Chuyển đến nội dung chính
Quay lại Khuyên Thiện

Bài tổng quan

Lời chửi của kẻ dưới, giọng đạo đức giả của người trên

Đạo Học - Khuyên Thiện03/10/202612 phút đọc4 lượt đọc
Lời chửi của kẻ dưới, giọng đạo đức giả của người trên

Một a hoàn hầu hạ chủ mười mấy năm bị tát vào mặt, rồi nhảy xuống giếng. Ít hôm sau, bà chủ nhỏ lệ mà bảo nó phẫn chí. Còn ở tầng thấp nhất, một lão nô say rượu lại là người nói đúng hơn ai hết…


Ngôn ngữ của cả một xã hội, từ quý tộc đến người nhà quê

Hồng lâu mộng là một tác phẩm hiện thực lớn, có ngôn ngữ xã hội rất phong phú, bao gồm tiếng nói của nhiều giai tầng: quý tộc, bình dân, văn nhân, người nhà quê, ông chủ, đầy tớ, tăng lữ, đạo sĩ. Có lời thanh nhã của quý tộc, có cách nói tục tĩu của dân chợ, có thổ ngữ Bắc Kinh và tiếng địa phương, tất cả đều được đưa vào. Vì thế có thể gọi bộ truyện là một bộ bách khoa toàn thư ngôn ngữ xã hội.

Giá trị lớn của việc xã hội hoá lời nói nhân vật là ở chỗ văn học là văn học của nhân dân, mãi mãi vì đại chúng; có như thế mới được nhân dân hoan nghênh, mới có sức sống bất hủ. Tuy có thơ phú văn từ nhã nhặn, ngôn ngữ chủ thể của Hồng lâu mộng là văn bạch thoại thông dụng, xã hội hoá, và đó cũng là nguyên nhân làm bộ truyện được lưu truyền từ đời này sang đời khác.

Lời nói sinh ra từ đời sống thật

Câu chữ chỉ giống thật khi nó còn mang hơi ấm của bếp, của chợ, của mâm cơm trong nhà.

Sở dĩ ngôn ngữ của truyện như thật là vì nó bắt nguồn từ đời sống hiện thực nên thấm đẫm hơi thở cuộc sống, và đó là cái gốc để xã hội hoá ngôn ngữ. Già Lưu được tả sống động như thật vì lời bà tràn đầy màu sắc đời sống. Khi bà vào vườn Đại Quan ở hồi thứ 39, câu nào cũng đầy thực tiễn: bà đứng dậy nói to "già Lưu, già Lưu, ăn khoẻ như trâu, ăn phàm như lợn, không hề ngẩng đầu", và mọi người trước còn ngẩn ra, sau nghĩ ra thì trên dưới cười ầm. Đến đoạn uống tửu lệnh cùng Uyên Ương, Uyên Ương nói "hợp vào thành một cành hoa", bà xoa hai tay đáp "đến khi hoa rụng lại là quả dưa". Phượng Thư và Uyên Ương đã bàn trước, lấy ra một đôi đũa ngà cũ vuông bốn cạnh bịt vàng đưa cho bà. Bà nhìn thấy nói: cái nạng này còn nặng hơn cả cái xẻng của nhà chúng tôi, thế này thì cầm sao được. Mọi người nghe thế cười ầm lên.

Ngôn ngữ xã hội của truyện tuy lấy chất liệu ở cuộc sống thật, nhưng không chuyển nguyên xi mà đã qua sự tinh luyện nghệ thuật, nên sâu lắng; dù từ miệng nhân vật lớp dưới nói ra cũng khác thường. Như câu "người chỉ biết lo việc, còn được hay không là nhờ trời", hay câu "cửa nhà quan sâu như bể" được nói ra từ miệng một người đàn bà nhà quê như già Lưu.

Gia đình là tế bào của xã hội, và một bộ tiểu thuyết phản ánh xã hội không thể rời ngôn ngữ gia đình. Hồng lâu mộng là bộ tiểu thuyết tiếp sau "Kim bình mai" lấy gia đình làm cơ sở; Giả phủ là đại gia đình chủ yếu, bao hàm nhiều gia đình nhỏ, ngoài ra còn có nhà họ Tiết, họ Sử, họ Vương. Phần lớn tình tiết triển khai ngay trong nhà, nên lời nói trong gia đình rất nhiều và rất hay: tiệc tùng, cưới hỏi, ma chay, chia nhà, tịch thu nhà, khám nhà, ly biệt; dù là đời sống thường ngày hay có tình tiết, tất cả đều rất thật, có hương vị đời sống.

