Bài tổng quan
Khang Hy, vị đại đế sáu mươi mốt năm và câu đố người nối ngôi
Một đứa trẻ tám tuổi được đặt lên ngai vàng, và sáu mươi mốt năm sau, người ta vẫn gọi ông là đại đế. Nhưng cái đêm ông nhắm mắt ở Sướng Xuân viên lại trở thành câu đố chưa ai giải được…
Mục lục · 7 phần
- 01Cậu bé tám tuổi lên ngôi và mưu bắt Ngao Bái
- 02Đắp đê, khai khẩn, mở cửa biển cho dân sống
- 03Ba cuộc dẹp loạn giữ nguyên bản đồ nước
- 04Cho người Mãn người Hán chung một đẳng cấp
- 05Nho học, kinh điển và nỗi đau của văn tự ngục
- 06Cái chết đêm Sướng Xuân viên: di chiếu thật hay giả
- 07Sai lầm cuối đời: ba lần lập, ba lần phế thái tử
Cậu bé tám tuổi lên ngôi và mưu bắt Ngao Bái
Khang Hy tên Huyền Diệp, con thứ ba của vua Thuận Trị, là hoàng đế thứ hai của nhà Thanh. Ông lên ngôi lúc tám tuổi, tại vị sáu mươi mốt năm, từ 1661 đến 1722. Vì còn nhỏ, vua cha trước khi mất để lại di mệnh cho bốn đại thần là Sô Ni, Tô Khắc Sa Ha, Át Tất Long và Ngao Bái cùng phụ chính. Mười bốn tuổi ông bắt đầu tự điều hành việc nước nhưng luôn bị phe Ngao Bái ngang ngược lộng quyền kìm kẹp. Ông liền hạ quyết tâm, dùng mưu bắt giam Ngao Bái, dẹp luôn những kẻ đồng phe, lúc ấy mới có thực quyền trong tay.
Đắp đê, khai khẩn, mở cửa biển cho dân sống
Khang Hy hiểu rất sâu rằng nông nghiệp là gốc dựng nước, diện tích ruộng tăng hay giảm phản ánh một xã hội đang lên hay xuống. Ông khuyến khích khai khẩn đất hoang, ai có công lớn trong việc ấy thì được thăng quan, nghiêm cấm rào ruộng riêng để khỏi lập trang trại tư, đồng thời công nhận quyền sở hữu ruộng của nông dân và địa chủ vừa, nhỏ, nhờ vậy dân tích cực làm ăn.
Ông cũng coi trị thủy ngang với dẹp giặc. Hoàng Hà chảy qua Trung Nguyên vừa đem lợi cho hai bờ, vừa hằng năm đem lũ lụt. Ông cử Cận Phụ làm tổng đốc trị thủy, một viên tổng công trình sư lo đê điều, mười năm đắp đê để đưa Hoàng Hà, Hoài Hà về dòng cũ. Tổng cộng sáu lần ông đi tuần thị sát các công trình trị thủy, nhiều lần dự bàn phương án. Ông còn cho tu bổ sông Hồn gần Bắc Kinh, sau đổi tên là sông Vĩnh Định, giữ yên kinh thành. Sau khi lấy lại Đài Loan, ông bãi lệnh cấm biển, cho phép thông thương với hải ngoại, cho ra khơi đánh cá, làm muối, thương nghiệp nhờ đó phát triển mạnh.
Ba cuộc dẹp loạn giữ nguyên bản đồ nước
Khang Hy là vị vua đầu tiên được gọi là đại đế, và thành tích nổi bật là dựng nên thời Khang Càn thịnh trị cùng xác định bản đồ nước Trung Hoa cận đại.
