói chỉ người đàn bà chuyên quyền, xuất xứ từ thiên Mục Thệ. Vũ Vương dùng lời xưa để trách vua Trụ chỉ nghe lời đàn bà; đó là một trong những tội chứng chủ yếu trong lời thề Mục Dã khi đi đánh vua Thương, và từ đó mở ra những vấn đề về mối họa phụ nữ làm mất nước trong lịch sử Trung Quốc.
Đại cáo: Chu Công đi đánh phương Đông
Đại Cáo ghi lời cáo dụ của Chu Công với cả nước trước khi xuất quân về miền đông. Sau khi Chu Vũ Vương mất, Thành Vương còn nhỏ lên ngôi, Chu Công phụ chính. Tam giám (Quản Thúc, Thái Thúc và Vũ Canh, con của vua Trụ) nhân cơ hội làm phản. Chu Công quyết định tự mình xuất quân đánh dẹp ở phương đông, trước khi đi liền chiêu tập các nước chư hầu và quan lại trong triều để khích lệ. Bài văn ghi lời Chu Công và là sử liệu quan trọng khi nghiên cứu sử nhà Chu.
Lời ông nói: "Ta nói với các vua chư hầu, các khanh đại phu, thứ sĩ, ngự sự: ta bốc được điềm lành, ta nghĩ sẽ cùng chư hầu đi thảo phạt tàn quân loạn thần. Các vua chư hầu và đại thần chớ phản đối rằng khó khăn, dân không yên. Đây thực chẳng phải việc ta muốn, nhưng ta không dám trái ý trời. Xưa Văn Vương diệt nhà Thương cũng dùng mai rùa để bói; thiên mệnh không thể coi thường, tốt nhất là thuận theo ý trời để hoàn thành sự nghiệp lớn. Ta thường suy nghĩ rằng việc ấy kinh động tới cả những người cô quả cũng bị họa lây, đau đớn thay! Nay gặp đúng lúc trời có việc, trao việc lớn nặng nhọc cho ta, ta quả thực chẳng nghĩ cho riêng mình. Nên các vua chư hầu và các khanh hãy an ủi ta, đừng lo nghĩ mà hãy tìm cách giữ cơ đồ của ông cha."
Vương nói tiếp: "Các ngươi đều là bậc lão thần, còn nhớ nhiều việc đã qua, thấy sự vất vả khó khăn đến nhường nào. Ông trời cho trải bao gian nan mới có thành công, ta không thể không gắng sức giữ yên cơ đồ của tiên vương. Ta nay khuyên các vua chư hầu, trời hẳn không phụ lời chân thành. Hãy xem dân ta, ta nào dám không yên lòng duy trì, xây dựng cơ đồ của tiền nhân mà hoàn thành đại nghiệp? Trời cũng dùng khó khăn để vỗ về dân ta. Nếu không trừ được loạn, ta sao dám nhận trách nhiệm thực hiện hảo ý của tiền nhân."
Vương lại nói: "Xưa khi cùng Vũ Vương xuất chinh, ta thường nghĩ phải nhờ những lúc gian nan. Như cha định xây nhà, đã đặt ra phương án mà con không chịu dựng nền móng, thì sao tường chắc được. Cha khai khẩn đất mà con không chịu gieo hạt thì sao thu hoạch. Người cha coi trọng sự nghiệp của mình hẳn sẽ nói: con cháu ta chớ bỏ nền móng. Nên ta nào dám bỏ đại mệnh mà tiên vương để lại. Nếu như cha các anh mất, lại có bạn cũ đến đánh các anh, bề tôi của các anh há lại ngăn trở không cứu?"
Ý đoạn trên: sự nghiệp khai sáng của Văn Vương chúng ta nhất định phải hoàn thành; cũng như Văn Vương, Vũ Vương xưa đánh Trụ, chúng ta nhất định phải tham gia. Nếu không thì như người cha xây dựng cơ đồ mà người con đem phá, cha khai khẩn mà con chẳng gieo trồng, người cha sẽ trách sao phá hỏng sự nghiệp của ta. Vì vậy phải hoàn thành sứ mệnh của tiền nhân.
Ý nghĩa lịch sử của việc Chu Công đông chinh là bình định được phản loạn, củng cố nền thống trị của nhà Chu, và có tác dụng quan trọng với việc thống nhất Trung Quốc. Sự ổn định của chính quyền đem lại kết quả phát triển kinh tế, văn hóa của nhà nước Tây Chu phồn thịnh nhất, và đặc biệt trong lịch sử Trung Quốc, trong giai đoạn đầu của xã hội phong kiến, nó đã phát huy tác dụng đầy đủ tính lịch sử.
Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa, tập 2, thuật lại có lược bớt.