Hồi 107, sau khi Giả phủ bị tịch biên, của cải mất hết, Giả Mẫu mở rương đổ hộp, lấy ra hết đồ vật dành dụm từ khi làm dâu đến nay, rồi gọi bọn Giả Xá, Giả Chính, Giả Trân đến chia cho từng phần rõ ràng: nhà cửa thì ở chung, cơm nước thì ăn riêng. Phân phát xong, bà nói với Giả Chính: anh cũng là con ta, ta không hề thiên vị; Bảo Ngọc đã nên cửa nên nhà, vàng bạc và đồ vật còn lại đây đều để cho nó; vợ cháu Châu xưa nay ăn ở hiếu thuận, thằng chắt Lan cũng tốt, ta cũng chia cho mẹ con nó ít nhiều, thế là công việc của ta xong xuôi. Bọn Giả Chính thấy bà phân xử sáng suốt như thế đều quỳ xuống khóc, nói: mẹ tuổi già như thế, chúng con chưa có gì hiếu thuận, giờ đây lại chịu ơn của người thế này, thật chúng con lấy làm xấu hổ. Đó là lời chia nhà, mang tính xã hội rất phổ biến, cho thấy ngôn ngữ truyện có nền móng xã hội sâu đậm.

Lời chửi của kẻ dưới

Khi người ta không được quyền nói, những câu họ buông ra lúc chửi đổng lại là những câu thật nhất.

Trong hơn bốn trăm nhân vật, đa số thuộc tầng lớp dưới, và lời nói của họ cũng phong phú nhất: lời đầy tớ, lời bình dân, không chỉ lời thường ngày mà đặc biệt đáng quý là rất nhiều lời phản kháng, lời bừng tỉnh, lời vạch tội ác, làm thăng hoa tính tư tưởng của bộ truyện. Lời chửi mắng là một phần rất xuất sắc, tuy không thanh nhã nhưng có ý rất sâu.

Tiều Đại chửi đổng: tao phải đến từ đường khóc với cụ tổ, ai ngờ bây giờ lại đẻ ra những giống súc sinh này, hàng ngày trộm gà bắt chó, nào "tiểu thúc" nào "ba hôi", tao lại không biết à (hồi thứ 7). Liễu Tương Liên chửi: trong Giả phủ "ngoài hai con sư tử đá ra, dù con mèo con chó cũng chẳng còn trong sạch nữa" (hồi thứ 68). Dì Triệu mắng: cô cứ yên tâm, việc này không phải tiêu tiền của cô đâu; sau này cô đi lấy chồng, tôi còn mong gì cô nhìn ngó đến nhà họ Triệu nữa; bây giờ chưa mọc lông cánh mà đã quên mất gốc, chỉ chực chọn cành cao mà bay thôi (hồi thứ 55). Uyên Ương mắng chuyện hôn nhân: lòng cháu đã lạnh tắt rồi, cháu nói trước mặt mọi người ở đây, đừng nói là "Bảo Ngọc", dù "Bảo Kim", "Bảo Ngân", "Bảo Thiên Vương", "Bảo Hoàng đế" nào nữa, cháu cũng chẳng lấy (hồi thứ 46).

Gia đồng chửi chủ: thằng Hưng vội xua tay nói, xin mợ nhất thiết chớ sang bên ấy, suốt đời mợ không gặp mợ ấy càng hay; mợ ấy "miệng thơn thớt, dạ ớt ngâm", "đòn xóc hai đầu", trên nét mặt thì tươi cười cởi mở nhưng dưới thì ngáng chân người ta; đúng là miệng nam mô, bụng một bồ dao găm, tất cả những điều ấy mợ ấy đều có đủ (hồi thứ 65). Chị cả Ngốc, người ngốc nhưng lòng ngay thật, nói: cháu chỉ nói với chị Tập Nhân một câu, chúng ta rồi đây càng nhộn nhịp, vừa là cô Bảo vừa là mợ hai Bảo, biết gọi thế nào cho tiện; cô thử nghĩ xem, nói thế động chạm gì đến chị Trân Châu, vậy mà chị ta chạy lại tát cháu một cái, bảo cháu nói bậy, không nghe bề trên dạy bảo, định đuổi cháu đi; cháu có biết bề trên tại sao không cho nói đâu, các chị không bảo cho cháu biết lại đi đánh cháu (hồi thứ 96).