Việc thứ nhất là dẹp Tam Phiên. Đó là ba viên tướng bị triều Thanh phong vương vì công trấn áp những cuộc nổi dậy: Ngô Tam Quế là Bình Tây vương trấn giữ Vân Nam, Thượng Khả Hỷ là Bình Nam vương trấn giữ Quảng Đông, và cháu của Cảnh Trọng Minh là Cảnh Tinh Trung là Tĩnh Nam vương trấn giữ Phúc Kiến. Cả ba có quân riêng, mỗi người chiếm một cõi, uy hiếp triều đình. Khi Khang Hy hạ lệnh bãi đất phong, Ngô Tam Quế khởi binh, quân chủ lực tiến lên phía bắc vào Hồ Nam, Cảnh Tinh Trung đem quân phối hợp. Sau tám năm gian khổ, chiến tranh trải rộng mười tỉnh mới dẹp yên. Ngô Tam Quế dù giương cờ "chống Thanh phục Minh" cũng không được lòng dân, vì ông ta từng là kẻ trấn áp các cuộc nổi dậy của nông dân, và cuộc loạn lại xảy ra đúng lúc nhà Thanh đang thịnh, dân đã yên nghiệp.
Việc thứ hai là thu hồi Đài Loan. Khang Hy sai thủy sư đô đốc Phúc Kiến là Thi Lang dẫn hai vạn quân, hơn hai trăm chiến thuyền đánh Đài Loan, rồi lập bộ máy chính quyền ở đây và điều quân trấn giữ để đề phòng thực dân phương Tây.
Việc thứ ba là chống ngoại xâm giữ biên cương. Ở phương bắc, ông dẫn quân đánh lui quân Nga ở Hắc Long Giang, sau đó ký với Nga điều ước Nê Bố Sở để định mốc biên giới. Ở phía tây, ông đánh tan quân của thủ lĩnh Cát Nhĩ Đan, ba lần thân chinh, và cuối đời sai hoàng tử Doãn Đề đánh tan quân Chuẩn Cát Nhĩ xâm phạm Tây Tạng. Ông nhiều lần hoặc điều binh, hoặc đích thân cầm quân, giáng cho giặc ngoại xâm những đòn mạnh, giữ vững toàn vẹn lãnh thổ.
Cho người Mãn người Hán chung một đẳng cấp
Ngoài chiến công, ông còn thành công trong việc trị nước bằng văn, nhất là hòa người Mãn với người Hán để thành một khối. Ông rút bài học từ nhà Nguyên chia dân thành bốn bậc cao thấp, sinh ra chia rẽ, nên quy định người Mãn người Hán cùng một bậc. Ông nói rằng Mãn Hán đều là thần dân của trẫm, ban chỉ dụ quan chức Mãn Hán cùng chức thì quyền hạn và bổng lộc ngang nhau, chú ý chọn và dùng quan người Hán. Làm vậy xoa dịu được sự kêu ca của quan Hán, đoàn kết hai tộc, giúp họ cùng lo việc nước và giữ vững triều đình.
Nho học, kinh điển và nỗi đau của văn tự ngục
Để người Mãn người Hán chung một tư tưởng, Khang Hy bỏ nhiều thời gian truyền bá Nho học, sùng kính Khổng Tử và Chu Hy, đề cao lý học, trọng dụng các nho sĩ như học giả Lý Quang Địa. Ông biết người Hán có truyền thống trọng kinh học và thư tịch, nên mở khoa "bác học hồng nho", mời nho sinh vào biên tập, chỉnh lý lịch sử, tổ chức đông đảo học giả biên soạn kinh điển, chỉnh lý văn hiến, làm ra Cổ kim đồ thư tập thành, Khang Hy tự điển, tuyển thơ Đường và nhiều bộ khác.
Nhưng thời thịnh ấy vẫn có một đám mây đen: những vụ án văn tự, tức "chỉ vì giấy trắng mực đen mà mang họa". Đây là hành vi dùng bạo lực để kiểm soát chặt tư tưởng và văn hóa. Mầm của nó đã có từ khi Tần Thủy Hoàng đốt sách chôn học trò, nhưng ảnh hưởng kéo dài mấy nghìn năm, kìm nén và thậm chí ngăn cản sự phát triển của văn hóa Trung Hoa. Các vụ án nhắm chủ yếu vào giới trí thức, vì triều Thanh lo người Hán sẽ đứng dậy chống lại. Đến nay chưa thống kê đủ đã có bao nhiêu thư tịch lịch sử bị đốt, bao nhiêu trí thức bị giết, mức độ có thể sánh với thời Tần Thủy Hoàng. Trong tác phẩm hễ có chữ "Thanh", hoặc phân tích mặt chữ để đoán lành dữ mà tình cờ trùng với tên hiệu của Ung Chính thì đều bị quy tội cuồng ngôn, phỉ báng. Không chỉ người viết chết, mà cả những người liên đới, thậm chí người đã mất cũng không được tha. Hai vụ nổi tiếng là vụ án nhà sử học họ Trang và vụ án tập Nam Sơn của Đới Danh Thế, cả hai đều bị xử tử vì có tư tưởng yêu nhà Minh ghét nhà Thanh. Lịch sử không quên công lao của triều đại ấy, mà cũng không quên điều bất cập họ gây ra.
Cái chết đêm Sướng Xuân viên: di chiếu thật hay giả
Đêm 13 tháng 11 năm 1722, hoàng đế Khang Hy băng hà, thọ sáu mươi chín tuổi, và ngay lập tức Tứ A ca Dận Chân lên nối ngôi, tức Ung Chính. Sự kế vị này gây xôn xao dư luận. Ông vừa đi săn ở vườn thượng uyển phía nam về, thấy người khó chịu, vào Sướng Xuân viên nghỉ rồi bỗng băng hà. Hơn hai trăm bảy mươi năm sau vẫn chưa ai trả lời chắc chắn được: Ung Chính có âm mưu đoạt ngôi, hay chỉ kế vị theo di chiếu. Nếu đoạt ngôi thì cái chết của Khang Hy là một vụ mưu sát, ngược lại thì ông chỉ ốm mà mất.
Những điều khiến người ta ngờ: Thực lục ghi bằng chữ Mãn rằng giờ dần hôm ấy vua triệu bảy hoàng tử đến trước long sàng, nói Tứ A ca nhân phẩm quý trọng, tận tụy cung phụng trẫm, ắt sẽ nối ngôi. Lúc đó có Long Khoa Đa, thống lĩnh bộ quân, có mặt, còn Dận Chân đang ở ngoại ô, đến Sướng Xuân viên thì đã là giờ tỵ, và đêm đó vua băng hà. Long Khoa Đa tuyên đọc di chiếu, các hoàng tử chỉ quỳ xuống cúi đầu không nói gì. Dã sử lại chép rằng khi đọc di chiếu, Cửu A ca và Bát A ca tỏ rõ bất mãn, riêng Cửu A ca nhất định không chịu quỳ. Có nhà nghiên cứu cho rằng di chiếu mà Long Khoa Đa đọc là tự nặn ra. Dân gian còn đồn chữ "thập" trong câu "truyền ngôi Thập Tứ A ca" bị sửa thành chữ "vu", nhưng có điều lạ là sao không ghi rõ tên hoàng tử, vì chữ Hán sửa được còn chữ Mãn thì không sửa được.
Sau khi lên ngôi, Ung Chính ra sức kiểm soát dư luận, canh phòng nghiêm ngặt đêm đêm, thu lại mọi chỉ dụ của Khang Hy, ai cất giữ thì bị chém. Với em ruột cùng cha cùng mẹ là Thập Tứ A ca Doãn Đề, ông ta cực kỳ tàn nhẫn: triệu từ biên ải về kinh, tước chức đại tướng quân, đày ở nơi xa đến lúc chết. Doãn Đề vốn được Khang Hy yêu quý, tuấn tú, thông minh, văn võ song toàn, dáng vẻ và tính cách giống cha, được đặt nhiều hy vọng cuối đời và giao chức đại tướng quân dẫn quân đi dẹp loạn phía tây. Còn Ung Chính lớn tuổi hơn, chín chắn hơn, ngầm tranh ngôi mà không lộ ra mặt, tính kín đáo khó hiểu, nên Khang Hy chỉ có thể dùng chứ không thể tin hết. Về sau Long Khoa Đa bị tước hết chức quyền, tay trắng, còn Niên Canh Nghiêu thì bị ban cho cái chết, chẳng khác nào thỏ hết thì thịt chó săn.