Những lời mắng ấy tuy của người tầng dưới nhưng câu nào cũng thật. Tiều Đại say rượu mà người không say, chửi bới lên những cảnh gian dâm của Giả phủ. Dì Triệu là tình máu mủ nhưng tình không thân, chửi con gái chỉ vì lợi. Uyên Ương là con nhà nghèo nhưng chí không nghèo, chửi chủ là sói già háo sắc. Vượng Nhi là gia đồng, người nhỏ nhưng tâm địa không nhỏ nhen, chửi chủ là đòn xóc hai đầu. Chị cả Ngốc người tuy ngốc nhưng lòng ngay thật, chửi cuộc hôn nhân bao biện của Giả phủ, chửi cho Đại Ngọc phải "mệnh xuống suối vàng".

Giọng đạo đức che mặt của kẻ cầm quyền

Lời của người có quyền thường dịu, nhưng càng dịu thì càng cần xem phía sau nó là gì.

Ngôn ngữ tầng lớp trên chủ yếu phản ánh lời của giai cấp quý tộc thời kỳ suy vong của xã hội phong kiến, trọng điểm là những người bảo vệ đạo đức phong kiến như Giả Chính, Giả Mẫu, Vương phu nhân, Giả Xá. Truyện diễn đạt đầy đủ thói hủ bại của Giả Xá, sự giả dối của Giả Chính, thói hư vinh của Giả Mẫu, đạo đức giả của Vương phu nhân và thói đê tiện của Giả Vũ Thôn. Nhờ gắn chặt với cá tính nhân vật nên lời nói của họ rất thật và sâu sắc.

Trong số đó, lời của Vương phu nhân diễn tả phù hợp nhất với quy luật cá tính nhân vật, ít thấy vết đục đẽo gia công. Hồi thứ 30 bà bỗng trở mình dậy, tát vào mặt Kim Xuyến và mắng: con đĩ hèn hạ này, các cậu nhà này đều bị chúng mày làm hư hỏng cả. Sau khi Kim Xuyến ôm nhục nhảy giếng tự tử, bà lại nhỏ nước mắt cá sấu và lấp liếm với Bảo Thoa: hôm nọ nó đánh vỡ của ta một cái đồ dùng, ta nóng tiết đánh nó vài cái rồi đuổi nó đi; ta chỉ định làm ra thế mấy hôm rồi lại gọi nó về, không ngờ nó phẫn chí đâm đầu xuống giếng chết; thế không phải tội lỗi ta sao. Bà bức tử Tư Kỳ, Tình Văn, căm ghét Đại Ngọc; mấy mạng người chết đều liên quan đến bà, nhưng bà vẫn được Bảo Thoa gọi là con người từ thiện, đủ thấy bộ mặt đạo đức giả. Vương phu nhân là một trong những nhân vật tầng trên được khắc hoạ thành công nhất: bộ mặt ác độc, tàn nhẫn của bà được che đậy hoàn toàn bởi lời lẽ đạo đức giả. Thói giả dối của những nhân vật này phản ánh sự thối nát và tội ác của tầng lớp trên trong xã hội phong kiến, đồng thời biểu lộ tính xã hội sâu sắc của ngôn ngữ truyện.

Lời nhã, lời tục và giọng Bắc Kinh

Cùng một cuốn truyện, có người nói bằng thơ, có người nói bằng tiếng chợ, và cả hai đều thuộc về nhau.

Ngôn ngữ của truyện rất phong phú: có lời điển nhã, gồm các từ ngữ đã gọt rũa, nhất là những đoạn văn vần, thơ, từ, khúc, phú rất hay; lại có lời dung tục bình dị, thu nhặt các loại tục ngữ, thành ngữ, tiếng địa phương, tiếng dân gian. Nghệ thuật thơ, từ, khúc, phú và tiếng Bắc Kinh đạt thành tựu cao nhất, có ảnh hưởng nhất, là một trong những thành tựu chủ yếu về ngôn ngữ của bộ truyện.

Truyện lấy tiếng Bắc Kinh làm gốc, nên cả cuốn đậm giọng Bắc Kinh, khá thông thạo; dùng tiếng Bắc Kinh làm lời đối thoại tăng được sức diễn đạt. Hồi thứ 74, Vương phu nhân xét hỏi Vương Hi Phượng việc a hoàn nhặt được túi thơm xuân ý trong vườn Đại Quan, Phượng Thư biện bạch bằng giọng Bắc Kinh, khiến Vương phu nhân "nghe cũng có lý" nên chẳng nói gì. Nàng vừa tức vừa thẹn, quỳ xuống, ứa nước mắt kêu van: mẹ nói có lý thực, con không dám cãi, nhưng con không hề có thứ này, xin mẹ nghĩ kỹ cho; cái túi thơm này ở bên ngoài, họ bắt chước kiểu trong nhà mà thêu ra; con tuy còn trẻ không biết giữ gìn, nhưng không khi nào cần những thứ này; hơn nữa đây cũng không phải thứ thường đeo, dù có chăng con cũng giấu chỗ kín, chứ khi nào lại đem trong người đi chơi khắp nơi; những người trong này con còn trẻ thật, nhưng nhiều đứa hầu còn trẻ hơn con, họ thường đi lại trong vườn, biết đâu không phải của họ đánh rơi; đôi khi không trông nom xuể, chúng lén ra ngoài được, hoặc kiếm cớ tán tỉnh bọn trẻ canh cửa ngoài rồi từ ngoài đưa vào cũng chưa biết chừng; không những con không hề làm việc này mà cả Bình Nhi cũng có thể bảo đảm; xin mẹ xét kỹ cho. Tiếng Bắc Kinh của truyện làm mẫu mực cho việc dùng giọng Bắc Kinh để viết văn học, có tác dụng tích cực trong việc phổ cập tiểu thuyết khắp Nam Bắc.

Tiếng cười nhẹ như không mà thấm

Có những câu đùa không đập vào người nghe, chỉ lặng lẽ để lại một vết cười rất lâu.

Hồng lâu mộng xứng đáng là kho tàng ngôn ngữ, trong đó nghệ thuật khôi hài cũng rất nổi trội. Khôi hài thuộc loại phóng đại mềm, khác hẳn phóng đại cứng: nó khiến người ta biết nên giữ gì, bỏ gì một cách nhẹ nhàng, không phải bị đập đánh căng thẳng. Ngôn ngữ khôi hài trong truyện nhẹ nhàng, thú vị, có giá trị nghệ thuật cao.

Nó thường hoà với lời dân gian có nhiều tục ngữ, và được nói ra từ nhiều người. Hưng Nhi hình dung Đại Ngọc và Bảo Thoa ở hồi thứ 65: ai nấy vẫn phải nín thở, vì sợ thở mạnh quá sẽ làm ngã mất cô Lâm, thở nóng quá sẽ tan mất cô Tiết. Hưng Nhi còn nói đùa với chị hai Vưu, nhận xét Lý Hoàn và ba cô gái rất khôi hài: bà goá nhà chúng cháu có biệt hiệu là "đại bồ tát", là người phúc hậu bậc nhất; cô hai thì gọi đùa là "hoa hồng".

Đoạn già Lưu uống tửu lệnh với Uyên Ương cũng hết sức thú vị:

Uyên Ương: Giữa quân "tam tứ" đỏ xanh,
Già Lưu: Sâu trên đống lửa cháy thành ra tro.
Uyên Ương: Bên phải "yêu tứ" đẹp thay,
Già Lưu: Bó bửa củ củi, bó này tôi tươi.
Uyên Ương: Hợp vào thành một cành hoa,
Già Lưu: Đến khi hoa rụng lại là quả dưa.

Ngôn ngữ khôi hài như vậy có thể nói là tuyệt.

Nguồn: Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 2 (Dương Lực), thuật lại có lược bớt.

Kiều Oanh Trần

Tác giả

Kiều Oanh Trần

Nghiên cứu Mệnh lý - Tử vi - Tâm lý học

Theo dõi trên Facebook

Chia sẻ bài viết

FacebookXLinkedInZalo
Quay lại Khuyên Thiện