Còn khả năng hạ độc thủ giết vua thì sao? Khi ấy Khang Hy ngoài sáu mươi tám, sáu mươi chín tuổi mà thân thể cường tráng, trước khi mất còn đi săn, chứng tỏ không có bệnh nặng. Bị ốm sau chuyến đi săn là có thể. Tuổi già bệnh nặng, gọi người con yêu từ chiến trường xa về để gặp mặt lần cuối là chuyện thường tình, chưa chắc là chuyện chọn người nối ngôi. Nhưng lệnh gọi về có thể bị Long Khoa Đa, đồng minh của Dận Chân, giữ lại không truyền đi, rồi hạ độc thủ, viết giả chiếu chỉ. Khi Doãn Đề về đến kinh thành thì Ung Chính đã ngồi vững. Nếu đúng thế thì đây là cuộc chính biến Sa Khâu thời Tần diễn lại ở triều Thanh. Khang Hy lúc xế bóng luôn lo hơn hai mươi hoàng tử sẽ gây ra cuộc chính biến cửa Huyền Vũ như thời Thái Tông, nên canh phòng kỹ lưỡng, không ngờ tránh được cảnh này lại gặp cảnh khác, phòng mà vẫn không phòng nổi.
Suy cho cùng, Ung Chính đoạt ngôi hay nối ngôi theo di chiếu, lịch sử sẽ phán xét. Ông vẫn là một hoàng đế kế thừa thời Khang Càn thịnh trị, hết lòng trị nước, thực hiện cải cách chấn chỉnh quan lại, có nhiều công tích không thể không ghi nhận. Nhưng bóng đen nghi ngờ ấy ám ảnh ông hơn hai trăm bảy mươi năm vẫn chưa tan.
Sai lầm cuối đời: ba lần lập, ba lần phế thái tử
Về già, Khang Hy tính tình thay đổi, hay đố kỵ chuyên quyền, mắc nhiều sai lầm. Ông ba lần lập thái tử rồi lại phế, các hoàng tử kết bè kéo cánh tranh ngôi ngày càng gay gắt, khiến ông rối bời không biết xử trí ra sao. Ông lo một ngày nào đó có hoàng tử giết cha và anh em để cướp ngôi như Dương Quảng nhà Tùy. Cũng vì lo ấy mà ông hao tổn tinh thần và sức lực, không còn đủ sức chấn chỉnh quan trường, quan lại khắp nơi hủ bại, tham ô như nấm độc mọc lên, ngân khố cạn dần. Sai lầm lớn nhất của ông ở những năm cuối đời là việc chọn người nối ngôi, và đó là bài học quý giá cho những vị vua đời sau.
Tính cả sáu mươi mốt năm tại vị, Khang Hy mở ra thời Khang Càn thịnh trị, xác lập bản đồ nước Trung Hoa. Ông lên ngôi lúc tám tuổi, thuở thanh niên và trung niên rong ruổi trên lưng ngựa nam chinh bắc chiến, dẹp nội loạn, đánh ngoại xâm, bảo toàn sự thống nhất của đất nước. Ông được xem là một trong những minh quân xuất sắc nhất lịch sử, xứng đáng với danh hiệu đại đế một thời của xã hội phong kiến Trung Hoa.
Nguồn: Dương Lực, Kinh điển văn hóa 5000 năm Trung Hoa - Tập 3, thuật lại có lược bớt.
